TÓM TẮT CUỘC ĐỜI QUAN VŨ - TAM QUỐC CHÍNH SỬ

Đình Sự
534 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIVideo này tái hiện cuộc đời của Quan Vũ, một danh tướng thời Tam Quốc, biểu tượng cho lòng trung nghĩa và dũng cảm. Từ lời thề kết nghĩa vườn đào cùng Lưu Bị và Trương Phi, ông đã trải qua nhiều thăng trầm, lập nên những chiến công hiển hách, cho đến bi kịch cuối đời tại Mạch Thành, để lại tiếng vang muôn đời về sự tận trung và khí tiết.
Xin chào quý khán giả của Say Sử!
Khi nhắc đến Tam Quốc, người ta không thể không nhớ đến một vị tướng xuất chúng với vẻ ngoài uy nghi,
chợm râu dài đặc trưng và thanh thanh long yển nguyệt đao tung hoành trên khắp các chiến trường.
Đó chính là Quang Vũ tự Vân Trường, người được người đời tôn vinh là Võ Thánh,
một biểu tượng vĩnh cửu của lòng trung nghĩa, sự dũng cảm và tinh thần nghĩa khí xuyên suốt lịch sử Trung Hoa.
Cuộc đời ông là một bản anh hùng ca đầy biến động, gắn liền với những trận chiến nảy lửa
và những quyết định lịch sử đã góp phần hình thành nên thế chân vạc thời Tam Quốc.
Để giúp quý vị có cái nhìn toàn diện nhất, video hôm nay sẽ tái hiện trọn vẹn hành trình cuộc đời ông.
Chúng ta hãy cùng quay ngược thời gian, trở về những ngày tháng khởi đầu khi một gã trai tẩu sớm
mang trong mình trí lớn, để rồi gặp gỡ những người anh em tri kỷ dưới góc đào đang nở rộ.
Quang Vũ sinh ra tại huyện Giải, thuộc quận Hà Đông, nay thuộc tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.
Những năm tháng tuổi trẻ của ông không được ghi chép quá chi tiết trong các bộ chính sự như Tam Quốc Chí,
nhưng qua các nguồn tư liệu dân gian và ghi chép trải rác, ông xuất thân trong một gia đình bình thường,
sớm rèn luyện võ nghệ và có chí khí hơn người.
Quang Vũ nổi bật với thân hình cao lớn, khuôn mặt đỏ như gất, ánh mắt uy nghiêm
và đặc trưng nhất là chồm râu dài đẹp đẻ, điều sau này khiến ông có biệt danh là Mỹ nhịm công.
Ông là người ham đọc sách, đặc biệt là cuốn tả truyện, giúp ông tích lưỡi nhiều hiểu biết về quân sự,
lịch sử và đạo lý làm người.
Thời trẻ, Quang Vũ vốn là một thanh niên có tính cấp thẳng thắng,
cầm ghét sự bất công và những kẻ cường hào ác bá tại quê nhà.
Trong một lần vì bất bình trước hành vi hách dịch để nén dân lành của một tên hào cường địa phương,
Quang Vũ đã ra tay dẹp loạn, đánh chết tên này để đòi lại công lý cho người dân.
Tuy nhiên, hành động bọc phát đó khiến ông trở thành kẻ bị triều đình truy nã.
Để thoát khỏi sự bắt bớ của quang lại địa phương,
Quang Vũ phải rời bỏ quê hương Hà Đông, bắt đầu cuộc sống bạc mạng trôi dạc khắp nơi.
Ông phiêu bạc qua nhiều vùng đất, làm đủ mọi nghề để mưu sinh và che giấu danh tính,
cho đến khi dừng chân tại quận Ú Châu thuộc khu vực Trác quận.
Thời điểm Quang Vũ đến Trác quận cũng là lúc đế chế Đông Hán rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng.
Triều đình mục nát, hoạn quang nắm quyền, thiên tài thất bác liền miền khiến đời sống nhân dân rơi vào cảnh lầm thang bần cùng.
Sự phẫn hận của quân chúng tức tụ lâu ngày đã bùng nổ thành cuộc khởi nghĩa Khang Vàng do Trương Giác đính đầu vào năm 184.
Quân Khang Vàng càng quét khắp các châu quận, uy hiếp nghiêm trọng bộ máy chính quyền Hán thức.
Để đối phó với làn sóng thiên hạ đại loạn này, triều đình Đông Hán đành phải phát chiếu thư đi khắp các địa phương,
kêu gọi các hào kiệt, anh hùng trong thiên hạ, chiêu mộ binh mã, lập công dẹp loạn.
Bức chiếu thư chiêu mộ binh sĩ được niêm yết tại trại Trác quận đã trở thành cột mốc định mệnh làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của Quang Vũ.
Chính tại nơi này, ông đã gặp gỡ hai nhân vật lịch sử sẽ cùng ông viết nên những trang sử hào hùng nhất, Lưu Bị và Trương Phi.
Lưu Bị là người giọng giỏi hoàn thất nhà Hán nhưng gia cảnh xa xúc, làm nghề dệt chiếu đóng dép mưu sinh nhưng nuôi chi lớn khôi phục Hán thất.
Trương Phi là một gã bán thịt lợn và rượu tại địa phương, tính tình nóng nảy nhưng hào sản, võ nghệ cường tráng.
Khi ba người vô tình đứng trước tấm bảng chiêu mộ binh sĩ, họ nhìn thấy ở nhau những phẩm chất phi thường và một ý chí tương đồng.
Lưu Bị mang hoài bảo cứu dân giúp nước, Quang Vũ khát khao dùng sức mình để trừ gian diệt ác,
còn Trương Phi muốn cống hiến sức mạnh cho một sự nghiệp lớn lao.
Cả ba nhanh chóng trở nên thân thiết sau những cuộc trò chuyện, cảm thấy như đã quen biết từ lâu.
Họ nhận ra rằng trong thời buổi loạn lạc này, nếu đơn độc chiến đấu thì khó lòng làm nên chuyện lớn,
chỉ có cùng chung sức mạnh và lòng tin mới có thể đứng vững.
Sự đồng điệu về chí hướng và tâm hồn đã dẫn đến sự kiện lịch sử mang tính biểu tượng,
cuộc kết nghĩa tại vườn đào sau nhà Trương Phi.
Tại đây, với sự chiến giám của trời đất và những chùm hoa đào đang nở rộ,
ba người đã lập lời thề, tuy không sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm,
nhưng nguyện chết cùng năm, cùng tháng, cùng ngày,
quyết tâm đồng lòng hợp sức phỏ nguy cứu đất, dẹp loạn an dân.
Tuy trong chính xử, tam quốc chí của Trần Thọ không ghi chép chính xác về sự kiện kết nghĩa vườn đào như diễn nghĩa mô tả,
nhưng sự sách đều xác nhận rằng tình cảm giữa ba người vô cùng khăn khích.
Quang Vũ và Trương Phi coi Lưu Bị như anh cả, hầu hạ và bảo vệ Lưu Bị hết lòng.
Sau khi kết nghĩa, ba nèm bắt đầu xây dựng lực lượng đầu tiên của mình.
Với sự hỗ trợ tài chính và ngựa chiến từ một số thương nhân giàu có trong vùng,
như Trương Thế Bình và Tô Soan, họ chiêu mộ được vài trăm nghĩa binh nhiệt huyết.
