#nhanqua#phatphap#cauchuyennhanqua Trong câu chuyện kỳ án Bao Công này, chỉ vì lòng tham, hai anh em đã gây nên một tội ác rồi ngỡ rằng có thể chôn vùi sự thật mãi mãi. Sáu năm sau, nhờ Thổ Địa hiển linh, mọi bí mật cuối cùng cũng được phơi bày. Một câu chuyện dân gian sâu sắc về nhân quả và công lý.
Kênh NGẪM LỜI CỔ NHÂN chia sẻ những câu chuyện xưa và nay, giúp người nghe ngẫm lại lời người trước, hiểu thêm đạo lý làm người và quy luật nhân quả trong đời sống.
Mỗi câu chuyện là một lát cắt nhỏ của nhân tình thế thái, qua đó nhắc nhở chúng ta biết giữ mình trước danh lợi, hơn thua, và những lựa chọn quan trọng của cuộc đời.
Các tình tiết và hình ảnh trong video mang tính minh họa, có bổ sung chi tiết hư cấu nhằm tăng chiều sâu cảm xúc và tính dẫn dắt câu chuyện, với mục đích giáo dục và truyền tải bài học nhân sinh.
Mong rằng mỗi lần lắng nghe là một lần tâm được lắng lại, trí được mở ra, để sống chậm hơn, hiền hơn và tỉnh thức hơn.
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
This video presents a series of moral tales and Zen teachings focusing on karma, the dangers of hatred, and the essence of enlightenment. It covers a criminal case solved by Bao Gong, a tragic story of revenge involving a young woman named A Tú, and a Zen parable about the \"Great Way,\" collectively emphasizing living with integrity, wisdom, and natural simplicity.
Ngày xưa, cách Thành Trịnh Châu khoảng 15 dặm, có một ngôi làng nhỏ mang tên Vương Gia Thôn.
Trong làng có hai anh em họ Vương sống nương tựa vào nhau.
Giá cảnh của họ nghèo đến mức bữa đói bữa no,
quanh năm quần quật trên đồng ruộng mà cuộc sống vẫn không khá lên được.
Một hôm, người anh nhìn căn nhà sơ xác rồi thở dài nói với em,
Hai anh em mình cứ quanh quần cày cấy ở cái làng này thì e rằng cả đời cũng chẳng thể đổi đời.
Hay là lên kinh thành thử vận may, biết đâu tìm được đường làm ăn buôn bán,
kiếm chút tiền để thay đổi cuộc sống.
Người em nghe vậy cũng thấy có lý.
Hai anh em chỉ thu vội vài bộ quần áo, mang theo chút hành trang đơn sơ rồi lên đường.
Sau một ngày bôn ba, trên đường họ gặp một thương nhân đến từ Hồ Nam tên là Trịnh Tài.
Người này mang theo bên mình một túi bạc lớn, nặng chĩu,
khiến hai anh em vừa nhìn đã không khỏi xứng sở.
Trong lòng họ không hẹn mà cùng nghĩ,
chừng ấy bạc phải cày cấy biết bao nhiêu năm mới kiếm nổi.
Chính trong khoảnh khắc ấy, lòng tham vốn ngủ yên, bỗng trỗi dậy.
Hai anh em lập tức thay đổi sắc mặt, giả vờ niềm nở tiến đến bắt chuyện,
ngỏ ý muốn cùng đi chung một đoạn đường để có người bầu bạc.
Trịnh Tài vốn là người chất phác, không hề xinh lòng nghi ngờ nên vui vẻ nhận lời.
Ba người cùng nhau tiếp tục lên đường.
Đến chiều muộn, khi đi vào một vùng đồng hoang vắng vẻ,
bốn bề không một bóng người, hai anh em lặng lẽ đưa mắt nhìn nhau,
rồi khẽ gật đầu như đã ngầm thống nhất từ trước.
Ngay sau đó, họ bất ngờ lao vào đánh trịnh Tài đến chết,
cướp lấy 10 cân bạc ông mang theo bên người.
Gây án xong, để che giấu tội ác,
họ kéo thi thể đến một gốc cây thông cách đó không xa rồi vội vàng đào hố trôn xuống.
Sau khi giết người, cả hai vừa hoảng sợ, vừa thấp thỏm,
nhưng sen lẫn trong đó lại là niềm vui vì cướp được số bạc lớn.
Người anh trầm ngâm một lúc rồi nói,
mang theo 10 cân bạc thế này, quá dễ bị người khác để ý.
Nếu chẳng may bị khám xét, thì mọi chuyện sẽ bại lộ.
Chi bằng trước mắt tìm một nơi kín đáo, trôn giấu,
đợi từ kinh thành trở về rồi đào lên chia nhau.
Đến lúc ấy, sóng gió cũng đã lắng xuống, sẽ an toàn hơn nhiều.
Người em nghe xong liền gật đầu tán thành.
Hai người đưa mắt nhìn quanh, trợt phát hiện bên đường có một tấm bia chỉ đường.
Trên đó khắc ba chữ ngũ lý bài.
Họ lập tức đào một cái hố ngay dưới chân tấm bia,
cẩn thận trôn toàn bộ 10 cân bạc xuống đất,
lấp kín như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Sau đó, cả hai phủi sạch bụi đất bám trên quần áo,
cố tỏ ra bình thản rồi tiếp tục lên đường tiến về kinh thành.
Thời gian lặng lẽ trôi qua, chuyến đi ấy kéo dài dòng dã suốt 6 năm.
