Thiên hạ có bốn bồ chữ thì ông chiếm hai bồ. Chính vua Tự Đức phong ông là bậc văn chương vượt hơn thời Tiền Hán. Vậy mà cũng chính triều đình đó treo ba trăm lạng bạc để lấy đầu ông. Cao Bá Quát — Thánh Quát — là người được cả quan trường ngưỡng mộ, được hoàng tộc xem là bạn tri âm. Nhưng ông chết trên chiến trường ở tuổi 46. Đầu bị bêu khắp Bắc Hà. Thơ văn bị lệnh triều đình xóa sổ. Ba đời dòng họ bị tru di. Tại sao một người yêu thơ, yêu chữ, yêu cái đẹp lại cầm vũ khí đứng lên? Và câu thơ ông để lại — chỉ cúi đầu trước hoa mai — có ý nghĩa gì khi đặt cạnh cái chết của ông? Đây là câu chuyện về một thiên tài không thể im lặng. Và những gì xảy ra khi một con người như vậy chạm đến giới hạn của sự chịu đựng. —— 🕐 Timestamps: 00:00 – Mở đầu: Cái chết trên chiến trường 02:30 – Thời đại và con người Cao Bá Quát 07:30 – Thiên tài được cả triều đình công nhận 15:00 – Từ quan trường đến chiến trường 23:00 – Điều đau nhất không phải cái chết 26:30 – Di sản và câu hỏi còn bỏ ngỏ —— 📚 Nguồn tư liệu chính: Đại Nam Thực Lục — Chính sử triều Nguyễn Cao Bá Quát thi tập — Sưu tầm và hiệu đính Dương Quảng Hàm — Việt Nam Văn Học Sử Yếu (1943) Trích dẫn tác phẩm trong video dùng bản phiên âm và dịch nghĩa đã được học giới xác nhận. —— Giai Thoại Việt Nam — Những con người làm nên lịch sử và những gì lịch sử không ghi lại.
TAGS Cao Bá Quát, giai thoại Việt Nam, văn học Việt Nam, nhà thơ Việt Nam, thi sĩ Việt Nam, lịch sử Việt Nam, nhân vật lịch sử Việt Nam, Sa hành đoản ca, khởi nghĩa Mỹ Lương, triều Nguyễn, văn nhân bị lãng quên, cuộc đời nhà thơ, góc khuất lịch sử, thiên tài bi kịch, Thánh Quát, Cao Chu Thần, nhất sinh đê thủ bái mai hoa, lịch sử văn hóa Việt Nam, trí thức Việt Nam, văn học cận đại
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
Câu chuyện về Cao Bá Quát, một thiên tài văn chương thế kỷ 19, từ một vị quan được vua ca ngợi trở thành kẻ phản nghịch bị xử tử. Cuộc đời ông là bi kịch của một trí thức chính trực, không chấp nhận sự mục nát của triều Nguyễn, cuối cùng chọn con đường khởi nghĩa vì nhân dân, để lại di sản văn học bất hủ và biểu tượng về khí tiết không khuất phục.
Năm 1855, trên một vùng núi ở Sơn Tây, giữa tiếng súng và tiếng la hét của hai bên giao tranh, một người đàn ông hụt xuống.
Ông không chết trong tù, không chết trên đoạn đầu đài, không chết vì bệnh tật hay đói nghèo.
Ông chết trên chiến trường, tay cầm vũ khí, mắt vẫn mở.
Người ta cắt đầu ông đem bêu khắp các tỉnh Bắc Hà.
Thơ văn của ông bị lệ triều đình xóa sổ.
Cả dòng họ ông bị truy đuổi đến cận cùng.
Ba đời bị liên lụy, từ người già đến trẻ con.
Nhưng có một điều triều đình không thể tiêu diệt được, câu thơ.
Một câu thơ bốn chữ Hán mà người đời chuyển nhau là của ông.
Câu thơ không nói về anh hùng, không nói về chiến trận, không nói về thủ hận hay lý tưởng hay bất kỳ điều gì to lớn nó chỉ nói.
