TÓM TẮT CUỘC ĐỜI TÀO THÁO : Anh hùng hay gian thần ?

Đình Sự
540 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIThis biographical account details the life of Cao Cao, a complex figure of China's Three Kingdoms period. It traces his ascent from a stigmatized youth to the dominant power in Northern China, highlighting his duality as a brilliant strategist and poet versus a ruthless, suspicious leader. The narrative covers his military triumphs, political manipulations, and his ultimate failure to unify the empire.
Trong dòng chảy cuồn cuộn của lịch sử Trung Hoa,
dài đoạn Tam Quốc luôn là một trong những khúc ca bi hùng nhất,
nơi những anh hùng và gian hùng cùng chung một vũ đài.
Và nếu phải chọn ra một nhân vật đại diện cho sự phức tạp,
mâu thuẫn nhưng vô cùng vĩ đại của thời đại đó,
người ta không thể không nhắc đến Tào Tháo.
Là một nhà chính trị lỗi lạc, một nhà quân sự kiệt xuất,
một nhà thơ tài hoa, nhưng đồng thời cũng là một kẻ đa nghi, tàn nhẫn,
Tào Tháo suốt cả cuộc đời đã dùng thanh ngươm và trí tuệ
để dọn dẹp đống đổ nát của vương triệu nhà Hán,
đặt nền móng vững chắc cho vương triệu Tào Nguy sau này.
Cuộc đời ông là một chuỗi những quyết định sinh tử,
những canh bạc chính trị nghẹt thở,
mà ở đó ranh giới giữa một vị cứu tinh và một kẻ chiếm ngôi
chỉ cách nhau trong gan tích.
Hứa trẻ Tào Tháo chào đời trong một gia đình có thế lực,
nhưng lại mang một vết nhơ lớn để mặc xuất thân trong mắt giới quý tập đương thời.
Cha ông, Tào Sùng, là con nuôi của trung thường thị Tào Đằng,
một hoạn quang có quyền thế cực lớn trong chủ định nhà Hán.
Dù được sống trong nhung lụa và có một bệ phóng gia thế vững chắc,
xuất thân cháu của hoạn quang luôn là một bóng đen bám theo Tào Tháo suốt thời niên thiếu,
khiến ông bị giới sĩ tộc chính thống khinh rẽ.
Lớn lên trong một xã hội mà vương triệu Đông Hán đang bước vào giai đoạn hoàng hôn,
triệu chính thối nát, hoạn quang và ngoại thích chém giết lẫn nhau
để tranh giành quyền lực, còn người dân thì lầm than khắp chốn.
Ông thích săn bắn, mê binh pháp, thích kết giao với những kẻ du hiệp
và bọc lộ một tính cách vô cùng phóng túng, mưu mẹo,
đôi khi là cả sự giang xảo để đạt được mục đích của mình.
Bước ngoặt đầu tiên định hình danh tiếng của Tào Tháo đến từ những lời nhận xét
mang tính chất đóng dấu của các nhà phê bình nhân vật nổi tiếng thời bấy giờ,
một thủ tục tối quan trọng để bước vào quang lộ thời Đông Hán.
Khi đến gặp hứa thiệu, một danh sĩ có mắt nhìn người cực chuẩn,
Tào Tháo đã nhận được một lời phê mà sau này đã đi vào điển tích lịch sử.
Chàng là năng thần trị thế, gian hùng thời loạn.
Câu nói này không làm Tào Tháo tức giận mà ngược lại khiến ông vô cùng đắc trí,
bởi ông biết rõ thời cuộc mà mình đang sống chắc chắn không phải là một thời trị,
mà là một thời loạn lạc chưa từng có.
Năm 20 tuổi, nhờ vào chế độ hiếu liêm và thế lực gia đình,
Tào Tháo chính thức bước vào chống quang trường với chức vụ bắt bộ úy thành Lạc Dương,
chịu trách nhiệm trị an khu vực phía Bắc Kinh Thành.
Ngay khi nhậm chức, người thanh niên họ tạo đã thể hiện một thái độ thực thi pháp luật sắc đá,
không nể sợ quyền quý khi cho chế tạo hàng chục cây gậy ngũ sắc trèo trước nhà môn,
tuyên bố bất cứ ai vi phạm lệnh giới nghiêm đều sẽ bị trừng phạt.
Khi kiển đồ, chú ruột của đại hoạn quan kiển thạc,
người đang thao túng quyền lực trong cung, vi phạm lệnh cấm đi đêm,
Tào Tháo đã thẳng tay cho đánh chết bằng gậy mà không hề do dự.
Hành động này ngay lập tức gây chấn động toàn Kinh Thành, khẳng định cái uy của Tào Tháo,
nhưng cũng đẩy ông vào tầm ngắm của các thế lực thù địch,
khiến ông bị điều chuyển khỏi Kinh Thành để giảm bớt tầm ảnh hưởng.