Đến ngày trở về từ kinh thành,
hai anh em họ vương lại đi ngang qua nơi có tấm bia ngũ lý bài năm nào.
Đêm ấy, cả hai nghỉ chân tại quán trọ Lý Gia Điếm gần đó.
Đợi đến lúc trời còn chưa kịp sáng,
họ lặng lẽ rời quán trọ, men theo con đường cũ,
tìm đến nơi từng trôn giấu số bạc.
Thế nhưng, khi lớp đất vừa được đào lên,
hai anh em đều chết lặng.
Mười cân bạc đã biến mất,
hai người đứng ngay ra như hóa đá.
Năm xưa, lúc trôn bạc,
rõ ràng bốn bề không một bóng người.
Ngoài hai anh em họ,
không thể có ai biết nơi cất giấu số bạc ấy.
Vậy thì bạc đã đi đâu?
Càng nghĩ, họ càng không cam lòng.
Càng nghĩ, trong lòng càng dâng lên nỗi út ức và nghi hoặc.
Ít lâu sau, nghe danh bào trưởng
ở phụ Khai Phong nổi tiếng sử án công minh
phá được vô số kỳ án,
hai anh em liền tìm đến Nha Môn để kiện.
Nói rằng, có người đã trộm số bạc trôn dưới bia ngũ lý bài.
Bào trưởng cầm tờ đơn lên xem,
đọc xong vừa thấy buồn cười,
vừa không biết nên giận hay nên trách.
Trong đơn kiện hoàn toàn không ghi tên bị cáo,
chỉ viết vòn vẹn rằng,
ngũ lý bài trộm bạc.
Ông khẽ nhếu mày.
Xưa nay, nào có ai đem bạc đi trôn dưới một tấm bia đá.
Lại càng không có chuyện một tấm bia biết trộm bạc.
Trong mắt bào trưởng lúc ấy,
hai người này e rằng đầu óc có vấn đề,
nên mới đến báo một vụ án kỳ quặc như vậy.
Vì thế, ông không muốn tiếp nhận vụ kiện.
Nhưng hai anh em họ vương vẫn quỳ giữa công đường,
vừa khóc lóc vừa van xin,
nhất quyết không chịu rời đi.
Bị họ quấn lấy mái, bào trưởng đành nói,
Được. Một tháng sau,
bản quan sẽ cho các người một câu trả lời.
Nghe vậy, hai anh em mới chịu lui về.
Một tháng trôi qua,
vụ án vẫn chưa có bất kỳ tiến triển nào.
Hai anh em lại tìm đến Phủ Khai Phong
để tiếp tục kêu kiện.
Lần này, bào trưởng gọi một nhà dịch
Tên Trần Thanh đến trước công đường rồi nói,
Ta giao cho người đi bắt tên trộm bạc.
Nói xong, ông đưa cho Trần Thanh
một tờ công văn.
Trần Thanh mở ra xem, vừa đọc xong
thì suýt nữa choáng váng.
Trong công văn ghi rõ, đến Lý Gia Điếm,
Trịnh Châu, truy bắt Ngũ Lý Bài.
Ông lập tức nhanh nhó thưa,
Bầm đại nhân,
Nếu là đi bắt người thì thuộc hạ
tuyệt đối không chối tử.
Nhưng Ngũ Lý Bài chỉ là một tấm bia đá,
Nó không biết đi cũng chẳng biết nói.
Thuộc hạ biết phải bắt
bằng cách nào đây?
Xin đại nhân cử người khác thì hơn.
Bào trưởng nghe xong liền đập mạnh xuống bàn,
nghiêm dọng quác.
Đây là công vụ do quan phủ giao phó.
Người dám kháng lệnh sao?
Nếu không đi, bàn quan sẽ trị
tội người vì chống lệnh.
Không còn cách nào khác, Trần Thanh chỉ đành
cắn răng nhận lệnh, lập tức lên đường
đến Trịnh Châu.
Sau khi tới nơi, ông nghỉ lại tại quán trọ
lý ra điếm. Đêm đầu tiên,
Trần Thanh ra ngồi dưới tấm bia
Ngũ Lý Bài suốt hơn nửa đêm,
chăm chú, quan sát từng động tính xung quanh,
nhưng vẫn không phát hiện được
điều gì bất thường.
Thật sự, không còn nghĩ ra cách nào khác.
Sáng hôm sau, ông mua một nén hương,
đến dưới chân tấm bia
thành tâm dân hương khẳng thổ địa.
Ông chắp tay, nhỏ giọng cầu nguyện.
Tôi vâng lệnh
bao đại nhân đến đây điều tra vụ
Ngũ Lý Bài trộm bạc.
Nếu thổ địa ra thật sự
linh thiêng, xin hãy thương tình báo mộng.
Chỉ cho tôi biết sự thật.
Đêm hôm ấy, Trần Thanh dứt khoát
trải tạm chỗ ngủ ngay dưới chân tấm bia.
Đến nửa đêm,
ông quả nhiên nằm mơ.
Trong giấc mộng, một ông lão tóc bạc,
dâu dài phơ phất, chậm dãi bước đến trước mặt
tự xưng mình chính là thổ địa
cai quản vùng đất này.
Ông lão nhìn Trần Thanh rồi chậm dãi nói
Hai tên họ vương kia
đúng là lũ khốn. Chúng làm gì
Chính hai anh em chúng đã ra
tay sát hại ông ấy để cướp của.
Thi thể của trịnh tài hiện
vẫn được trôn dưới góc cây thông phía trước.