Suốt một đời, ông chỉ cúi đầu trước hoa mai.
Người đàn ông đó là Cao Bá Quát, được người đương thời gọi là Thánh Quát.
Được vua tự nức phong là bậc văn chương vượt hơn thời tiền Hán bên Trung Hoa.
Người mà danh tiếng vang xa đến mức người ta nói thiên hạ có bốn bổ chữ thì ông chiếm hai bổ.
Và ông chết ở tuổi khoảng 46.
Đầu bị bêu trên cọc, tên bị liệt vào hàng phản nghịch.
Dòng họ bị triều đình truy sát đến người cuối cùng.
Tại sao một người được chính triều đình ca ngợi như vậy lại bị chính triều đình đó sử tử?
Tại sao một người cả đời yêu thơ, yêu chữ, yêu cái đẹp lại cầm vũ khí đứng lên và câu thơ ông để lại?
Câu thơ chỉ cúi đầu trước hoa mai.
Nó có nghĩa gì khi đặt bên cạnh cái chết của ông trên chiến trường?
Đầu bị bêu khắp Bắc Hà, tên bị xóa khỏi sự sách.
Đây là câu chuyện về Cao Bá Quát.
Một trong những thiên tài bi thảm nhất trong lịch sử văn học và lịch sử dân tộc Việt Nam.
Người mà triều đình muốn xóa tên, nhưng người dân lại giấu thơ ông dưới đáy dương để truyền lại cho đời sau.
Và câu hỏi mà cuộc đời ông đặt ra không phải về chính trị, không phải về triều đại hay cuộc khởi nghĩa thắng hay thua.
Câu hỏi đó là, một người có thể chịu đựng bao nhiêu lâu khi thấy cái đẹp bị trả đạp, thấy người tài bị vùi lấp,
thấy kẻ bất tài ngồi trên cao trong khi những người thật sự xứng đáng phải cúi đầu xuống.
Trước khi không còn chịu đựng được nữa và chọn làm điều gì đó, dù biết rõ hậu quả của nó là gì.
Để hiểu Cao Bá Quát, cần hiểu ông sinh ra trong thời đại nào.
Đầu thế kỷ 19, Triều Nguyễn vừa lên ngôi sau những biến loạn kéo dài hàng chục năm.
Vua Gia Long thống nhất đất nước năm 1802, nhưng thống nhất không có nghĩa là ổn định.
Đất nước vừa trải qua gần hai thế kỷ chia cắt giữa hai họ trịnh và Nguyễn ở đàn trong và đàn ngoài rồi lại qua cuộc biến loạn Tây Sơn.
Vết thương chưa kịp lành, thì triều đình mới đã phải lo củng cố quyền lực.
Trong bối cảnh đó, chế độ hoa cử vẫn là con đường duy nhất để một người tài năng bước vào trốn quan trường.
Học hành, thi cử, đỗ đạt, làm quan.
Đó là con đường mà hàng triệu người đàn ông Việt Nam thời đó nhắm tới từ khi còn nhỏ.
Không có con đường nào khác, không có ngoại lệ nào được chấp nhận.
Nhưng đây là một hệ thống không dành cho người thẳng thắn.
Triều Nguyễn dưới thời minh mạng và thiệu trị là triều đình đang cố gắng xiết chặt quyền kiểm soát trung ương.
Người ta cần quan lại biết tuân thủ, biết im lặng khi cần im lặng.
Biết nhìn thấy điều gì thì không nói.
Biết nghĩ điều gì thì không viết ra.
Cao bá quát không phải người như vậy.
Và ông không bao giờ học được cách trở thành người như vậy.
Dù cuộc đời đã dạy ông nhiều lần rằng sự thẳng thắn có giá của nó.
Ông sinh ra khoảng năm 1809 tại Làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc ngoại ô Hà Nội.
Gia đình ông từng là dòng dõi học thức.
Nhưng đến đời cha ông thì đã xa suốt.
Cha ông dạy học kiếm sống, nuôi cặp con trai song sinh.
Với ước mong một ngày, chúng sẽ đỗ đạt và mang lại vinh hiện cho dòng họ.