Quang Vũ tự tay rèn cho mình thanh thanh long yển nguyệt đao nặng hàng chục cân,
bắt đầu bước vào con đường binh nghiệp.
Lực lượng nhỏ bé của ba nèm ngay lập tức gia nhập quân đội Triều Đình dưới sự chỉ huy
của các quan lại địa phương để tham gia chiến dịch dẹp quân Khang Vàng.
Quang Vũ nhanh chóng thể hiện tài năng thiên bẩm về võ nghệ và quân sự trên chiến trường.
Với sức mạnh song toàn, ông luôn là người đi đầu trong các trận giáp lá cà,
đánh tan nhiều cánh quân Khang Vàng tại vùng Ú Châu và Ký Châu.
Mỗi khi Quang Vũ xong trận, thanh long đao vung lên là kẻ thù bạc vía.
Ông cùng Trương Phi trở thành hai cánh tay đắc lực giúp Lưu Bị lập được nhiều chiến công hiển hấp trong giai đoạn này.
Mặc dù lập được nhiều công trạng trong việc dẹp loạn Khang Vàng,
nhưng do không có thế lực chống lưng và không có tiện hối lộ các quan lại Triều Đình,
Lưu Bị chỉ được thưởng một chức quan nhỏ là huyện Úi huyện An Sĩ.
Quang Vũ và Trương Phi tiếp tục đi theo hầu hạ, giữ vai trò bảo vệ và trợ thủ cho Lưu Bị.
Thời gian làm quan ở An Sĩ không kéo dài lâu khi một viên đốc xứ của Triều Đình đến hạch sách đòi hối lộ.
Trước sự hách dịch của viên quan này và sự phẫn nộ của Trương Phi,
bà nèm quyết định từ bỏ chức quan, bỏ trốn và tiếp tục cuộc sống phiêu bạc.
Những năm tiếp theo là khoảng thời gian đầy biến động khi nhà Hán rơi vào bối cảnh hỗn loạn sâu sắc hơn.
Sau khi Hoàng đế Hán Linh Đế qua đời, viên tướng Động Trác nắm quyền kiểm soát Triều Đình tại Lạc Dương,
thao túng tiểu Hoàng đế, hoành hành bá đạo, khiến các chư hậu khắp nơi phẫn nộ.
Năm 190, viên thiệu đứng ra kêu gọi thành lập Minh quân chư hậu Phạc Đống,
quy tụ hàng chục thế lực quân Việt lớn nhỏ trong thiên hạ.
Lưu Bị lúc này đang theo phò công tôn tòa án, cũng tham gia vào lực lượng liên minh này.
Chính tại chiến dịch Phạc Động Trác, tên tuổi của Quang Vũ đã bùng sáng trước toàn thể các chư hậu trong thiên hạ
qua một sự kiện chấn động.
Quân của Động Trác do Mảnh tướng Hoa Hùng chỉ huy,
đã liên tiếp đánh bại nhiều tướng lĩnh của phe liên minh ngay trước cửa tỉnh Tị, Hổ Lao Quang.
Hoa Hùng kiêu ngạo, kiên quyết khiêu chiến và giết chết nhiều danh tướng do các chư hậu cử ra,
khiến đại quân liên minh rơi vào hoang mang, rơi vào thế bế tắc.
Trong lúc các chư hậu như Viên Thiệu, Viên Thuật còn đang do dự và sợ hãi,
Quang Vũ, lúc đó chỉ mang chức vụ huyện lệnh hoặc một viên tướng nhỏ không ai biết đến,
đã bước ra xin nhận lệnh đi tiệt hạ Hoa Hùng.
Hành động này ban đầu nhận lại sự coi thường và diễu cợt từ các chư hậu lớn,
đặc biệt là Viên Thuật, kể cho rằng một viên tướng vô danh tiểu tộc
không có quyền lên tiếng trước hội nghị chư hậu.
Tuy nhiên, Tào Tháo, người lúc đó nhận ra khí thái khác thường của Quang Vũ,
đã bước ra bên vực và rót một chén rượu nóng để tiễn ông ra trận.
Quang Vũ từ chối uống chén rượu ngay lúc đó,
tuyên bố sẽ trở về sau khi chém đầu Hoa Hùng rồi mới uống.
Ông cửi ngựa lao thẳng ra chiến trường.
Chỉ trong chốc lát, trước sự ngỡ ngàng của đại quân hai bên,
Quang Vũ đã chém chết Hoa Hùng, sách đầu kẻ thù trở về bái sướng trước mặt các chư hậu.
Khi ông đặt đầu Hoa Hùng xuống đất, chén rượu mà Tào Tháo rót cho ông vẫn còn nghi ngút khói.
Sự kiện trảm Hoa Hùng rượu còn nóng, không chỉ giải quyết bế tắc cho liên minh,
mà còn đưa tên tuổi Quang Vũ trở thành một mảnh tướng uy chấn thiên hạ,
đồng thời khiến Tào Tháo bắt đầu chú ý và khao khát có được ông trong tay.
Liên minh phạt động trác sau đó nhanh chóng tan rã do sự bất đồng ý kiến
và lòng tham quyền lực giữa các chư hậu.
Thiên hạ đi vào thời kỳ, quân Việt cát cứ.
Lưu Bị, Quang Vũ và Trường Phi tiếp tục nương nhờ công tôn Toản tham gia vào các cuộc xung đột ở phía Bắc.
Sau đó khi Từ Châu bị Tào Tháo tấn công để trả thù cho cha,
thứ sử Từ Châu là Đạo Khiêm đã gửi thư cầu cứu.
Lưu Bị cùng Quang Vũ mang quân đến giúp đỡ Từ Châu.
Nhờ sự chân thành và uy tín của mình, sau khi Đạo Khiêm qua đời vì bệnh nặng,
ông đã nhường lại Từ Châu cho Lưu Bị.
Lần đầu tiên, bạn em có được một địa bàn quản lý riêng biệt và tương đối rộng lớn.
Quang Vũ được giao nhiệm vụ quan trọng là trấn giữ các điểm quân sự chiến lược
bảo vệ Từ Châu khỏi sự dình dập của các thế lực xung quanh.
Tuy nhiên, khoảng thời gian bình yên tại Từ Châu diễn ra vô cùng ngắn ngũi.
Sự xuất hiện của Lữ Bố, Mãnh Tướng vừa bị Tào Tháo đánh bại và đến sinh nương nhờ Lưu Bị
đã gieo mầm cho những tai hòa tiếp theo.
Dù Quang Vũ và Trương Phi luôn nghi ngờ sự trung thành của Lữ Bố, Lưu Bị vẫn tiếp nhận ông ta.
Cuối cùng, nhận lúc Lưu Bị và Quang Vũ mang quân đi đánh viên thuật ở phía nam,
Lữ Bố đã phản bội, đánh lén và chiếm lấy hạ bì, bắt giữ gia quyến của Lưu Bị và Trương Phi.
Rơi vào thế đường cùng, Lưu Bị và các tướng đành phải tạm thời hòa hoãn với Lữ Bố,
chấp nhận rút về giữ Tiểu Thành Tiểu Bái.
Nhưng sự căng thẳng giữa hai bên sớm bùng nổ trở lại.