Ông lão dừng lại một lát
rồi nói tiếp. Ta đã chuyển
10 cân bạc từ dưới bia ngũ lý bài
đến trôn cùng nơi với hải cốt của trịnh tài.
Người hãy mau đào
cả hải cốt lẫn số bạc ấy lên
mang về phủ khai phong để bao
đại nhân minh oang cho người đã khuất.
Dứt lời, bóng dáng ông lão dần
tan biến giữa màn đêm.
Trần Thanh bừng tỉnh.
Những gì vừa xảy ra trong giấc mộng
vẫn hiện rõ trong đầu ông.
Từng lời từng chữ đều không hề phai nhạt.
Sáng hôm sau, ông Nguyện của chủ quán
trọ một chiếc cuốc rồi lập tức
chạy đến góc cây thông mà thổ địa đã chỉ.
Chỉ mới đào được một lúc
lưỡi cuốc đã chạm vào vật cứng.
Tiếp tục moi lớp đất lên.
Trước mắt ông hiện ra một bộ hải cốt
đã trắng xóa theo 5 tháng.
Ngay bên cạnh là 10 cân bạc
được trôn nguyên vẹn.
Trần Thanh vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ
lập tức thu dọn hải cốt cùng số bạc
nhanh chóng trở về phủ khai phong.
Bao trưởng ngay sau đó
truyền gọi 2 anh em họ Vương đến công đường để thẩm vấn.
Thế nhưng, dù chứng cứ đã được mang về
2 người vẫn ngoan cố chối tội
nhất quyết không chịu nhận mình
từng giết người cướp của.
Bao trưởng không nhiều lời.
Chỉ sai người đặt bộ hải cốt và 10 cân bạc
ngay giữa công đường.
Đúng vào lúc ấy, giữa bầu không trung
bỗng vang lên một tiếng quát đầy oán hận.
2 anh em họ Vương
trả mạng cho ta.
Đó chính là giọng nói của trịnh tài.
Âm thanh ấy vang vọng
khắp công đường, rõ ràng đến mức
tất cả mọi người có mặt đều nghe thấy.
Ai nấy đều kinh hái,
sắc mặt tái nhợt.
Nhưng điều khiến mọi người khiếp đàm hơn cả
là bộ hải cốt đang nằm dưới đất,
bỗng từ từ tự đứng dậy.
2 anh em họ Vương vừa nhìn thấy cảnh tượng ấy
thì chân tay bùn rủn, mồ hôi lạnh
túa ra khắp người.
Mọi sự ngoan cố đều tan biến trong chóc lát.
Biết không thể che dấu thêm được nữa,
họ đành quỳ sụp xuống trước công đường,
thành thật khai ra toàn bộ tội ác
đã gây nên 6 năm về trước.
Từ lúc nồi lòng tham
ra tay sát hại trịnh tài
cho đến việc cướp 10 cân bạc
rồi trôn xác dưới gốc cây thông.
Sau khi vụ án được làm sáng tỏ,
2 anh em họ Vương bị kết tội
mưu tài hại mạng,
rồi bị giải ra pháp trường xử chém để đến tội.
Còn trịnh tài,
vì chết quá oan khuất
lại không có bất kỳ người thân nào đến nhận thi hại,
nên bao trưởng đã tự bỏ tiền mua quang tài
lo liệu việc mai táng cho ông
được mồ yên mà đẹp.
Số bạc còn lại sau đó
được sung vào công quỷ theo đúng phép nước.
Bạn bè thân mến,
câu chuyện này cho ta thấy rằng
trong mỗi con người đều tồn tại cả thiện niệm
và tham niệm.
Khi biết nuôi dưỡng lòng thiện,
cuộc đời sẽ dần an yên.
Nhưng chỉ cần một niệm tham khởi lên
mà không biết dừng lại,
nó có thể dẫn con người đi từ sai lầm này
đến sai lầm khác
cho đến khi không còn đường quay đầu.
Hai anh em họ vương
vốn không phải là những kẻ đại ác.
Họ cũng từng là những người nông dân chất phác
chỉ mong lên kinh thành
tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Thế nhưng, trước mười cân bạc của trịnh tài,
họ đã để lòng tham che mờ lương trì.
Chỉ trong một đêm,
họ đánh mất tình người,
đánh mất nhân cách,
để rồi phải sống suốt sáu năm trong nỗi bất an
và cuối cùng phải trả giá
bằng chính mạng sống của mình.
Điều đáng sợ nhất của lòng tham
không phải là khiến con người muốn có nhiều hơn
mà là khiến họ sẵn sàng làm những điều trước đây
chính bản thân
cũng không dám nghĩ tới.
Qua câu chuyện này, chúng ta càng thấm thiế rằng
mọi lựa chọn hay họa phúc trong cuộc đời
đều bắt đầu từ một ý niệm
nhỏ bé trong tâm.
Đức Phật dạy rằng,
tâm trí con người
chính là ngọn nguồn sáng tạo ra vạn sự.
Khi tâm khởi lên thiện niệm,
vạn vật xung quanh liền trở nên
ôn hòa, an yên.
Nhưng một khi sóng cuộn tham lam dâng tràn,
đó cũng là lúc con người tự dốc
cạn phước lành của chính mình.
Lòng tham giống như một chén thuốc
độc bọc đường, ban đầu cho người ta cảm giác
thỏa mãn ảo tưởng,
nhưng càng uống lại càng khát,
càng chìm đắm lại, càng dễ đánh mất
phần lương thiện vốn có.