Ông đặt tên hai con theo những bậc thần tử nhà chu bên Trung Hoa là Đạt và Quát.
Với mụ ý rằng ông kỳ vọng hai đứa con sẽ trở thành người có học vấn uyên thân.
Cái nghèo là người bạn đồng hành từ những năm đầu đời của Cao bá quát.
Nhưng cái nghèo không ngăn được tài năng ngay từ nhỏ.
Cao bá quát nổi tiếng khắp vùng vì trí thông minh và tài văn chương.
Ông và người anh em song sinh Cao bá đạt được xem là thần đồng của cả vùng Gia Lâm.
Tương truyền năm ông mới 8 tuổi đã có thể ứng khẩu làm thơ ngay tại chỗ khi được hỏi.
Và từng được vua Minh Mạng để ý khi ông làm thơ đối đáp lanh lẹ trong một buổi ngự du.
Trong một xã hội mà chữ nghĩa là thước đo giá trị của một con người.
Cao bá quát đứng ở đỉnh cao nhất từ khi còn rất trẻ.
Người ta nói chữ ông đẹp như dòng bay phượng múa.
Thơ ông viết nhanh, ý tứ cao xa, không ai theo kịp.
Chơi thân với ông có Nguyễn Văn Siêu, cũng là bậc văn tài nổi tiếng của cùng thời.
Và đương thời người ta ca tụng hai người bằng câu.
Văn như siêu quát vô tiền hán, thi đáo tùng tuy thất thịnh đường.
Nghĩa là văn chương của Nguyễn Văn Siêu và Cao bá quát vượt qua cả các bậc văn nhân thời tiền hán bên Trung Hoa.
Thơ của họ đạt đến tầm của những bậc thi hào đời thịnh đường.
Câu ca tụng đó, theo nhiều tài liệu, xuất phát từ chính niệm vua tự đức.
Chính ông vua sau này sẽ ra lệnh chặt đầu Cao bá quát và bêu đầu ông khắp Bắc Hà.
Đó là nghịch lý đầu tiên và lớn nhất của cuộc đời này.
Một người được vua công nhận là thiên tài.
Rồi bị chính vua đó kết án phản nghịch và xóa tên khỏi sự sách.
Năm 1831, Cao bá quát đi thi hương tại trường thi Hà Nội dưới thời vua Minh Mạng.
Ông Đỗ Á Nguyên, tức là người đứng thứ hai trong kỷ thi lớn đó.
Chỉ sau người đứng đầu bạc.
Nhưng khi đến bước duyệt quyền sau kỷ thi,
Trong số 20 người, Đỗ Cử Nhân, không ai giải thích tại sao.
Không có lý do chính thức nào được ghi lại.
Có lẽ vì chữ ông quá thẳng.
Có lẽ vì bài thi của ông có những ý tứ vượt khỏi khuôn khổ mà quan trường chấp nhận.
Có lẽ vì ông đã đắc tội với ai đó có quyền lực.
Cũng có thể vì người ta đã nhìn thấy trong ông một mối nguy hiểm.
Ngay từ khi ông chưa kịp làm gì.
Từ đó, Cao bá quát đi thi hội ba lần.
Ba lần vào kinh đô Huế.
Ba lần về tay không.
Không phải vì ông không đủ tài.
Mà vì cái tài của ông không vừa vặn với cái khuôn mà triều đình muốn chọn lựa.
Đây là thời đại mà một người có thể biết mình tài giỏi hơn tất cả những người đang ngồi trên mình.
Và không làm gì được với điều đó cả.
Bởi vì trong hệ thống đó, tài năng không phải là tấm vé để đi lên.
Sự phục tùng mới là.
Nhưng trước khi nói về bi kịch, phải nói về tài năng.
Bởi vì nếu không hiểu Cao bá quát là ai khi ở đỉnh cao.
Sẽ không thể hiểu tại sao cái chết của ông lại đau đến như vậy.
Năm 1841, dưới thời vua thiệu trị Cao bá quát được quan tỉnh Bắc Minh tiến cử.