Lữ Bố tiếp tục xu quân tấn công Tiểu Bái, buộc ba nêm Lưu Bị phải chạy sang nương nhờ Tào Tháo,
người lúc này đang thao túng trự đình nhà Hán tại Hứa Sương và nắm giữ Hán hiên đế.
Tào Tháo tiếp đón Lưu Bị vô cùng nồng hậu, phong chức quan lớn và cung cấp quân lương để cùng hợp lực đánh Lữ Bố.
Năm 198, liên quân Tào Lưu tấn công hạ bì, bao vây và đánh bại Lữ Bố.
Sau khi Lữ Bố bị bắt và bị sử tử, Tào Tháo đưa Lưu Bị và các tướng về Hứa Sương.
Trong thời gian ở Hứa Sương, Tào Tháo càng có điều kiện tiếp xúc và nhận ra tài năng xuất chúng cùng phẩm chất của Quang Vũ,
người luôn túc trực bảo vệ Lưu Bị mọi lúc mọi nơi.
Tào Tháo đã phong cho Quang Vũ chức trung lan tướng, tỏ ý rất coi trọng ông.
Mặc dù sống trong sự đại ngộ của Tào Tháo, Lưu Bị biết rằng Tào Tháo là kẻ có giả tâm lớn, không thể phụng sự lâu dài.
Lưu Bị bí mật nhận y đai chiếu của Hán hiên đế nhằm mưu sát Tào Tháo để khôi phục quyền lực cho nhà Hán.
Năm 199, nhân cơ hội viên thuật bị đánh bại, Lưu Bị xin Tào Tháo mang quân đi chặn đánh viên thuật,
đồng thời thừa cơ chiếm lại Tự Châu, ly khai khỏi Tào Tháo.
Khi chiếm lại Tự Châu, Lưu Bị đóng quân tại Tiểu Bái để thu hút lực lượng,
còn giao thành Hạ Bì, nơi cất giữ gia quyến và là căn cứ quân sự quan trọng nhất cho Quang Vũ tránh giữ.
Sự phân công này thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối của Lưu Bị dành cho Quang Vũ,
bởi Hạ Bì vừa đòi hỏi khả năng phòng thủ kiên cường,
vừa cần một người lãnh đạo có khả năng bảo vệ an toàn tuyệt đối cho gia đình Lưu Bị.
Sự ly khai của Lưu Bị khiến Tào Tháo cực kỳ tức giận.
Năm 200, nhận thấy viên thiệu ở phía bắc chưa kịp đồng binh,
Tào Tháo đã quyết định mạo hiểm đích thân dẫn đại quân tiến đánh Tự Châu
nhằm tiêu diệt Lưu Bị trước khi bước vào cuộc chiến sinh tử với viên thiệu.
Trận chiến diễn ra quá nhanh chóng và bất nờ.
Lực lượng mỏng yếu của Lưu Bị tại Tiểu Bái mau chóng bị Tào Tháo đè bẹp.
Lưu Bị thất bại thảm hại, phải bỏ trốn một mình sang Ký Châu nương nhờ viên thiệu,
còn Trương Phi cũng bị thất lạc trong quân ngũ.
Sau khi đánh bại Lưu Bị, đại quân Tào Tháo lập tức tiến đến bao vây thành Hạ Bì,
nơi Quang Vũ đang cố thủ cùng gia quyến của Lưu Bị.
Thành Hạ Bì rơi vào thế cô lập hoàn toàn, không có viện binh, lương thực kỳ khỏe.
Quang Vũ dũng cảm dẫn quân ra khỏi thành ngân chiến,
nhưng bị Tào Tháo dùng kế dụ và thun lũng, cắt đứt đường lui về thành.
Ông bị bao vây trên một ngọn núi nhỏ, lâm vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc.
Biết Quang Vũ là người trọng nhĩa và võ nghệ cao cường,
Tào Tháo không muốn sát hại mà muốn thu phục ông bằng mọi giá.
Tào Tháo đã cử Trương Liêu, một tướng dưới quyền Tào Tháo và cũng là bạn thân của Quang Vũ,
lên núi thuyết phục ông hàng phục.
Trương Liêu đã phân tích cho Quang Vũ thấy ba tội lớn nếu ông chọn cách hy sinh tại đây.
Một là phụ lời thề kết nhĩa cùng Lưu Bị khi chưa biết anh mình còn sống hay đã mất.
Hai là bỏ mặt hai người vợ của Lưu Bị không ai bảo vệ.
Ba là uổng phí tài năng, không thể giúp hán thất sau này.
Trước tình thế hiểm nghèo và những lời khuyên giải thấu tình đạt lý của Trương Liêu,
Quang Vũ đã đưa ra một quyết định lịch sử.
Ông đồng ý rời núi theo Tào Tháo, nhưng không phải là hàng Tào mà là hàng Hán,
kèm theo ba điều kiện kiên quyết mà Tào Tháo bắt buộc phải chấp thuận.
Thứ nhất, ông chỉ hàng Hán hiến đế chứ không hàng Tào Tháo.
Thứ hai, Tào Tháo phải cấp bổng lọc và bảo vệ an toàn tuyệt đối cho hai chị dâu,
tức vợ Lưu Bị, không ai được phép xâm phạm.
Thứ ba, ngay khi biết tin tức chính xác về nơi ở của Lưu Bị,
ông sẽ lập tức ra đi để trở về với anh mình, mất kể Tào Tháo có đồng ý hay không.
Tào Tháo vì quá mến tài Quang Vũ nên đã chấp nhận toàn bộ ba điều kiện khắc khe đó,
đưa Quang Vũ cùng gia quyến Lưu Bị về hứa xương.
Sự kiện này mở ra một chương mới trong cuộc đời Quang Vũ,
nơi lòng trung thành và nghĩa khí của ông sẽ trải qua những thử thách nhiệt giả nhất.
Trở về hứa xương, Tào Tháo đã dùng mọi phương cách để mua chuột và thu phục trái tim Quang Vũ.
Ông được Tào Tháo phong làm thiên tướng quân,
ban tặng vô số vàng bạc, lụa là, mỹ nữ và cung điện sang trọng.
Cứ ba ngày một tiệc nhỏ, năm ngày một tiệc lớn, Tào Tháo luôn dành cho Quang Vũ sự tôn trọng tối cao,
thậm chí còn tặng ông con ngựa xích thố, con chiến mã dũng mảnh mật nhất thời bây giờ, từng thuộc về lã bố.
Tuy nhiên, mọi sự đái ngộ hậu hình đó đều không thể làm lay chuyển lòng trung nghĩa của Quang Vũ dành cho Lưu Bị.
Khi nhận được ngựa xích thố, Quang Vũ lại tạ Tào Tháo.
Khi Tào Tháo hỏi tại sao nhận các món quả khác không tạ ơn sâu sắc mà nhận ngựa lại mừng rỡ như vậy,
Quang Vũ thẳng thắng trả lời rằng, nhờ có con ngựa ngay đi ngàn dặm này,
ngay khi biết tân tức của anh mình, ông có thể trở về bên Lưu Bị một cách nhanh nhất.
Câu trả lời khiến Tào Tháo vừa thang thở, vừa càng thêm không phục tấm lòng của ông.
Cùng thời điểm đó, trận chiến sinh tử giữa Tào Tháo và Viên Thiệu bùng nổ tại trận Quang Độ.