Để rồi khi lương tri bị che mở,
con người sẽ không ngại ngần
gieo vô số nghiệp xấu.
Để rồi cuối cùng, phải tự mình
gánh chịu hậu quả đắng cay.
Trái lại, nếu biết làm chủ ham muốn,
giữ cho tâm mình ngay thẳng,
sống thật thà và không tơ hào
đến những gì chẳng thuộc về mình,
thì mỗi ngày trôi qua,
đều là một lần ta đang vun đắp
nguồn phúc đức thâm sâu cho bản thân
cùng con cháu mai sau.
Mong rằng sau câu chuyện này,
mỗi chúng ta sẽ biết trân trọng
những gì mình đang có, sống lương thiện,
làm việc bằng chính sức lao động của mình
và luôn gìn giữ
một tâm hồn trong sạch.
Bởi bình an của một đời người
không đến từ việc có bao nhiêu tiền bạc,
mà đến từ việc mỗi đêm đều có thể ngủ ngon
với một lương tâm không hổ thẹn.
Đó mới là tài sản quý giá nhất
mà không một của cái nào trên thế gian
có thể mua được.
Người phụ nữ đang ngồi sổm
trên phiến đá xanh bên bờ sông,
cặm cụi vò từng chiếc áo
dưới dòng nước lạnh.
Bỗng nhiên, từ phía sau lưng có một đôi tay
lặng lẽ vươn tới.
Cô còn chưa kịp ngoành đầu nhìn lại
thì đôi tay ấy đã dốc hết sức đầy mạnh một cái.
Cả người á tú lập tức chúi
về phía trước, rơi thẳng xuống
dòng nước siết.
Nước sông đục ngầu lập tức tràn vào miệng, vào mũi.
Cô chưa kịp cất lên một tiếng kêu cứu
thì đã bị dòng nước cuốn lộn nhào
mấy vòng, thân thể trao đảo
giữa dòng nước giữ.
Mắt thấy chỉ còn cách
đáy sông trong găng tắc.
Đúng vào khoảnh khắc ngàn cân
treo sợi tóc ấy, trên ngọn núi phía
xa bỗng nổi lên một trận cuồng phòng.
Lá cây khắp núi đồng loạt
xào xạc, âm thanh vang vọng
như có ai đang cất tiếng gầm giữa đất trời.
Cùng lúc đó,
pho tượng quáng thế âm Bồ Tát
trong ngôi cổ tự bỗng lóe sáng nơi đôi mắt.
Một luồng hào quang màu vàng men
theo sườn núi lao thẳng xuống.
Dòng suối dưới chân núi
đột ngột đổi hướng cuộn thành
một dòng suối mạnh mẽ nâng thân thể A Tú lên.
Đúng lúc ấy,
một chiếc chậu gỗ lớn từ thượng nguồn
trôi xuống vừa vặn đón lấy cô.
Chiếc chậu tròng trành theo sóng nước
nhưng kỳ lạ thay lại bình yên
đưa A Tú trôi đến bãi cạn ở Hạ Lưu.
Nguyện cho những ai hữu duyên
chứng kiến sự hiển linh của quán
thế âm Bồ Tát, từ nay về sau
đều được thuận buồm xuôi gió,
gia đình bình an, cả đời an lành
vô sự.
Kẻ đã đẩy A Tú xuống sông
không ai khác, chính là Thiếm Thẩm.
Chỉ vì lần trước
Lưu Đại Chủy bán đậu phụ ở đầu làng
đã vô tình khen A Tú xinh đẹp hơn
con gái mình ngay trước mặt bao người
khiến Thiếm Thẩm cảm thấy mất hết thể diện.
Từ đó, chút oán hận
trong lòng bà ta, ngày một lớn dần
méo mó thành lòng đố kỵ
rồi cuối cùng biến thành ý định hại người.
Suốt nhiều ngày liền,
người đàn bà ấy âm thầm theo dõi A Tú
chỉ chờ lúc cô một mình
ra bờ sông, giặt quần áo
mới lặng lẽ xuống tay.
Khi cha A Tú hớt hải chạy đến nơi,
Thiếm Thẩm đã ngồi bên bờ sông khóc lóc thảm thiết từ lúc nào.
Bà ta vừa lau nước mắt
vừa nghẹn ngào kể rằng
A Tú chỉ vì cãi nhau vài câu với con trai bà
lại bị bà nặng lời trách mắng.
Nào ngờ, con bé tính khí bướng bỉnh
quay đầu bỏ chạy rồi mất hút.
Bà ta diễn như thật
ngoài mặt thì nước mắt giàn rụa
nhưng trong lúc đưa tay lau mặt
vẫn lén đưa mắt nhìn xuống dòng sông.
Trong khi đó, ở bãi cạn phía hạ lưu
A Tú vẫn đang dốc hết sức lực kêu cứu.
Thế nhưng tiếng gió gào hòa
cùng tiếng nước chảy cuồn cuộn
đã nuốt chửng mọi âm thanh.
Cha cô đứng trên những bậc đá
ở thượng nguồn
vậy mà chẳng nghe được lấy một tiếng gọi.
Ba ngày ba đêm cứ thế lặng lẽ trôi qua.
Cha mẹ A Tú sốt ruột
đến mức miệng nổi đầy mụn nước.
Hai người chạy khắp nơi tìm con
dán thông báo tìm người khắp cả làng
Đến sáng ngày thứ tư
mẹ A Tú mệt mỏi bước ra phía đá xanh
bên bờ sông để nghỉ chân.