Năm 184, cuộc khởi nghĩa Khang Vàng của bà nệm Trường Giác bùng nổ như một mồi lửa
đốt cháy Vương Triều Hán đang mục rỗng,
buộc triều đình phải kêu gọi các anh hùng hào kỳ khắp nơi đứng lên dẹp loạn.
Tào Tháo được bạc dụng làm kỳ đối ý,
thống lĩnh quân đội Hoàng gia tiến về vùng Vĩnh Xuyên để đàn áp quân nổi dậy.
Trên chiến trường này, tài năng quân sự thực chiến của Tào Tháo lần đầu tiên được phát tiết,
khi ông phối hợp với các tướng lĩnh khác đánh bại hàng vạn quân Khang Vàng,
lập công lớn và được thăng làm tướng quốc nước Tế Nam.
Tại Tế Nam, ông tiếp tục thực hiện những cải cách quyết liệt,
thẳng tay bãi miễn hơn 10 vị quan lại tham dũng,
dẹp bỏ các đền miếu tà giáo để ổn định đời sống nhân dân,
chứng minh mình không chỉ giỏi cầm quân mà còn có tài trị quốc.
Tuy nhiên, nhận thấy triều đình Lạc Dương ngày càng lúng sâu và vũng bùng tâm tối,
Tào Tháo quyết định cáo bệnh từ Khoan,
lui về quê nhà dựng nhà đọc sách,
ngày ngày rèn luyện thân thể và nghiên cứu binh pháp, chờ đợi một thời cơ lớn hơn.
Thời cơ ấy đến nhanh hơn ông tưởng khi Hoàng đế băng Hà,
Đại tướng quân Hà Tiến bị Hoàng Quang sát hại
và quyền thần Đỗng Trác từ Tây Lương đem quân vào Kinh Thành,
khống chế ấu chúa, tự ý phế lập Hoàng đế và dèo rắc kinh hoàng cho Lạc Dương.
Đỗng Trác nhận thấy tài năng của Tào Tháo nên muốn lôi kéo ông về phía mình,
phòng cho chức, kêu kỵ hiệu ý.
Nhưng Tào Tháo biết rõ, Đỗng Trác chỉ là kẻ hữu dũng vô mưu,
đi theo gã chắc chắn sẽ rước họa vào thân.
Theo các ghi chép giả sử và văn học, Tào Tháo đã mưu toan ám sát Đỗng Trác bằng thất tinh đao,
nhưng bất thành, phải mượn cớ dân giao rồi phi ngựa trốn khỏi Lạc Dương.
Trên đường cậy trốn nguy hiểm ấy, một sự kiện chấn động đã xảy ra tại nhà của Lã Bá Sa,
một người bạn cũ của cha ông.
Do nghi ngờ tiếng mài giao mổ lợn của gia đình Lã Bá Sa là để bắt mình nợp cho triều đình,
do nghi ngờ tiếng mài giao mổ lợn của gia đình Lã Bá Sa là để bắt mình nợp cho triều đình,
Tào Tháo cùng người đồng hành là Trần Cung đã ra tay sát hại cả nhà họ.
Đây rồi, khi nhận ra sai lầm, ông đã thốt lên câu nói lạnh lùng,
thể hiện triết lý sinh tồn tàn nhẫn của mình.
Thả ta phụ người trong thiên hạ, chứ không để người trong thiên hạ phụ ta.
Trở về quê nhà Trần Lưu, Tào Tháo gom hết tài sản, gia sản,
nhận được sự hỗ trợ tài chính từ các nhà tài phiệt địa phương
và sự gia nhập của các mảnh tướng trong dòng họ như Tào Nhân, Tào Hồng, Hạ Hậu Đôn,
Hạ Hậu Uyên, chính thức dựng cờ nghĩa binh, phát động hịch văn,
kêu gọi các chư hậu trong thiên hạ cùng đứng lên thảo phạt nghịch thần Động Trác.
Sự kiện này đã tập hợp được 18 lộ chư hậu bầu viên thiệu là Minh Chủ,
tạo thành một liên minh quân sự tiến đánh Lạc Dương,
mở ra một chương mới cho cuộc đời Tào Tháo và đẩy Trung Hoa vào vòng xoáy chiến tranh toàn diện.
Liên minh 18 lộ chư hậu, dẫu khi thế múc trời,
nhưng ngay khi đối mặt với bộ máy chiến tranh tàn bạo của Động Trác,
những rạn nứt vì lợi ích ích kỷ của từng xứ quân đã lập tức lộ rõ.
Trong khi viên thiệu và các chư hậu khác e dè, không dám tiến quân,
chỉ lo giữ sức và tranh giành địa bàn, Tào Tháo là một trong số ít người
thực sự đem quân bản bộ tiến đánh quân Tây Lương.
Trận chiến tại biển Thủy diễn ra vô cùng khốc liệt, quân Tào Tháo do non kinh nghiệm và ít viện trợ
đã bị danh tướng từ vinh của Động Trác đánh bại tan tác.
Bản thân Tào Tháo sứt mất mạng nếu không có sự cứu giá kịp thời của người em họ Tào Hồng Như Ngựa.