Viên Thiệu cử đại tướng Nhan Lương, một mảnh tướng uy danh lừng lẫy của vùng Hà Bắc, dẫn đại quân tấn công điểm quân sự Bạch Mã.
Quân Tào rơi vào thế yếu, liên tiếp thất bại.
Nhiều tướng dưới quyền Tào Tháo không thể địch lại Nhan Lương.
Trong tình thế cắp bách, Tào Tháo đành phải cầu cứu Quang Vũ.
Quang Vũ nhận lời ra trận để đáp trả ân tình mà Tào Tháo đã dành cho mình trong thời gian qua.
Cửi trên lưng ngựa sức thố, cầm thanh long yển nguyệt đao, Quang Vũ lao thẳng vào giữa hàng vạn quân địch tại Bạch Mã.
Trước sự ngỡ ngàng của cả hai bên, ông xông thẳng tới chuyến chỉ huy của Nhan Lương,
vung đao chém đầu Nhan Lương ngay giữa quân ngủ rồi sách đầu trở về, khiến quân Viên Thiệu tan vỡ hoàn toàn.
Không lâu sau, tại trận Diên Tân, Quang Vũ tiếp tục ra trận và đánh bại mảnh tướng văn xú của Viên Thiệu,
giải tỏa hoàn toàn nguy cơ cho Tào Tháo tại mặt trận phía Bắc.
Với chiến công hiện hách này, Tào Tháo đã tâu lên Hán Hiên Đế phong cho Quang Vũ chức Hán Thọ Định Hầu,
trao tặng ấn tính và nhiều phần thưởng hậu hỉnh.
Quang Vũ đóng nhận danh hiệu này, nhưng hiểu rằng nhĩa trả ân Tào Tháo đến đây đã tròn vẹn.
Ông bắt đầu tìm kiếm thông tin về Lưu Bị, và không lâu sau, ông nhận được mật thư từ Lưu Bị,
lúc này đang ở trong quân đội của Viên Thiệu.
Ngay khi xác nhận được tung tích của Lưu Bị, Quang Vũ quyết định thực hiện lời hứa ban đầu,
ông đem toàn bộ vàng bạc của cái Tào Tháo đã tặng niêm phong lại trong kho,
treo ấn Hán Thọ Định Hầu lên xà nhà, viết một thư từ biệt Tào Tháo,
rồi hồ tiễn hai người chị dâu lên xe, bắt đầu hành trình rời khỏi hứa xương để đi tìm anh.
Tào Tháo khi biết tin Quang Vũ ra đi, dù các tướng dưới quyền đòi truy đuổi và giết chết,
đã thở dài cảm thắng về lòng trung nghĩa của ông và ra lệnh cho các quan án không được cản đường.
Tuy nhiên, do lệnh ban hành không kịp thời, hành trình di chuyển của Quang Vũ đã gặp phải sự cản trở dữ dội
từ các tướng trấn dự các cửa quang của Tào Tháo, những người không chịu mở cửa cho ông qua nếu không có chiếu trị của Tào Tháo.
Điều này đã dẫn đến thiên anh hùng ca thập lý tầm huynh hay hành trình qua năm cửa quang chém sáu tướng Tào lừng lẫy.
Từ Đống Quận qua sông Hoàng Hà, Quang Vũ đã lần lượt vượt qua cửa quang Đông Lĩnh chém Khổng Tú,
cửa quang Lạc Dương chém Hàng Phúc và Mã Diên, cửa quang Nghi Thủy chém Biện Hỉ,
cửa quang Huỳnh Dương chém Vương Thực và cửa quang Trượt Độ chém Tần Kỳ.
Bằng sức mạnh phi thường và lòng quyết tâm sắt đá, Quang Vũ đã bảo vệ an toàn cho hai người chị dâu vượt qua muôn vàng nguy hiểm.
Cuối cùng, tại Cổ Thành, Quang Vũ đã hội ngộ với Trương Phi.
Ban đầu, Trương Phi nghi ngờ Quang Vũ phản bội theo Tào Tháo nên đã nổi giận đòi quyết chiến.
Để chứng minh lòng trung thành của mình, Quang Vũ đã chém chết Sài Dương,
một tướng Tào đuổi theo truy kích chỉ trong ba hội trống thuốc của Trương Phi.
Sự nghi ngờ được giải tỏa trong giọt nước mắt nghẹn ngào của hai anh em.
Không lâu sau, Lưu Bị cũng từ chỗ viên thiệu thoát ra và tìm đến Cổ Thành.
Ba nèm Lưu, Quang, Trương lại được đoàn tụ bên nhau sau bao sóng gió, tiếp tục hành trình gây dẫn lại cơ nghiệp.
Sau khi hội ngộ đầy xúc động tại Cổ Thành, ba nèm Lưu, Quang, Trương cùng nhau chiêu mộ lại tàn quân
và tìm kiếm một địa bàn mới để dung thân.
Năm 201, Lưu Bị dẫn quân xuống phía Nam nương nhờ Lưu Biểu, Thứ Sử Kinh Châu
và cũng là một người trong họ tộc Nhà Hán.
Lưu Biểu tiếp đóng Lưu Bị rất nồng hậu nhưng trong lòng luôn cảnh giác,
nên đã giao cho Lưu Bị trấn giữ huyện Tân Giả ở biên giới phía Bắc Kinh Châu
để làm bức tường thành ngăn chặn quân Tàu Tháo từ phương Bắc tràn xuống.
Tại Tân Giả, Quang Vũ cùng Trương Phi chịu trách nhiệm huấn luyện quân sĩ, củng cố lực lượng.
Dù địa bàn Tân Giả nhỏ hẹp và quân số ít ỏi, Quang Vũ vẫn ghi trì kỷ lục quân đội nghiên minh
ngày đêm luyện tập võ nghệ và binh pháp cho quân lính.
Khoảng thời gian này kéo dài nhiều năm, tuy tương đối bình yên,
nhưng cũng là lúc Lưu Bị nhận ra rằng nếu chỉ dựa vào sức mạnh cơ bắp
và sự dũng cảm của các võ tướng thì không thể làm nên sự nghiệp lớn.
Bước ngoặt chiến lược xuất hiện vào năm 207 khi Lưu Bị ba lần đến Lèo Cỏ
mời Gia Các Lượng từ Khổng Minh ra xuất sơn.
Sự xuất hiện của Gia Các Lượng với lông trung đối sắp đã vặt ra con đường rõ ràng,
chiếm Kinh Châu, lấy Ít Châu, liên minh với tôn quyền ở Đông Ngô để cùng chống Tàu Tháo.
Ban đầu, Quang Vũ và Trương Phi vốn là những mảnh tướng từng trải chiến trường,
không tránh khỏi sự hoài nghi và bất mãn khi thấy Lưu Bị đối xử quá mực kính trọng
với một văn sĩ trẻ tuổi như Gia Các Lượng.
Tuy nhiên, qua các trận chiến phòng thủ sau đó, bằng sự mưu trí vượt trội của Gia Các Lượng,
Quang Vũ đã hoàn toàn tháng phục và chấp nhận sự chỉ huy của ông.