Và vừa ngồi xuống thì bất chợt nhìn thấy
nơi bãi cạn phía hạ lưu
có một chiếc áo vải hoa đang lềnh bềnh
trên mặt nước.
Đó chính là chiếc áo A Tú mặc lúc rời khỏi nhà.
Hai vợ chồng hoàng hốt
vừa chạy vừa ngã cuốn cuồng lao đến
kéo con gái lên khỏi mặt nước.
Toàn thân A Tú lạnh ngắt
đôi môi tím tái như quả cả.
Cô hôn mê liên tiếp suốt nhiều ngày
mãi đến sau mới chậm rãi mở mắt tỉnh lại.
Con gái của mẹ
mẹ A Tú ôm chặt lấy cô
khóc nghẹn đến mức hơi thở đứt quáng.
Rốt cuộc là kẻ trời
đánh nào đã đẩy con xuống sông?
Ánh mắt A Tú khẽ giao động.
Sau một lúc im lặng cô mới nhỏ giọng đáp
Mẹ à, là do con không cẩn thận
dẫm phải reo nên trượt chân ngã xuống.
Lời nói nghe thật nhẹ nhàng
nhưng trong lòng A Tú hiểu
rõ hơn ai hết. Cô phải nhẫn nhịn.
Cô biết chắc thím thẩm
lúc này đang nấp bên ngoài cửa sổ
để nghe ngóng. Cơ noán hận này
cô chỉ có thể tạm thời nuốt xuống
với cô muốn chờ chính người đàn bà độc ác ấy
tự mình để lộ sơ hở.
Quả nhiên, không bao lâu sau
người đàn bà ấy
đã tự để lộ sơ hở.
Chiều hôm ấy, khi đi ngang phía sau
nhà họ thẩm, A Tú bất chợt nghe
thấy bên trong văng lên tiếng hai vợ chồng
đang di dầm bàn bạc.
Người ở làng dưới vừa nhắn rồi.
Họ bảo nửa đêm nay đến
con đê thiên đường tháo nước.
Lần trước suýt nữa bị đội tuần đêm bắt gặp.
Lần này người ta hứa trả hẳn
bốn mươi lượng bạc.
Bốn mươi lượng bạc.
Giọng thím thẩm lập tức vút cào.
Làm. Đêm nay ra tay luôn.
A Tú nếp sát dưới chân tường.
Đến thở mạnh cũng không dám.
Từng câu, từng chữ đều lọt vào
tay cô rõ mồn một. Đợi hai người
bên trong im tiếng, cô mới gión rén
lùi về nhà mình. Vừa vào phòng,
A Tú liền lục tìm một chiếc chậu đồng
cũ, lại lấy thêm một cuộn dây thừng
bằng sợi gai, rồi lặng lẽ
giấu tất cả xuống dưới gầm giường.
Đêm khuya, A Tú khẽ nằm
phục bên cửa sổ. Dưới ánh trăng
lờ mở, cô nhìn thấy hai bóng
người sách theo cuốc, lén lút bước
ra khỏi sân. Cô lập tức khoát
chiếc chậu đồng lên lưng, cầm theo
cuộn dây thừng rồi âm thầm bám theo sau.
Nhưng điều A Tú không hề hay biết
là trong nhà lúc ấy
cậu em họ mới 5 tuổi rưỡi vì
buồn tiểu nên trợt tỉnh giấc.
Trong cơn ngái ngủ, cậu bé nhìn thấy
cha mẹ sách cuốc đi ra ngoài, cứ
ngỡ họ đi bắt đom đóm.
Trẻ con vốn hiếu kỳ, cậu bé cũng
lào đào chạy theo. Đêm ấy
cha A Tú nằm mãi vẫn không sao
chập mắt, trong lòng ông cứ thấp thỏm
bồn trồn như có điều gì
chẳng lành sắp xảy ra.
Chẳng chọc hồi lâu, ông quyết định
dậy đi ra con đê xem thử mực nước.
Vừa mở cửa, ông đã bắt gặp
đứa cháu nhỏ đang lon ton chạy
về phía bờ đê. Thằng nhóc
nghịch ngợm này, đêm hôm khuya
khoắt còn chạy lung tung đi đâu.
Vừa trách yêu, ông vừa
bế đưa bé lên, quay người định đưa nó trở về
nhà. Đúng lúc ấy
ngọn đèn lồng trong tay khẽ lay động
ánh sáng vừa vặn hắt xuống chân đê
soi rõ hai bóng người
đang cúi gặp lưng đào đất.
Cha A Tú vừa định cất tiếng gọi
thì phía sau lưng bỗng vang lên một tiếng
choang, trói tai của chiếc chậu đồng.
Ngay sau đó, giọng A Tú
sẽ toạc màn đêm.
Có người! Mau đến đây!
Có người lén tháo nước!
Tiếng hét bất ngờ khiến hai vợ chồng dưới
chân đê sợ đến hồn vía lên mây.
Thím thẩm vội ném phăng
chiếc cuốc xuống đất, túm lấy chồng rồi
quay đầu bỏ chạy. Người đàn ông
cắm đầu lao thẳng vào bãi lao sợi.
Chỉ trong nhái mắt, cả hai đã biến mất,
không còn tung tích. Vừa nghe
tiếng con gái, phản ứng đầu tiên
của cha A Tú là lập tức lao tới
ngăn hai người kia lại.
Ông hấp tấp bước nhanh về phía trước.