Thất bại đau đớn này mang lại cho Tào Tháo một bài học xương máu,
không thể dự dẩm vào một liên minh lỏng lẽo, muốn định đoạt thiên hạ thì phải tự tay xây dựng
một thế lực quân sự tuyệt đối trung thành và một căn cứ địa vững chấp.
Liên minh chư hậu chính thức tan rã, kéo theo giai đoạn các xứ quân quần hùng cá cứ,
chém giết lẫn nhau để tranh giành lãnh thổ.
Tào Tháo nhận ra cơ hội sống còn nằm ở vùng Trung Nguyên, nơi đang bị tàn phá nạn nề,
nhưng lại là vị trí chiến lược cốt tử.
Năm 192, cơ hội lớn xuất hiện khi hàng vạn tàn quân khăn vàng ở Thanh Châu tràn vào đánh phá vùng
Duyện Châu, giết chết sử Đông Đại. Trong tình thế nguy cấp đó, các quan lại và sĩ tộc địa phương
đã mời Tào Tháo về làm chủ Duyện Châu để dẹp loạn. Bằng tài thao lực binh pháp xuất chúng,
ông không những đánh bại được đội quân khăn vàng hung hãng này mà còn thực hiện một quyết định táo bạo
thay đổi cục diện. Thu phục hơn 30 vạn thăng binh Thanh Châu, chọn lọc ra những binh sĩ tinh nhuệ nhất
để thành lập nên đội quân Thanh Châu binh lừng danh. Đây chính là lực lượng quân sự nồng cốt,
thiện chiến giúp Tào Tháo trinh phạt khắp bốn phương sau này.
Song song với việc xây dựng quân đội, Tào Tháo nhận thấy nông nghiệp bị hủy hoại nghiêm trọng do chiến tranh,
lương thực khang hiếm là nguyên nhân khiến nhiều sứ quân sụp đổ. Ông đã áp dụng chính sách đồn điền chế,
cho binh lính và nông dân múc đất khai hoang, vừa sản xuất lương thực vừa sẵn sàng chiến đấu.
Chính sách này nhanh chóng biến Duyện Châu thành một kho lúa khổng lồ, giải quyết triệt để
bài toán hậu cần và giúp Tào Tháo có đủ thực lực kinh tế để nuôi dưỡng tham vọng bá chủ.
Khi thế lực đang lên như dịu gặp gió, một biến cố gia đình đã đẩy Tào Tháo vào một quyết định tàn khốc
để lại vết nhơ lớn trong cuộc đời ông.
Cha ông là Tào Sùng, khi đang trên đường từ Lan Nha đến Duyện Châu đoàn tụ với con trai,
đã bị binh lính của thứ sử Từ Châu là Đào Khiêm sát hại để cướp đoạt tài sản.
Nỗi đau mất gia cùng sự phẫn ngộ tột cùng đã khiến Tào Tháo lập tức phát động một cuộc viễn chinh trừng phạt
quy mô lớn hướng về Từ Châu. Quân đội của ông đi đến đâu, máu chảy thành sông đến đó,
hàng vạn thường dân vô tội ở Từ Châu đã bị tàn sát,
sông Tứ Thủy bị nghẹn, sát chết không chảy nổi.
Cuộc thảm sát này dẫu trả được thù nhà nhưng đã khiến danh tiếng của Tào Tháo bị tổn hại nghiêm trọng,
đồng thời tạo cơ hội cho kẻ thù đâm lén sau lưng.
Tại quê nhà Duyện Châu, hai mũ sĩ thân cận là Trần Cung và Trương Mạc do bất mãn với sự tàn nhẫn
của Tào Tháo đã phản bội, bí mật trước chiến thần lã bố về chiếm đóng gần như toàn bộ căn cứ địa của ông,
đẩy Tào Tháo vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc.
Nhận được tin dữ, Tào Tháo buộc phải rút quân khỏi Từ Châu, quay về quyết chiến giành lại huyết mạch của mình.
Cuộc chiến giành giật Duyện Châu giữa Tào Tháo và lã bố diễn ra dài dặn và nghẹt thở suốt hai năm trời,
với những trận đánh giáp lá cà, những mưu kế lừa lọc và cả sự kiệt quệ vì nạn đói tràn lan.
Có những thời điểm Tào Tháo suýt bị quân lã bố bắt sống nhưng nhờ sự kiên cường, tài dùng binh biến hóa
cùng sự hiến kế của các mưu sĩ hàng đầu như Tung Úc, Trình Dục, ông từng bước lật ngược thế cờ.
Bằng cách tận dụng triệt để lợi thế về lương thực từ hệ thống đồn điền và chia rẽ nội bộ đối phương,
Tào Tháo cuối cùng đã đánh bại lã bố, buộc mảnh tướng này phải tháo chạy sang Từ Châu nương nhờ lưu bị.
Giành lại được Duyện Châu sau bao thăng trầm, Tào Tháo không những củng cố vững chắc quyền lực tại Trung Nguyên
mà còn tôi luyện được một bản lĩnh chính trị vô cùng sắc bén, chuẩn bị cho một nước cờ chiến lược vĩ đại nhất,
thao túng thiên tử để lệnh mệnh Chư Hầu.