Năm 208, Tàu Tháo sau khi dẹp xong lực lượng họ viên ở phía Bắc
đã quyết định cất 20 vạn đại quân tiến xuống phía Nam nhằm đè bẹp Kinh Châu,
hoàn thành mục tiêu thống nhất thiên hạ.
Đúng lúc này, Lưu Bị qua đời vì bệnh nặng.
Con trai thứ là Lưu Tông Nối Ngôi đã lén lút đầu hàng Tàu Tháo mà không báo cho Lưu Bị biết.
Rơi vào thế bị động, Lưu Bị buộc phải bỏ tân giả,
dẫn theo hàng vạn dân chúng rút chạy về phía Nam, hướng về Giang Lăng,
nơi chứa nhiều binh khí và lương thảo của Kinh Châu.
Trong cuộc rút chạy giang khổ này, Gia Các Lượng và Lưu Bị đã giao cho Quang Vũ
một nhiệm vụ có tính chất sống còn, dẫn một đội thủy quân gồm hàng trăm chiến thuyền
đi theo đường sông thủy tới Giang Lăng để đón đại quân.
Đây là một quyết định chiến lược sáng suốt.
Khi đại quân của Lưu Bị bị kỵ binh tinh nhuệ của Tàu Tháo truy đuổi gắt gao
và đánh tan tác tại trận Đương Dương, Trường Bản,
Lưu Bị cùng một số ít tướng lĩnh phải tháo chạy trong nguy cấp.
Đúng lúc tình thế nghìn cân treo sợi tóc, thủy quân của Quang Vũ đã kịp thời xuất hiện trên sông,
đón Lưu Bị và tàn quân lên thuyền, thoát khỏi sự truy sát của quân Tàu và rút về hạ khẩu an toàn.
Tại hạ khẩu, nhận thấy một mình lực lượng của Lưu Bị không thể chống lại sức mạnh vũ bão của Tàu Tháo
và các lượng đã đích thân sang Đông Ngô sang thuyết phục tôn quyền hợp lực.
Sự hợp tác giữa tôn quyền và Lưu Bị đã tạo nên đại chiến xích bích lừng lẫy trong lịch sử.
Trong chiến dịch này, Quang Vũ chỉ huy lực lượng thủy quân của Lưu Bị,
phối hợp chặt chẽ với Đô Đốc Chu Du của Đông Ngô.
Khi đại quân Tàu Tháo bị liên quân Ngô Lưu dùng hỏa công đốt cháy rụi chiến thuyền tại xích bích,
Tàu Tháo đành phải dẫn tàn quân Tháo chạy hỗn loạn về Bắc qua con đường hẹp hẻm Dung.
Theo diễn biến chính sự, Quang Vũ được phân công đóng quân chặn đánh các ngã đường rút lui của quân Tàu.
Mặc dù Tàu Tháo kiệt sức và rơi vào thế đường cùng,
Quang Vũ do ghi nhớ ân tình cũ mà Tàu Tháo đã dành cho mình năm xưa tại Hứa Sương
cùng với sự cầu sinh của Tàu Tháo đã mở một đường sống cho Tàu Tháo thoát thân.
Dù chi tiết này có nhiều yếu tố hư cấu trong văn học,
nó vẫn phản ánh rõ nét bản tính trọng nghĩa khinh tài trước sau như một của Quang Vũ.
Sau thất bại thảm hại tại xích bích, Tàu Tháo phải rút về phương Bắc để củng cố lực lượng,
để lại châu quận Kinh Châu rơi vào khoảng trống quyền lực.
Liên quân Ngô Lưu bắt đầu cuộc chiến giành giật vùng đất chiến lược này.
Chù Dù trực tiếp dẫn quân Ngô tấn công trọng điểm Nam Quận do tướng Tàu là Tàu nhân trấn giữ.
Trong khi quân Ngô bị cầm chân trong cuộc chiến giành co tốn kém tại Nam Quận,
gia các lượng đã hiến kế cho Lưu Bị cử Quang Vũ, Trương Phi và các tướng nhanh chóng tiến xuống Phi Nam
chiếm lấy 4 quận Kinh Nam gồm Vũ Lăng, Linh Linh, Quế Dương và Trường Sa.
Tại chiến dịch thu phục 4 quận Kinh Nam, Quang Vũ đảm nhận hướng tấn công quan trọng vào quận Trường Sa,
nơi được trấn giữ bởi thái thú Hàng Huyền cùng mảnh tướng Lão Thành Hoàng Trung.
Tại đây, Quang Vũ đã có cuộc đọa sức kịch liệt với Hoàng Trung.
Cả hai đều kính trọng tài năng và nghĩa khí của nhau.
Quang Vũ không lỡ xuống tay khi ngựa của Hoàng Trung bị ngã,
còn Hoàng Trung hôm sau chỉ bắn trúng chõm mũ của Quang Vũ để đáp lễ thay vì bắn chết ông.
Sau khi Hàng Huyền bị hạ sát và Trường Sa hạng phục,
Quang Vũ đã tiến cử Hoàng Trung cho Lưu Bị, giúp phe Lưu Bị có thêm một danh tướng kiệt xuất.
Việc chiếm được 4 quận Kinh Nam cùng với việc Lưu Bị mượn thành 5 quận từ Tây Đông Ngô
đã giúp Lưu Bị lần đầu tiên có được một căn cứ địa hoàn chỉnh, rộng lớn và giàu có.
Kinh Châu trở thành bàn đạp chiến lược để Lưu Bị thực hiện bước tiếp theo trong kế hoạch của Gia Cát Lượng.
Năm 211, Lưu Trương, người quản lý vùng đất Ít Châu, nay thuộc Tứ Xuyên,
do sợ hãi thế lực của Trương Lộ ở Hán Trung nên đã gửi thư mời Lưu Bị mang quân vào Ít Châu hỗ trợ.
Nhận thấy đây là cơ hội ngàn năm có một để chiếm lấy vùng đất trù phú này,
Lưu Bị quyết định dẫn Gia Cát Lượng, bàn thống cùng các tướng vào Tứ Xuyên.
Việc bỏ lại căn cứ gốc Kinh Châu, nơi tiếp giáp trực tiếp với cả Tàu Tháo ở phía Bắc
và Tôn Quyền ở phía Đông là một thử thách vô cùng lớn.
Lưu Bị cần một người vừa có uy danh trấn áp thiên hạ, vừa có tài quân sự kiệt xuất,
lại có lòng trung thành tuyệt đối để giao phó trọng trách toàn quyền quản lý Kinh Châu.
Không ai khác, Quang Vũ chính là lựa chọn duy nhất và hoàn hảo nhất.
Ông được trao quyền Tổng Chỉ huy quân sự và hành chính tại Kinh Châu,
nắm trong tay toàn bộ lực lượng chủ lực còn lại tại đây.
Trong những năm đầu trấn giữ Kinh Châu, Quang Vũ đã thể hiện khả năng trị quốc và quân sự xuất sắc.
Ông cho gia cố hệ thống phòng thủ, đặc biệt là việc xây dựng và củng cố thành gian lăng,
trở thành một pháo đài kiên cố bật nhất thời bấy giờ.
Ông huấn luyện thủy quân Kinh Châu thành một lực lượng chiến đấu cực kỳ tinh nhuệ trên sông nước,
khiến cả Tào Tháo lẫn Tôn Quyền đều vô cùng e dè, không dám nhẹ nhõm tiến công.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa phe Lưu Bị và Đông Ngô tại Kinh Châu ngày càng trở nên căng thẳng.