Nào ngờ, vừa bước được hai bước
thì một chân bỗng lọt thẳng vào chiếc
thòng lọng đã răng sẵn dưới đất.
Đó chính là sợi dây mà nửa đêm
A Tú đã lần mò buộc chặt vào gốc cây.
Thân người ông lập tức
mất thăng bằng, ngửa mạnh về phía sau.
Một tiếng bóp, khô khóc vang lên.
Phía sau đầu ông
đập mạnh vào tảng đá bên bờ đê.
A Tú hớn hở chạy tới,
trong lòng vẫn nghĩ phe này cuối cùng
cũng bắt được quả tăng đôi vợ chồng
lòng dạ đen tối.
Nhưng khi cuối xuống nhìn,
người đang nằm bất động trên mặt đất
lại chính là cha ruột của mình.
Chiếc đèn lồng nằm nghiêng sang một bên,
ngọn lửa vẫn lập lòe chập trờn
trong gió. Chiếc chậu đồng
trong tay A Tú rơi xuống đất, phát ra
một tiếng choang, nặng nề.
Cổ họng cô như bị ai bóp nghẹn,
đến cả tiếng khóc cũng không thể cất lên.
Cô khỉu xuống quỳ sụp bên cạnh cha mình.
Hai bàn tay run dậy
không ngừng, nước mắt cứ thế rơi
lá chả xuống mặt đất.
Cách đó không xa, chiếc thòng lọng
vẫn còn căng chặt nơi gốc cây.
Đó chính là nút thắt do tự tay cô buộc nên.
Từng vòng dây vẫn siết chặt
như một lời nhắc nhở đau đớn,
khiến trái tim A Tú như bị xé làm đôi.
Khi phía chân trời
vừa ánh lên màu trắng nhạt của bình minh,
mẹ A Tú cùng mấy người hàng xóm
lần theo tiếng hô hoán mà vội vã chạy đến.
A Tú vẫn quỳ gục
trên bờ đê, ôm chặt lấy đầu cha mình.
Nước mắt không ngừng tuôn rơi,
thấm ướt cả vạt áo trước ngực.
May mắn thay,
cha cô vẫn còn một hơi thở yếu ớt,
chỉ là đã hôn mê bất tịnh.
Cú va đập vào phía sau đầu quá mạnh
khiến ông phải nằm liệt dương
suốt gần nửa năm trời mới dần dần hồi phục.
Thế nhưng, từ đó về sau,
ông luôn mang trong mình
trứng đau đầu dai dặng, mãi không thể khỏi hẳn.
Sau đêm bỏ chỗ nấy,
vợ chồng thím thầm
không còn dám quay trở lại làng nữa.
Nghe nói hai người đã chạy sang
một vùng quê xa lạ để lẩn trốn.
Cuộc sống nơi đất khách vô cùng túng quẩn,
quanh năm thiếu trước hụt sau,
đến cả một bữa cơm no
cũng trở thành điều xa xỉ.
Một hôm, mẹ A Tú ôm con gái vào lòng,
khẽ thở dài rồi nghẹn ngào hỏi
Con à, nếu con đã sớm biết
người đàn bà độc ác ấy muốn hại con,
vì sao không nói với cha mẹ từ trước?
A Tú vừa lau nước mắt,
vừa nghẹn ngào đắp
Con chỉ muốn bắt quả tang
để mọi người đều nhìn rõ bộ mặt thật của bà ta.
Con không ngờ,
người mắc bẫy cuối cùng lại chính là cha ruột của con.
Nói đến đây,
nước mắt cô lại lặng lẽ rơi xuống.
Về sau,
mỗi khi ngồi dưới góc cây đầu làng phơi nắng,
các bậc cao niên vẫn thường nhắc lại câu chuyện ấy
như một lời nhắc nhở
dành cho con cháu đời sau.
Các cụ bảo rằng,
Quán Thế âm Bồ Tát cứu người
không chỉ cứu một sinh mạng,
mà còn cứu cả một con người
khỏi những mê lầm trong lòng mình.
Trên đời này,
có những chuyện tưởng như đã tính toán tru toàn,
vậy mà kết cục lại hoàn toàn nằm ngoài dữ liệu.
Có khi bạn dốc hết tâm sức
răng bẫy để trừng trị kẻ xấu,
nhưng chiếc bẫy ấy
sau bao vòng xoay của số phận
lại vô tình làm tổn thương
chính người thân yêu nhất của mình.
Bởi vậy, trước khi hành động,
con người càng phải giữ cho tâm mình tỉnh táo.
Trừng trị kẻ ác là điều đúng đắn,
nhưng nếu để oán hận dẫn đường,
rất dễ khiến bản thân rơi
vào một kết cục ngoài y muốn.
May mắn thay,
Ông Trời vẫn còn mở cho A Tú một con đường chuộc lỗi.
Cha cô cuối cùng
cũng giữ được mạng sống.
Còn đôi vợ chồng lòng dạ đen tối ấy,
người ta nói rằng đã có người gặp họ
ở huyện Lâm.
Cả hai đầu tóc dối bủ,
quần áo rách dưới, sống lay lát qua ngày.
Ngay cả một bữa cơm no
cũng khó lòng có được.
Các bạn thân mến,
điều khiến người ta suy ngậm nhất
trong câu chuyện này không phải là
việc kẻ ác cuối cùng phải trả giá,
mà là bi kịch đã xảy ra với A Tú.
Cô vốn chỉ muốn
vạch chân cái ác để bảo vệ bản thân và gia đình,
nhưng vì lựa chọn một cách
làm quá mạo hiểm,
người phải gánh chịu hậu quả trước tiên
lại chính là cha ruột của mình.