Năm 196, Hoàng đế Hán Hiến Đế sau nhiều năm bị các tướng lĩnh Tây Lương giam cầm và ngược đải
đã trốn thoát khỏi Trường An, sống trong cảnh nghèo đói, rách trưới giữa đóng hoang tàn của Lạc Dương.
Trong khi các Chư Hầu lớn như Viên Thiệu coi Hoàng đế là một cánh nặng phế tích,
Mưu sĩ Tùng Úc đã hiến kế cho Tào Tháo một tầm nhìn vĩ đại,
phụ thiên tử dĩ lệnh bất thần, đón rức thiên tử để ra lệnh cho kẻ bất tung.
Nhận thức được giá trị chính trị vô giá của danh nghĩa chính thống Vương Triều Hán,
Tào Tháo lập tức dẫn quân về Lạc Dương thành kính dân lương thực áo lùa cho Hoàng đế và bá quan văn võ,
giành được sự tin tưởng tuyệt đối của vị vua trẻ.
Ngay sau đó, lấy lý do Lạc Dương quá hoang tàn bất ổn,
Tào Tháo cưỡng ép Triều Đình di chuyển về Hứa Sương, nơi nằm dưới sự kiểm soát quân sự tuyệt đối quân.
Tại kinh đô mới này, Tào Tháo được phong làm đại tướng quân Vũ Bình Hầu,
nắm giữ toàn bộ quyền bính của Triều Đình, biến Hán hiến đế thành một vị vua bù nhìn không hơn không kém.
Từ đây, bất kỳ cuộc trinh phạt nào của Tào Tháo cũng đều mang danh nghĩa thánh trị của Hoàng đế,
biến các đối thủ cạnh tranh của ông thành những kẻ phản nghịch chống lại Triều Đình.
Có được thiên tử trong tay, Tào Tháo lập tức triển khai các chiến dịch quân sự
nhằm dọn dẹp các thế lực nhỏ hơn xung quanh kinh đô Hứa Sương để rảnh tay đối phó với đại địch phường Bắc.
Mục tiêu đầu tiên là Trương Tú ở Uyển Thành.
Năm 197, Tào Tháo dẫn đại quân áp sát, Trương Tú biết thế không lại liền chủ động đầu hàng.
Tuy nhiên, một sai lầm chết người xuất phát từ bản tính háo sắc của Tào Tháo đã làm xoay chuyển tình thế.
Ông ép thiếm dâu của Trương Tú là Châu Thị làm thiếp, khiến Trương Tú coi đó là nỗi nhục đại hận.
Dưới sự hiến kế của mưu sĩ Giả Hũ, Trương Tú bất ngờ phản công ngay trong đêm.
Trần Uyển Thành trở thành một trong những thất bại đau đớn và ê chê nhất đời Tào Tháo
khi ông mất đi trưởng nam Tào Án, cháu ruột Tào An Dân và đặc biệt là đệ nhất mạnh tướng Điển Vi,
người đã lấy thân mình chặn cửa để chủ công chạy trốn.
Sau chuyện đau thương này, Tào Tháo chỉnh đốn lại đội ngũ,
tiếp tục chuyển hướng sang Từ Châu, nơi Lã Bố đã phản bội Lưu Bị để chiếm quyền.
Đến năm 199, phối hợp cùng quân của Lưu Bị, Tào Tháo vây hảm thành Hạ Phi,
dùng kế tháo nước sông Nghi Thủy và Tứ Thủy làm ngập thành, bức hàng Lã Bố
và thẳng tay cho treo cổ chiến thần tại Lầu Bạch Môn, chính thức nút gọn vùng đất Từ Châu chiến lược.
Khi các mối họa sau lưng tạm yên, Tào Tháo phải đối mặt với một âm mưu ngay trong lòng kinh đô hứa xương.
Hãng hiến đế, vì quá út ức trước sự chuyên quyền của Tào Tháo,
đã ban ra một mật chiếu dấu trong đai áo, gọi là Y Đế Chiếu,
lệnh cho Đống Thừa và các trung thần tìm cách mưu sát Tào Tháo.
Lưu Bị khi đó đang nương nhờ dưới trướng Tào Tháo cũng tham gia ký tên vào huyết chiếu này.
Sự việc nhanh chóng bị bại lộ vào đầu năm 200, Tào Tháo lập tức ra tay tàn khốc,
giết sạch ba họ nhà Đống Thừa, bao gồm cả động Quý Phi đang mang thai.
Nhận thấy Lưu Bị đã trốn thoát về Từ Châu và giấy binh phản kháng, Tào Tháo đưa ra một quyết định táo bạo.
Bất chấp nguy cơ viên thiệu ở phía bắc có thể nam hạ đánh úp,
ông tự mình dẫn đại quân thần Tốc Đông tiến đánh bạc Lưu Bị chỉ trong vài ngày,
buộc Lưu Bị phải bỏ chạy sang nương nhờ viên thiệu, đồng thời bắt sống được Quang Vũ.