Tôn Quyền luôn coi Kinh Châu là vùng đất thuộc về Đông Ngô và tìm mọi cách để đòi lại.
Năm 215, sau khi Lưu Bị đã hoàn thành việc chiếm trọn Ít Châu,
Tôn Quyền cử Gia Cát Cẩn sang đòi lại các quận Kinh Châu, nhưng Lưu Bị thoái thát.
Tôn Quyền nổi giận, cử Đại tướng Lỗ Túc dẫn quân áp sát biên giới để gây áp lực.
Trước nguy cơ bùng nổ chiến tranh giữa hai đồng minh,
Quang Vũ đã nhận lời tham gia cuộc thương lượng trực tiếp với Lỗ Túc tại khu vực biên giới.
Sự kiện này được lịch sử ghi nhận qua hình ảnh Quang Vũ chỉ mang theo một thanh đao
cùng một số ít cận vệ bơi thuyền sang bờ bên kia gặp Lỗ Túc,
thể hiện sự dũng cảm phi thường và khí thái mốt trời.
Mặc dù cuộc đàm phán diễn ra vô cùng gây gắt về chủ quyền Kinh Châu,
nhưng do Tào Tháo cùng lúc đó đang cất quân tấn công Hán Trung,
đe dọa trực tiếp đến Ít Châu của Lưu Bị, Lưu Bị buộc phải giảng hòa với Tôn Quyền.
Sự giàn xếp tạm thời này giúp Quang Vũ tập trung toàn bộ lực lượng
để đối phó với mối đe dọa từ phía bắc của Tào Tháo.
Trong suốt nhiều năm trấn giữ Kinh Châu, ưu danh của Quang Vũ không ngừng gia tăng.
Ông không chỉ là một phân dậu vững chắc bảo vệ sườn phía đông
cho Lưu Bị đang chinh chiến ở Ít Châu,
mà còn là một lưỡi đao sắt bén sẵn sàng đâm thẳng
vào trung tâm quyền lực của Tào Tháo bất cứ lúc nào.
Năm 219, Lưu Bị đánh bại Tào Tháo trong chiến dịch Hán Trung khốc liệt
và tự sưng là Hán Trung Vương.
Để thưởng công cho các danh tướng đã cống hiến cho sự nghiệp,
Lưu Bị phong tặng danh hiệu Ngũ Đại Tướng Quân,
trong đó Quang Vũ đứng đầu hàng ngũ cùng với Trương Phi,
Mã Siêu, Hoàng Trung và Trựu Vân.
Đồng thời, Lưu Bị tâu lên triệu đình phong cho Quang Vũ chức tiện tướng quân,
trao giả tiết, quyền hạng thay mặt quân vương,
toàn quyền quyết định việt binh và xử phạt ở biên giác.
Đứng trên đỉnh cao của uy danh và quyền lực,
Quang Vũ nhận thấy thời cơ thực hiện nửa còn lại của lòng trung đối sách đã đến.
Khi Ích Châu đã ổn định,
quân Kinh Châu sẽ xuất kích tiến thẳng vào Trung Nguyên để khôi phục nhà Hán.
Ông bắt đầu chuẩn bị cho một chiến dịch quân sự quy mô lớn,
tiến công lên phía Bắc dọc theo dòng sông Hán Thủy,
nhắm thẳng vào các căn cứ chiến lược trọng yếu của Tàu Tháo là Phàng Thành và Tương Dương.
Chiến dịch đánh chiếm Phàng Thành chính là thời khắc đỉnh cao nhất trong cuộc đời binh nghiệp của Quang Vũ,
nơi tài năng quân sự và sự uy nghi của ông khiến ca phè Tàu lấn tôn quyền đều phải rung sợ.
Tháng 7 năm 219, Quang Vũ đích thân dẫn đại quân Kinh Châu tiến lên phía Bắc,
vây hãm thành Tương Dương và Phàng Thành.
Đây là hai vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng,
được xem là cánh cửa ngõ bảo vệ vùng Trung Nguyên của Tàu Tháo.
Tránh giữ Phàng Thành lúc này là Tàu Nhân,
một danh tướng phòng thủ kiệt xuất của phe Tàu,
cùng với sự hỗ trợ của thái thú nhữ Nam là Thường Điêu.
Ngay khi tiếp cận chiến trường, Quang Vũ đã triển khai quân đội một cách bài bản,
chi cắt hoàn toàn sự liên lạc giữa Tương Dương và Phàng Thành.
Sự tấn công dồn dập và kỷ luật thép của quân Kinh Châu
khiến Tàu Nhân rơi vào thế bị động, buộc phải cố thủ trong thành
và phát thư cấp báo về hứa xương, xin viện binh khẩn cấp.
Nhận thấy tình thế nguy cấp tại Phàng Thành,
Tàu Tháo lập tức cử trình bắt tướng quân Vũ Cấm,
một trong ngũ tử lan tướng, lừng lẫy của nhà Tàu,
dẫn 7 đạo quân tinh nhuệ khoảng 3 vạn người tiến xuống phía Nam cứu viện.
Đi cùng Vũ Cấm là Bạn Đức, một mảnh tướng vô cùng dũng mảnh,
người đã mang theo cả quang tài ra chiến trường để thể hiện quyết tâm quyết tử với Quang Vũ.
Cuộc đòi sức giữa Quang Vũ và Bạn Đức diễn ra vô cùng kịch liệt.
Trong một trận giáp lá cà, Bạn Đức đã dương cung bắn trúng cánh tay của Quang Vũ,
khiến ông bị thương.
Tuy nhiên, vết thương không thể làm nhục chí vị tướng dũng mảnh.
Quang Vũ nhanh chóng nhận ra điểm yếu chết người trong cách đóng quân của phe Tàu.
Vào tháng 8 năm đó, mùa mưa đến, nước sông Hán Thủy dân cao đột ngột.
Vũ Cấm do không thông thuộc địa hình sông nước miền Nam,
đã đóng 7 đảo quân ở vùng đồng bằng thấp dưới chân núi.
Thấy mực nước sông dân cao từng ngày, Quang Vũ đã thể hiện tầm nhìn chiến lược xuất sắc.
Ông cho chuẩn bị sẵn lực lượng thủy quân cùng các chiến thuyền lớn,
đồng thời ra lệnh đắp đập ngăn nước ở thượng nguồn sông Hán Thủy.
Khi nước sông tức tụ đủ lớn, Quang Vũ ra lệnh phá đập, xả nước tràn xuống đồng bằng.
Dòng nước lũ hung hãng đổ gục xuống doanh trại quân Tàu,
nhấn chìm toàn bộ 7 đảo quân của Vũ Cấm.
Hàng vạn binh lính Tàu bị cuốn trôi hoặc chết đuối, khí giới và quân lường mất sạch.
Nằm trên chiến thuyền cao, quân Kinh Châu của Quang Vũ dùng tên bắn
và tiêu diệt tàn quân Tàu đang trôi giặc trên dòng nước.
Vũ Cấm cùng hàng vạn binh sĩ rơi vào thế cùng đường, buộc phải đầu hàng Quang Vũ.