Cuộc sống đôi khi vẫn là như vậy.
Ý định tốt chưa chắc
đã dẫn đến kết quả tốt
nếu thiếu đi sự bình tĩnh và tri tuệ.
Khi lòng người bị oán hận
hay sự nôn nóng chi phối,
chúng ta rất dễ đưa ra những quyết định
mà sau này chỉ còn biết nuối tiếc.
Có những sai lầm
chỉ diễn ra trong khoảnh khắc,
nhưng phải mất cả đời để mang theo nỗi dây dứt.
Qua câu chuyện này,
chúng ta càng hiểu rằng đối diện với điều ác
không có nghĩa là lấy sự cực đoan
để đáp lại.
Điều quan trọng nhất là giữ được
một cái tâm sáng suốt,
biết lựa chọn cách đúng đắn để bảo vệ lẽ phải
mà không tạo thêm đau khổ
cho người vô tội.
Bởi lẽ, nhân quả không chỉ nằm
ở kết quả cuối cùng,
mà còn hiện diện ngay trong từng ý nghĩ
và từng hành động của mỗi con người.
Mong rằng sau câu chuyện hôm nay
mỗi chúng ta sẽ biết sống cẩn trọng hơn
trong mọi quyết định của mình.
Khi gặp nghiệt cảnh,
hãy để lòng từ bi đi cùng tri tuệ.
Khi gặp bất công,
hãy để sự bình tĩnh dẫn đường.
Chỉ khi giữ được một trái tim lương thiện
và một tâm hồn sáng suốt,
chúng ta mới có thể vượt qua
mọi sóng gió,
mà không phải mang theo những điều hối tiếc về sau.
Một hôm,
có một vị tăng tìm đến thỉnh giáo thiền sư Nam Tuyền.
Sau khi cung kính hành lễ,
ông cất lời hỏi
Bạch sư phụ, rốt cuộc thế nào mới là đại đạo?
Nam Tuyền bình thản đáp
trời nóng thì tìm chỗ mát nghỉ ngơi,
trời lạnh thì đến gần đống lửa để sửa ấm.
Nghe xong,
vị tăng không khỏi lộ vẻ coi thường,
liền nói
Đó chẳng qua chỉ là những việc sinh hoạt thường ngày của người đời.
Sao có thể gọi đó là đại đạo được?
Nam Tuyền không hề giải thích,
cũng chẳng tranh luận.
Ngài chỉ nhẹ nhàng hỏi lại
Theo ông, ngoài những điều ấy ra,
còn có đại đạo nào khác nữa sao?
Câu hỏi ngắn gọn ấy
khiến vị tăng lập tức sững người,
nhất thời không biết phải đáp thế nào.
Hôm nay,
chúng ta sẽ cùng nhìn lại công án,
tưởng như vô cùng bình dị này
để hiểu vì sao chính điều bình thường nhất
lại có thể là đại đạo.
Trong lòng vị tăng ấy,
vốn đã có sẵn một quan niệm.
Ông luôn cho rằng đại đạo nhất định
phải là điều vô cùng cao thâm,
huyền diệu,
vượt xa những gì người bình thường có thể hiểu được.
Ông từng đọc trong kinh sách câu
đại đạo vô hình, đại đạo trí giản.
Nhưng trong suy nghĩ của ông,
chữ giản chỉ có nghĩa là
tinh luyện, cô động,
chứ không phải là giản dị
và tự nhiên.
Vì thế, ông mong chờ Nam Tuyền sẽ nói ra
một lời khai thị, khiến người nghe bừng tỉnh,
một triết lý sâu xa khiến ai cũng phải kinh ngạc,
hoặc chỉ ra một cảnh giới
cao vời mà người thường khó lòng chạm tới.
Thế nhưng, điều Nam Tuyền
nói lại chỉ là
trời nóng thì tìm nơi mát mẻ,
trời lạnh thì đến gần đống lửa.
Chỉ vòn vẹn có vậy.
Trong mắt vị tăng, câu trả lời ấy quá đổi bình thường,
đến mức ông không khỏi nghĩ rằng
mình chỉ đang nhận được một lời
đáp qua loa cho có lệ.
Thế nhưng, Nam Tuyền
vẫn không hề giải thích thêm một lời,
cũng không tìm cách chứng minh
điều mình nói là đúng.
Ngài chỉ lặng lẽ hỏi lại,
theo ông, ngoài điều đó ra,
còn có đại đạo nào khác nữa sao?
Chính câu hỏi ấy đã khiến vị tăng
hoàn toàn lặng người.
Ông muốn nói rằng, nhất định phải còn có một
chân lý nào đó sâu sắc hơn thế.
Nhưng sâu sắc hơn là gì?
Ông không thể trả lời.
Ông cũng muốn phủ nhận rằng
những điều Nam Tuyền nói không phải là đạo.
Thế nhưng, khi bị hỏi ngược lại,
vậy rốt cuộc đạo là gì?
Ông vẫn không tìm được
một lời đáp.
Đến lúc ấy, ông mới chật nhận ra rằng
suốt bao năm qua,
mình vẫn luôn miệt mài đi tìm đại đạo,
nhưng chưa từng một lần dừng lại
để nhìn vào chính bản thân mình,
nhìn xem con người đang mải mê tìm kiếm ấy
rốt cuộc đang sống như thế nào.
Nam Tuyền muốn chỉ cho ông thấy
một đạo lý vô cùng giản dị.