Tào Tháo vì vô cùng ái mộ tài năng của Quang Vũ nên đã phong hầu, ban thưởng vô số báo vật,
bao gồm cả ngựa xích thố, hồng thu phục lòng người, tạo nên một giai thoại nghĩa khí chấn động thời bấy giờ.
Lúc này, cục diện phương Bắc đã đi đến điểm buồn ngổ khi viên thiệu,
người đang sở hữu bốn châu rộng lớn với tiềm lực kinh tế và quân sự hùng mạnh nhất thiên hạ,
chính thức phát hịch văn thảo phạt Tào Tháo, thống lĩnh 10 vàng đại quân tinh nhuệ nam hạ.
Tào Tháo chỉ có thể huy động khoảng 2 vạn binh sĩ tiến ra trấn giữ cứ điểm chiến lược Quang Độ
để chặn đứng đường tiến của quân viên.
Trận Quang Độ nổ ra vào năm 200,
trở thành một trong những trận đại chiến lấy ít thực nhiều kinh điển nhất trong lịch sử Trung Hoa.
Ban đầu, quân viên thừa thế đông đảo liên tục ép sân, dựng các tháp cao bắn tiễn như mưa vào doanh trại quân Tào,
khiến binh sĩ của Tào Tháo vô cùng hoang mang, lương thực lại cạn kiệt từng ngày.
Tào Tháo đã có lúc nản lòng viết thư về cho Tuân Úc ở Hứa Sương bàn chuyện trúc quân,
nhưng Tuân Úc đã kiên quyết khuyên ông phải giữ vững trận địa, chờ đợi nội bộ đối phương tự sinh biến cố.
Lời tiên quán của Tuân Úc đã ứng nghiệm khi mưu sĩ Hứa Du của viên thiệu,
do bị gia đình phạm pháp ở quê nhà và không được viên thiệu trọng dụng,
đã út ức bỏ trốn sang hàng ngũ Tào Tháo ngay trong đêm.
Biết Hứa Du đến, Tào Tháo vui mừng đến mức đi chân đất ra đón rước.
Hứa Du lập tức hiến kế cốt tử. Toàn bộ lương thảo của quân viên đều được tức trữ tại kho Âu Sào
do tướng thuần Vua Quỳnh canh giữ, nhưng phòng bị lỏng lẽo.
Nhận thấy đây là canh bạc quyết định vận mệnh, Tào Tháo tự mình dẫn 5.000 kỳ binh tinh nhuệ,
cải trang thành quân viên, mang theo củi lửa bí mật luồn qua các chốt chặn, tập kích đốt sạch kho lương Âu Sào.
Ngọn lửa rực trời tại Âu Sào đã đánh sập hoàn toàn ý chí chiến đấu của quân viên,
khiến các tướng lĩnh cấp cao của viên thiệu là trương cáp, cao lãm, hoang mang rồi quyết định đầu hàng Tào Tháo.
Viên thiệu chỉ kịp dẫn vài trăm kỳ binh vượt song Hoàng Hà trốn thoát,
bỏ lại toàn bộ ấn tính, khí giới và ngân tài cho quân Tào thu hoạch.
Chiến thắng vang dội tại Quang Độ không chỉ đập tăng ưu thế tuyệt đối của họ viên,
mà còn làm thay đổi hoàn toàn cán cân quyền lực tại Trung Hoa, đưa Tào Tháo trở thành thế lực mạnh nhất bấy giờ.
Hai năm sau, viên thiệu út hận mà chết, các con của ông ta là viên đàm, viên hy, viên thượng
lao vào cuộc chiến tranh giành quyền lực huynh đệ tương tàn.
Tào Tháo tận dụng triệt để cơ hội này, áp dụng chiến thuật ly dáng,
lần lượt bẻ gãy từng nhánh cánh vây của họ viên.
Đến năm 207, để nhổ tận gốc rễ mầm mống phản kháng,
Tào Tháo nghe theo kế hoạch của mưu sĩ Quách Gia thực hiện một cuộc hành quân thần tốc vượt qua Sama,
tiến sâu vào vùng Đông Bắc để đánh bại tộc Âu Hoàng,
thế lực đang che chở cho tàn dư họ viên.
Trận Bạch Lan Sơn đại thắng, thủ lĩnh Âu Hoàng bị chém đầu,
anh em họ viên phải chạy trốn sang Liêu Đông rồi bị thái thú nơi đó chém đầu, dân nợp cho Tào Tháo.
Trên đường trở về từ cuộc viễn chinh viễn đông oanh liệt đó, khi đứng trước biển lớn mênh mông,
Tào Tháo đã viết nên bài thơ, đoạn ca hành và quang thương hải, thể hiện chí khí mút ngàn của một người
đã bình định xong toàn bộ phương Bắc rộng lớn, sẵn sàng hướng tầm mắt xuống miền Nam sông nước
để hoàn thành đại nghiệp thống nhất Giang Sơn.