Riêng mãnh tướng bạn Đức kiên quyết không hàng,
liên tục chửi mắng nên đã bị Quang Vũ ra lệnh sự tử.
Chiến thắng vang dội tại Hán Thủy đã đưa uy danh của Quang Vũ lên tới đỉnh cao chói lọi.
Ông không chỉ bắt sống chủ tướng Vũ Cấm, tiêu diệt hoàn toàn viện binh tinh nhuệ của Tàu Tháo,
mà còn tiếp tục xiết chặt vòng vây phàn thành.
Tin tức về trận thắng lan truyền khắp nơi,
các lực lượng phản Tàu tại vùng Lương Bằng, Hứa Sương và nhiều quận huyện lân cận đồng loạt nổi dậy,
nhận ấn tính của Quang Vũ để làm nổi ứng.
Suất ép khổng lồ từ Quang Vũ khiến cả đế chế Tàu Tháo chấn động.
Tàu Tháo ở Hứa Sương hoãn sợ đến mức đã bàn bạc với các quan lại
về việc dời đô từ Hứa Sương về phía Bắc để tránh mũi nhọn tiến công của Quang Vũ.
Tuy nhiên, hai cố vấn của Tàu Tháo là Tư Mã Ý và Tưởng Tế đã ca ngăn.
Họ chỉ ra rằng Tôn Quyền ở Đồng Ngô chắc chắn không muốn thấy Quang Vũ đắc trí.
Chỉ cần Tàu Tháo hứa nhượng vùng đất phía Nam sông Hán Thủy cho Tôn Quyền,
Đồng Ngô nhất định sẽ đánh lén sau lưng Quang Vũ.
Lời phân tích của Tư Mã Ý đã đánh trúng vào điểm mấu chốt của cuộc diện.
Tôn Quyền từ lâu đã luôn thèm khát kinh châu và vô cùng lo sợ sức mạnh ngày càng lớn của Quang Vũ.
Trước đó, Tôn Quyền từng cử Sứ Giả sang cầu hôn con đái Quang Vũ cho con trai mình nhằm thắt chặt quan hệ.
Nhưng Quang Vũ với tính cách kiêu ngạo đã thẳng thường từ chối, thậm chí còn buôn lời xúc phạm Sứ Giả.
Sự việc này làm Tôn Quyền vô cùng tức giận và quyết định bắt tay ngầm với Tàu Tháo.
Trong khi Tàu Tháo cử danh tướng Từ Hoãn dẫn một lực lượng viện binh mới tiến xuống Phàng Thành để cầm chân Quang Vũ,
thì ở phía sau lưng ông, một cơn bão ngầm đang âm thầm hình thành từ phía đông ngô.
Tôn Quyền bổ nhiệm Lữ Mông làm đại đô đốc thay Lỗ Túc.
Lữ Mông là người gian hùng và mưu lược.
Ông hiểu rằng nếu đánh trực diện với Quang Vũ thì quân ngô khó lòng chiến thắng.
Do đó, Lữ Mông giả vờ cáo bệnh sinh về ngô quần diễn bệnh, tiến cử một viên tướng trẻ tuổi vô danh là Lục Tốn lên thay.
Lục Tốn ngay lập tức viết thư gửi cho Quang Vũ với những lời lẽ vô cùng khiêm tốn,
ca ngợi công đức và sức mạnh của Quang Vũ, tự nhận mình chỉ là kẻ tiểu sinh không đáng bận tâm.
Sự nhúng nhường của Lục Tốn cùng với chuỗi chiến thắng liên tiếp
đã khiến Quang Vũ nảy sinh tâm lý chủ quan, coi thường lực lượng đông ngô.
Cho rằng phía đông ngô hoàn toàn không có khả năng và dũng khí tấn công Kinh Châu,
Quang Vũ đã phạm phải một sai lầm chiến lược nghiêm trọng.
Ông rút bớt phần lớn lực lượng quân sự tinh nhuệ ở thành Giang Lăng và Nam Quận
để viện trợ cho mặt trận phàn thành.
Chính sự sơ hở này đã tạo điều kiện cho Lữ Mông thực hiện kế hoạch Bạch Y Độ Giang, áo trắng sang sông.
Quân ngô cải trang thành các thương nhân áo trắng lẽn lúc tiến thuyền qua sông,
tiêu diệt các trạm gác ven sông của Quang Vũ mà không làm động tỉnh.
Quân ngô nhanh chóng tiếp cận và bao vây hai pháo đài chiến lược là Giang Lăng và Mỹ Lăng.
Trấn giữ Giang Lăng lúc này là Mịch Phương, em vợ Lưu Bị, và trấn giữ Mỹ Lăng là Phó Sĩ Nhân.
Cả hai viên tướng này vốn từ lâu đã bất mãn với Quang Vũ do thường xuyên bị ông quở trách
và đe dọa xứ phạt vì thiếu sót trong việc cung ứng quân lương.
Khi quân ngô áp sát và Lữ Mông ra sức dù dỗ,
cả Mịch Phương lẫn Phó Sĩ Nhân đều quyết định mở cửa thành đầu hàng mà không hề kháng cự.
Chỉ trong một thời gian ngắn, toàn bộ hậu phương Kinh Châu,
căn cứ địa vững chắc nhất của Quang Vũ đã rơi hoàn toàn vào tay đông ngô,
mà Quang Vũ ở mặt trận phía Bắc vẫn chưa hề hay biết.
Tại mặt trận Phàng Thành, Quang Vũ bắt đầu gặp phải sự kháng cự dữ dội từ quân viện binh của Từ Hoảng.
Trận chiến dặn co kéo dài khiến quân Kinh Châu bắt đầu mệt mỏi.
Đúng lúc này, tin tức chấn động về việc Giang Lăng và Mỹ Lăng thất thủ,
Mịch Phương và Phó Sĩ Nhân phản bội vọt tới mặt trận.
Rời vào thế lưỡng đầu thọ địch, hậu phương mất sạch, phía trước là quân tàu dũng mãnh,
Quang Vũ buộc phải đưa ra quyết định đắng nhắc,
bãi bỏ việc bao vây Phàng Thành và ra lệnh rút quân về phía Nam nhằm chiếm lại Kinh Châu.
Tuy nhiên, Lữ Mông ở Giang Lăng đã dùng một kế sách vô cùng thâm độc.
Ông đã đối xử cực kỳ tử tế với gia quyến của binh sĩ quân Kinh Châu,
bàn phát lương thực và bảo vệ an toàn cho họ.
Khi Quang Vũ liên tục cử sứ giả về Giang Lăng thăm dò tình hình,
Lữ Mông đều tiếp đón nồng hậu và cho sứ giả thấy cuộc sống bình yên của gia đình các binh sĩ.
Khi các sứ giả trở về quân ngủ và lan truyền thông tin này,
tinh thần chiến đấu của quân Kinh Châu hoàn toàn tan rã.
Lính sĩ không còn lòng giả nào chiến đấu,
họ rủ nhau bỏ trốn hàng loạt trong đêm để trở về nhà với vợ con.
Lực lượng hàng vạn quân tinh nhuệ của Quang Vũ cứ thế hao hụt nhanh chóng
mà không cần qua một trận chiến nào.