Đại đạo của đất trời vốn
không phải là điều xa vời hay huyền bí.
Nó chỉ đơn giản là thuận
theo lẽ tự nhiên.
Mặt trời mọc thì thức dậy,
màn đêm buông xuống thì nghỉ ngơi,
trời nóng thì tìm bóng mát,
trời lạnh thì đến gần đống lửa.
Đó không phải là cố gắng tạo ra
một cảnh giới đặc biệt, cũng chẳng phải
đang theo đuổi điều gì cao siêu.
Đó chỉ là đang sống đúng
với quy luật tự nhiên của vạn vật.
Nhưng nếu trong từng việc làm ấy
tâm không còn bị những vọng niệm
trói buộc, không còn cưỡng cầu,
không còn trái nghịch với bản tính
chân thật của mình,
thì ngay trong từng hơi thở của cuộc sống
bình thường ấy đã hàm chứa đại đạo.
Ngược lại, nếu cứ cố chấp
cho rằng đại đạo nhất định phải
cao sâu khó lường, càng huyền bí càng tốt,
thì chính suy nghĩ ấy
lại khiến con người ngay một giời
xa đạo mà mình hằng mong cầu.
Cũng giống như một người
mải miết đi tìm hương vị của nước
mà quên mất rằng mình vẫn đang uống nước mỗi ngày.
Điều quý giá nhất
vốn luôn ở ngay bên cạnh.
Chỉ vì mãi ngước nhìn những nơi xa xôi
nên người ấy chưa từng cúi xuống
để nhận ra.
Thực ra, mỗi chúng ta đều ít nhiều
giống như vị tăng trong câu chuyện.
Chúng ta luôn nghĩ rằng đạo
ở một nơi rất xa, rất cao,
rất huyền diệu, chỉ những người
có đạo hạnh thâm sâu mới có thể chạm đến.
Vì thế, chúng ta không ngừng tìm kiếm,
tìm vào chốn núi sâu,
tìm đến cửa thiền,
tìm gặp những bậc cao tăng, những vị thiện chi thức
với mong muốn một ngày nào đó
sẽ nghe được một chân lý làm thay đổi cuộc đời mình.
Nhưng Nam Tuyền lại nhẹ nhàng nói
đừng tìm nữa,
trời nóng thì tìm chỗ mát,
trời lạnh thì đến gần đống lửa.
Đó chính là đạo.
Đạo chưa từng ở cách con người một khoảng xa xôi.
Đạo vẫn luôn hiện diện
trong từng hơi thở,
từng bước chân và từng khoảnh khắc của cuộc sống.
Khát thì uống nước,
đói thì ăn cơm,
mệt thì nghỉ ngơi,
buồn ngủ thì đi ngủ.
Khi con người sống thuận theo lẽ tự nhiên,
không cưỡng cầu,
không tự tạo thêm những ràng buộc cho chính mình,
thì ngay trong từng việc bình dị ấy
đã hiển lộ đại đạo chân thật nhất.
Bởi lẽ, đại đạo không nằm
ở những điều cao xa khó với tới,
mà chính là sự tự nhiên, an nhiên
và trọn vẹn trong từng giây phút của hiện tại.
Chỉ khi thật sự trở về với đời sống bình thường,
sống đúng với bản tâm
và thuận theo quy luật của tự nhiên,
con người mới nhận ra rằng,
điều mình tìm kiếm bấy lâu vốn chưa từng rời xa mình,
dù chỉ một bước.
Các bạn thân mến,
điều khiến công án về Nam Tuyền được lưu truyền
qua nhiều thế hệ không phải vì câu trả lời
quá huyền bí,
mà bởi chỉ với vài lời giản dị,
Ngài đã khiến một vị tăng phải dừng lại
để tự chất vấn chính mình.
Có những câu hỏi không cần được trả lời ngay lập tức,
bởi giá trị của chúng nằm ở chỗ
khiến con người suy ngẫm suốt cả cuộc đời.
Có lẽ,
mỗi người khi nghe xong câu chuyện này,
sẽ có cho mình một sự cảm nhận khác nhau.
Có người nhớ đến câu hỏi của Nam Tuyền,
có người nhớ đến sự im lặng
của vị tăng,
cũng có người bất chợt nhìn lại chính mình
sau những tháng năm miệt mài tìm kiếm.
Và đó cũng chính là ý nghĩa
của những công án thiện.
Chúng không ép ai phải tin,
cũng không đưa ra một đáp án duy nhất,
mà lặng lẽ mở ra một cánh cửa
để mỗi người tự bước vào
bằng sự chiêm nghiệm của chính mình.
Hy vọng rằng, câu chuyện hôm nay
sẽ để lại trong lòng quý vị và các bạn
một khoảng lặng để suy ngẫm.
Biết đâu, trong một khoảnh khắc
rất bình thường của cuộc sống,
khi bất chợt nhớ đến câu hỏi của Nam Tuyền,
chúng ta lại nhìn mọi việc bằng một tâm thế khác,
nhẹ nhàng hơn,
bao dung hơn, và cũng sáng suốt hơn.
Xin chân thành cảm ơn quý vị
và các bạn đã dành thời gian
lắng nghe câu chuyện ngày hôm nay.
Kính chúc quý vị cùng gia đình
luôn mạnh khỏe, bình an
và gặp nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống.
Xin kính chào và hẹn gặp lại quý vị
cùng các bạn trong những câu chuyện nhân quả
đạo lý ý nghĩa tiếp theo.