Năm 208, Tào Tháo được phong làm thừa tướng,
chính thức thâu tớm mọi quyền hành chính trị lẫn quân sự của triều đình Đông Hán vào trong tay mình.
Ông thống lĩnh 50 vạn đại quân mà bộ máy tuyên truyền bấy giờ thổi phòng lên tới 80 vạn rầm rộ Nam Hả.
Mục tiêu đầu tiên là vùng Kinh Châu chiến lược nơi Lưu Biểu vừa qua đời
và người kế vị là Lưu Tông đã lập tức quỳ gối đầu hàng không điều kiện ngay khi tiền quân Tàu áp sát.
Nhận được Kinh Châu mà không tốn một mũi tên, Tào Tháo tiếp tục xua quân truy kích Lưu Biểu,
kẻ đang giác diếu hàng vạn dân chúng tháo chạy về phía Nam.
Trận đương dương truyền bản nổ ra, quân Tàu đại thắng, đánh tan tác lực lượng của Lưu Biểu,
suốt chút nữa đã bắt sống được gia quyến của đối thủ nếu không có sự liều mạng phá vây của Triệu Vân
và sự chặn hậu dũng mảnh của Trương Phi tại cầu Trường Bản.
Sau tháng lợi này, Tàu Tháo đóng quân tại Giang Lăng, chỉnh đốn thủy quân của Kinh Châu vừa thu phục,
viết thư ham dọa nhằm uy hiếp tinh thần của Đông Ngô, ép Tôn Quyền phải buôn vũ khí đầu hàng.
Trước mối đe dọa sinh tử từ phương Bắc, Lưu Biểu và Tôn Quyền đã quyết định gạt bỏ mọi hoài nghi
để thiết lập một liên minh quân sự sinh tử, giao quyền thống lĩnh cho đại đô đốc Chu Duộc.
Mùa đông năm 208, đại quân của Tàu Tháo và liên quân Tôn Lưu đối đầu nhau tại Xích Bích trên dòng Trường Giang.
Quân Tàu dẫu áp đảo hoàn toàn về quân số nhưng lại gặp phải những bất lời trí tử,
binh sĩ phương Bắc không quen thủy chiến, bị say sóng nghiêm trọng và bắt đầu bị dịch bệnh kiết lị hành hạ.
Để giải quyết tình trạng trao đảo của chiến thuyền, Tàu Tháo đã phạm phải một sai lầm chiến lược
khi nghe theo kế sách dùng xích sắt khóa tất cả các chiến thuyền lớn lại với nhau
thành một khối vững chắc. Sai lầm này đã biến toàn bộ hạm đội khổng lồ của ông thành một mùi ngon cho lửa.
Chu Du cùng Hoàng Cái phối hợp thực hiện kế khổ nhục và dùng thuyền chở đầy cỏ khô, dầu hỏa, giả vờ đến hàng.
Khi áp sát hạm đội Tàu, quân ngô phóng hỏa gặp đúng lúc gió đông nam thổi mạnh,
ngọn lửa nhanh chóng bắt sang các chiến thuyền bị khóa chặt,
biến toàn bộ mặt sông Xích Bích thành một biến lửa kinh hoàng, thiêu rụi mọi tham vọng của phương Bắc.
Thất bại thảm hại tại Xích Bích, buộc Tàu Tháo phải dẫn tàn quân Tháo chạy nhục nhã qua con đường mòn đầy bùng lầy
ở hẻm Hoa Dung, chịu tổn thất nặng nề vì đói khát và các trận phục kích của quân Liên minh.
Trận đại bại này đã chấm dứt hoàn toàn cơ hội thống nhất đất nước nhanh chóng của Tàu Tháo,
định hình nên cuộc diện sơ khai của thế chân vạc tam quốc khi Lưu Bị chiếm được Kinh Châu,
tôn quyền vững vàng ở Giang Đông, còn Tàu Tháo buộc phải luôi về phương Bắc để trị thương và củng cố lại căn cứ.
Tuy nhiên, bản lĩnh của Mộc Giang Hùng không cho phép ông gục ngã lâu.
Ngay khi trở về hứa xương, Tàu Tháo lập tức tập trung vào việc khôi phục kinh tế,
tuyển dụng nhân tài không mạng đến xúc thân hay đạo đức qua các cầu hiền lệnh,
một tư duy vô cùng tiến bộ và thực dụng so với thời đại bấy giờ.
Đến năm 211, nhận thấy thế lực của các quân việt vùng Tây Lương do Mã Siêu và Hàng Toại
đứng đầu có nguy cơ đe dọa xường phía Tây của mình, Tàu Tháo lại một lần nữa thân chinh cầm quân tiến về phía Tây.
Trận đồng quan nổ ra vô cùng khốc liệt, kỵ binh Tây Lương hung hãng dưới sự chỉ huy của Mã Siêu
đã có lúc đánh quân Tàu tàn tác, khiến Tàu Tháo phải cắt râu, bỏ áo bào để trúng tránh sự nhận diện của kẻ thù trên chiến trường.