Nhận thấy tình thế đã hoàn toàn tuyệt vọng, không thể chiếm lại Giang Lăng,
Quang Vũ đành phải dẫn theo vài trăm tàn quân trung thành rút dậy về hướng thành Mạch Thành,
thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay, để cố thủ,
đồng thời phát thư cấp báo về Ít Châu, xin lưu bị và lưu phong,
trấn giữ thượng dung, cử viện binh đến cứu viện.
Sau khi phải rút về cố thủ tại Mạch Thành, Quang Vũ rơi vào tình thế vô cùng hiếm nghèo.
Thành Mạch Thành vốn là một tòa thành nhỏ hẹp, quân số trong thành lúc này
chỉ còn võn vẹn vài trăm binh sĩ kiệt sức, trong khi lương thảo và binh khí đã điêu tàn hoàn toàn.
Từ trên tường thành nhìn ra, Quang Vũ chỉ thấy cờ hiệu của Đại quân Đông Ngô giăng kính bốn phía.
Lửa mông và lục tốn đã cho quân siết chặt phòng vây,
lập thành nhiều tầng rào trắng nhằm quyết không cho vị danh tướng thoát thân.
Trong hoàn cảnh đèn tối ấy, hy vọng duy nhất của Quang Vũ
là lực lượng viện binh từ Thượng Dung do Lưu Phong, con nuôi của Lưu Bị và Mã Mạnh Triệt tránh giữ,
cũng như quân cứu viện từ Tứ Xuyên do Lưu Bị xua sang.
Tuy nhiên, lời cầu cứu khẩn cấp của Quang Vũ gửi tới Thượng Dung đã bị từ chối thẳng thừng.
Lưu Phong và Mã Mạnh Triệt lấy lý do vùng đất Thượng Dung mới thu phục còn chưa ổn định,
lòng dân chưa yên nên không thể phân chia lực lượng đi cứu viện.
Về phía Ít Châu, do khoảng cách địa lý quá xa xôi, đường xá hiểm trở và thông tin bị gián đoạn,
đại quân của Lưu Bị và Gia Cát Lượng đã không kịp thời ứng cứu.
Sự lạnh lùng của các tướng lĩnh cùng sự chậm trễ của viện binh
đã đẩy Quang Vũ cùng đứa con trai Quang Bình và những binh sĩ thân tính còn lại
vào thế hoàn toàn cô độc giữa vòng vây của kẻ thù.
Nhận thấy không thể tiếp tục cố thủ trong tòa thành cạn kiệt lương thực,
Quang Vũ quyết định thực hiện cuộc phá vỡ vòng vây vào bản đêm.
Ông để lại một số ít binh sĩ giả vờ đầu hàng trên tường thành để đánh lừa quân Ngô,
còn bản thân cùng Quang Bình và vài chục kỳ binh dũng cảm nhất
âm thầm mở cửa phía bắc mạch thành,
chọn con đường nhỏ hiểm trở qua vùng Lâm Thư để chạy về hướng Ít Châu.
Tuy nhiên, Lưu Mông đã đoán trước được ý định đào tẩu này.
Quân Đồng Ngô do các tướng Chu Nhiên và Phan Chương chỉ huy
đã phục kích sẵn tại các con đường hẹp ở Lâm Thư.
Khi quân của Quang Vũ di chuyển qua hẻm núi trong đêm tối,
quân Ngô từ hai bên đường đổ ra tấn công dường dập,
dùng dây móc và câu liêm gian sẵn để bẫy kỳ binh.
Trong trận phục kích tàn khốc này, ngựa xích thố bị trúng bẫy gột xuống,
Quang Vũ cùng con trai Quang Bình bị quăng ngã khỏi lưng ngựa
và bị tướng dưới quyền Phan Chương làm mã trung bắt sống
Khi bị giải đến trước mặt Tôn Quyền,
Quang Vũ vẫn giữ nguyên khí thái hiền ngang, uy nghi của một vị danh tướng.
Tôn Quyền ban đầu vúng mến tài và có ý muốn thu phục ông để phụng sự cho Đồng Ngô.
Nhưng các cố vấn của Tôn Quyền đã căng ngăn.
Họ nhắc nhở Tôn Quyền về bài học của Tào Tháo năm xưa.
Tào Tháo đãi ngộ Quang Vũ hết mực, nhưng cuối cùng ông vẫn bỏ đi,
để rồi sau đó suýt nửa khiến Tào Tháo phải dời đô.
Họ cảnh báo rằng Quang Vũ là người lòng trung thành trọn đời dành cho lưu bị,
không bao giờ chịu phục tùng kẻ khác, giữ lại chỉ gieo mầm họa về sau.
Hiểu rằng không thể thu phục được trái tim vị danh tướng,
Tôn Quyền đành phải ra lệnh sử tử Quang Vũ cùng con trai Quang Bình tại Lâm Thư.
Năm đó, Quang Vũ khoảng gần 60 tuổi.
Sự ra đi của Quang Vũ đã tạo ra một cơn chấn động sâu sắc khắp thiên hạ.
Sau khi sát hại ông, Tôn Quyền lo sợ lưu bị sẽ dốc toàn bộ lực lượng ở Tứ Xuyên sang báo thù,
nên đã dùng một kế sách nhằm đổ trách nhiệm cho Tào Tháo.
Tôn Quyền cho sai người chặt đào Quang Vũ rồi bỏ vào hộp kính,
dân lên cho Tào Tháo ở Lạc Dương,
với ý đồ chứng minh rằng việc sát hại Quang Vũ là theo ý Tào Tháo.
Tuy nhiên Tào Tháo, người vốn luôn dành cho Quang Vũ sự khâm phục sâu sắc,
đã thấu kính được mưu độ của Tôn Quyền.
Tào Tháo không những không mắc bẫy,
mà còn ra lệnh chạm một thân tượng bằng gỗ trầm hương ghép vào thủ cấp của Quang Vũ,
rồi cử hành cử lễ an tán ông theo nghi thức dành cho một vương hầu tại Lạc Dương.
Bản thân Tào Tháo và các quan lại nhà Tào
đã trực tiếp đến trước linh cử Quang Vũ để bái lễ và thương tiếc.
Ở phía Đông Ngô, Tôn Quyền sau đó cũng phải cho an tán phần thân thể của Quang Vũ
tại Đương Dương theo nghi lễ trang trọng để xoa dịu dư luận.
Do đó, trong dân gian Trung Hoa sau này mới lưu truyền câu nói nổi tiếng về nơi an nghĩ của ông
Đầu gối Lạc Dương, thân nằm Đương Dương, hồn về cố hương.
Tin tử trận của Quang Vũ truyền về thành đô
đã gây ra một niềm đau thương vô hạn cho Lưu Bị và Trương Phi.
Mối tình anh em kết nhĩa sâu nặng từ vườn đào năm xưa bị xé rách thảm hại.
Lưu Bị đau đớn đến mức ngất đi nhiều lần, gạt bỏ mọi lời can ngăn
mang tính chiến lược của Gia Cát Lượng và Triệu Vân,
quyết định phát động chiến dịch Di Lăng khổng lồ, tấn công Đông Ngô để trả thù cho em.
Chính cái chết của Quang Vũ đã trở thành quân cờ sụp đổ đầu tiên
kéo theo sự ra đi của Trương Phi, thất bại thảm hại của Lưu Bị
tại trận Di Lăng và sự suy yếu nghiêm trọng của nhà thuộc Hán sau này.