Trong tình thế khó khăn đó, Tàu Tháo đã chứng minh câu nói gian hùng thời loạn
bằng việc áp dụng kế ly gián của ngu sĩ Giả Hũ.
Ông chủ động viết một bức thư Tây gửi cho Hàng Toại nhưng cố tình tẩy xóa, sửa đổi nhiều chỗ ở những phần quan trọng,
khiến Mã Siêu xin lòng nghi ngờ Hàng Toại đang ngầm thông đồng, bán đứng mình cho quân Tàu.
Sự rạn nứt nội bộ này lập tức làm suy yếu sức mạnh của quân Tây Lương.
Tàu Tháo chấp thời cơ phát động tổng tấn công, đánh bại hoàn toàn liên minh Mã Hàng,
làm chủ toàn bộ vùng Quang Trung rộng lớn và dựng nên một tấm lá trắng vững chắc cho biên giới phía Tây Bắc.
Năm 213, với uy danh đỉnh cao sau hàng loạt chiến tích, Tàu Tháo ép hãng hiến đế phong cho mình là Nguy Công,
bàn cho chính đặc quyền tối cao của thần tử là Cửu Tích,
đồng thời được phép xây dựng Vương quốc Nguy ngay trong lòng vương trường nhà Hán.
Hành động công khai bước gần hơn tới ngày vàng này đã vắp phải sự phản đối quyết liệt từ những quan lại trung thành với nhà Hán,
trong đó có cả người bạn, người mưu sĩ thâm niên nhất của ông là Tuân Úc.
Nhận thấy người từng chung vai đấu cực này đã trở thành rào cản cho tham vọng của dòng họ Tàu,
Tàu Tháo đã gửi tặng Tuân Úc một hợp quà rỗng ruột,
ngầm ý rằng triều đình không còn chỗ đứng và bổng lọc cho ông ta nữa, buộc Tuân Úc phải tự sát trong ước ức.
Vượt qua những sự chống đối nội bộ bằng bàn tay sắt, năm 215, Tàu Tháo dẫn quân tiến đánh vùng Hán Trung,
ép trương lỗ phải đầu hàng, chính thức áp sát cửa ngõ và vùng đất thục của Lưu Bị.
Việc chiếm được Hán Trung vào năm 215 đã đưa thế lực của Tàu Tháo áp sát ngay đỉnh đầu của thục địa,
tạo ra một áp lực ngàn cân lên chính quyền non trẻ của Lưu Bị.
Thấy rõ mối đe dọa sinh tử này, Lưu Bị cùng Pháp Chính và Hoàng Trung đã dốc toàn lực
phát động chiến dịch Hán Trung vào năm 217 nhằm đẩy lùi quân nguyện.
Cuộc chiến giành vật vùng múi non hiểm trở này diễn ra vô cùng giàn co và đám máu suốt hai năm trời.
Đến năm 219, tại trận định quân Sơn, lão tướng Hoàng Trung bên Phiết Thục đã dùng kế mai phục,
bất ngờ từ trên cao lao xuống chém bay đầu hạ Hậu Yên, một trong những người em họ,
những cánh tay phải đắc lực nhất và là Tổng Tư lệnh quân đội phương Tây của Tàu Tháo.
Nhận được tên giữ, Tàu Tháo vô cùng đau xót, tự mình dẫn đại quân từ Trường An tiến vào Hán Trung để trử hận.
Nhưng lúc này quân Thục đã chiếm giữ hết các cứ điểm hiểm yếu, áp dụng chiến thuật phòng thủ kiên quyết, không ra trận.
Tàu Tháo tiến thoái lưỡng nan, buông ra lời than vãng, thứ ăn thì không có thịt mà bỏ thì tiếc.
Hiểu được tâm lý buông bỏ của chủ công, quân nguyện lặng lẽ chuẩn bị rút lui và đến mùa hè năm 219,
Tàu Tháo chính thức dừng lại vùng đất Hán Trung cho lưu bị, rút lui về trấn giữ vùng Quang Trung.
Ngay khi vết thương Hán Trung chưa kịp lành, một cuộc khủng hoảng quân sự còn khủng khiếp hơn
lại bùng nổ ở mặt trận phía Nam, đe dọa trực tiếp đến sự sinh tồn của chính quyền hứa xương.
Danh tướng Quang Vũ từ Kinh Châu đã phát động một cuộc đại tấn công lên phía Bắc,
vây hảm thành Tương Dương và Phàng Thành do Tàu nhân trấn giữ.
Để cứu Nguy, Tàu Tháo phái Vũ Cấm cùng Bạn Đức dẫn bảy đạo quân Tinh Nghệ đi tiếp viện,
nhưng một trận mưa lớn kéo dài dân nước sông Hán Thủy đã giúp Quang Vũ thực hiện kế sách chôn sóng bảy đạo quân.
Toàn bộ lực lượng viện binh của Nguy bị nhấn chìm, Bạn Đức bị chém đầu vì không chịu hàng,
còn lão tướng Vũ Cấm, người đã theo Tàu Tháo chinh chiến suốt 30 năm lại chọn cách quỳ gối đầu hàng.
Chiến thắng vang dội này của Quang Vũ khiến cả vùng Trung Nguyên chấn động, uy danh lừng lẫy đến mức Tàu Tháo ở Hứa Sương
đã phải triều tập các mưu sĩ để bàn tính chuyện dời kinh đô lên phía Bắc, hòng tránh mũi nhọn của quân Kinh Châu.
Trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc đó, mưu sĩ Tư Mã Ý và Tưởng Tế đã nhìn ra tử huyệt của liên minh Thục Ngô,
khuyên Tàu Tháo không cần dời đô mà hãy dùng lợi ích đất đai Kinh Châu để kích động tôn quyền đầm lén sau lưng Quang Vũ.
Biết tôn quyền luôn hạm hực vì bị lưu bị chiếm giữ Kinh Châu, Tàu Tháo lập tức gửi mật thư đề nghị liên minh
hứa sẽ thừa nhận chủ quyền của Đông Ngô tại vùng đất này nếu họ chịu xuất quân đánh úp từ phía sau.
Kế sách tàn nhẫn và trưởng sát này ngay lập tức phát huy tác dụng khi tôn quyền phái Lã Mông dùng kẻ áo trắng sang sông,
chiếm trọn các cứ điểm của Kinh Châu khi Quang Vũ đang mãi mê vây hảm phàn thành.
Ở mặt trận phía trước, Tàu Tháo tiếp tục phái dân tướng từ hoãn dẫn quân viện binh mới đến,
liều chết đánh bật quân của Quang Vũ ra khỏi bờ lưỡi phàn thành.
Biết kẹp giữa hai đầu chiến tuyến, quân đội tan rã, Quang Vũ buộc phải tháo chạy về hứng Mạch Thành
rồi bị quân Ngô bắt sống và chém đầu tại Lâm Thư vào cuối năm 219.
Tôn quyền biết lưu bị sẽ dốc toàn lực trả thù nên đã khùng khéo sai người đem thủ cấp của Quang Vũ
đựng trong hộp gỗ kính cẩn dân tặng cho Tàu Tháo tại Lạc Dương,
hồng đổ vấy và oán hận của nhà thục sang cho phương Bắc.
Khi chiếc hộp gỗ mở ra tại cung điện Lạc Dương, Tàu Tháo nhìn ngắm dung mạo của người tướng tài
mà mình từng hết lòng yêu mến năm xưa.
Ông không hề tỏ ra đắc thắng mà ngược lại, thấu hiểu rất rõ mưu kế ly gián của Tôn quyền.
Để phái giải thế cỡ chính trị này, Tàu Tháo đã ra lệnh cho bá quang Văn Võ
cử hành một tăng lễ vô cùng trang trọng theo nghi thức dành cho Vương Hầu,
cho chạm khắt một bờ vai bằng gỗ trầm hương kết hợp với thủ cấp của Quang Vũ
để an tán ông tại vùng ngoài ô Lạc Dương.
Hành động này không chỉ thể hiện sự trân trọng cuối cùng của Tàu Tháo đối với một bậc nghĩa sĩ
mà còn là một nước cờ ngoại giao xuất sắc, trả lại quả bóng trách nhiệm về phía Đông Ngô,
buộc lưu bị phải chỉa thẳng mũi tên hận thù vào Tôn quyền.
Vượt qua được đại nạn Kinh Châu, thế lực của Tàu Tháo tại phương Bắc một lần nữa được củng cố tuyệt đối.
Nhưng bản thân người đàn ông quyền lực ấy cũng nhận ra rằng,
ngọn đèn dầu của cuộc đời mình sau hơn 60 năm bão táp đang đi đến những giọt cuối cùng.
Bước sang đầu năm 220, căng bệnh đau đầu kinh niên của Tàu Tháo mà sử sách nghi ngờ là một khối u trong não,
ngày càng trở nên trầm trọng, khiến ông liên tục rơi vào trạng thái ảo giác và đau đớn tột cùng.
Không còn ai cứu chữa, sức khỏe của thư tướng sụt giảm nghiêm trọng từng ngày.
Ông nằm trên giường bền tại Lạc Dương, nhìn lại gian sơn rộng lớn do một tay mình gây dận,
nhưng vẫn chưa thể trọn vẹn ý nguyện thống nhất.
Trước khi nhắm mắt, Tàu Tháo gọi các quần thần và người kế vị là Tàu Phi đến bên giường,
không trăn trối nhiều về chuyện đại sự quốc gia,
mà chỉ dặn dò những việc hết sức bình dị về cuộc sống của các thê thiếp,
chia hương liệu cho họ và khuyên họ học nghề đang dày để tự nuôi sống bản thân nếu gia tộc gặp biến cổ.
Ngày 15 tháng 3 năm 220, Tàu Tháo trúc hơi thở cuối cùng tại Lạc Dương,
hưởng thọ 66 tuổi, khép lại cuộc đời của một nhân vật quyền lực bật nhất thời loạn lạc.