Và được triệu vào kinh đô Huế.
Ông được bổ chức hành tầu ở bộ lễ.
Đây là bước đầu tiên ông thật sự bước vào quan trường.
Sau hơn một thập kỷ chờ đợi và thất bại trên con đường thi cử.
Cũng trong năm đó, ông được giao làm sơ khảo trong kỳ thi hương tại trường thi Thừa Thiên.
Tức là người đọc và chấm điểm các bài thi của thí sinh trong vòng đầu tiên.
Trước khi bài được chuyển lên cho quan chủ khảo phán quyết cuối cùng.
Và Cao bá quát đã là một điều mà không ai dám làm.
Ông đọc các bài thi.
Ông thấy nhiều bài viết hay, nhưng mắc những lỗi nhỏ về văn chương.
Những câu dùng sai biệt cố.
Những chỗ diễn đạt chưa trôi chảy.
Nhưng ông cũng thấy cái cốt lõi của những bài thi đó là tốt.
Là những người thật sự có học.
Thật sự có tư tưởng.
Chỉ thiếu sự hoàn hảo kỹ thuật.
Và ông không thể chịu được việc những bài văn như vậy bị đánh hỏng.
Vì những lỗi vụn vặt.
Trong khi biết bao bài thi rỗng tích về nội dung.
Nhưng khuôn phép đủ để qua mắt quan trường.
Thì lại được chấm đỗ.
Vì thế, ông và đồng nghiệp là Phan Nhạ.
Đã lén lấy muội đèn làm mực.
Sửa lại 24 quyển bài thi cho các thí sinh.
Mà ông cho là đáng được đỗ hơn kết quả chấm của người khác.
Sự việc bại lộ.
Theo ghi chép trong Đại Nam Thực Lục.
Chính xử Chiều Nguyễn.
Cao bá quát nhận tội.
Và bị xét xử.
Ban đầu Chiều Đình kết án ông Tử.
Hình Tức Thì.
Vua Thiệu Trị sau khi xét lại.
Đã giảm án.
Trong chiếu chỉ của vua.
Có đoạn ghi rõ rằng.
Nhà vua xét thấy Cao bá quát.
Chữa văn 24 quyển.
Có khi tự mình phê đỗ.
Có khi phê hỏng.
Lại có chỗ câu văn chữa vào.
Còn không bằng câu văn người làm trước.
Vua cho rằng.
Việc làm của ông là do sự khờ dại.
Chứ không có ý đồ gì khác.
Vì thế giảm từ tội chảm quyết xuống rào giam hậu.
Tức là.
Giam lại chở sự tử sau.
Cao bá quát ngồi tủ gần 3 năm.
Năm 1843.
Triều Đình cần người đi công cánh đến vùng Batavia.
Nay là Indonesia.
Để thực hiện một số nhiệm vụ ngoại giao.
Đây là cơ hội để ông lập công chuộc tội.
Cao bá quát đi cùng đảo Chí Phú.
Đó là lần đầu tiên trong cuộc đời.
Ông ngước ra khỏi danh giới của đất nước mình.
Và trong chuyến đi đó.
Điều gì đó.
Đã thay đổi rất sâu trong ông.
Ông nhìn thấy thế giới bên ngoài.
Những thương cảng lớn ở vùng Đông Nam Á.
Với tàu thuyền.
Từ khắp nơi trên thế giới qua lại.
Những hàng hóa.
Những công nghệ.
Những nền văn minh.
Mà một người ở Việt Nam.
Dưới chiều Nguyễn Khép Kín.
Chưa từng hình dung đến.
Và ông nhìn lại đất nước mình.
Với con mắt của người.
Vừa thấy rộng hơn.
Xa hơn những gì kinh sách dại.
Trở về Huế sau chuyến đi.
Ông lại được vào Viện Hàn Lâm.
Phụ trách việc sưu tầm.
Và sắp xếp văn thư.
Đây là công việc phù hợp nhất với tài năng của ông.
Nhưng thơ ông từ đó khác đi.
Thấm đẫm hơn.
Bức bối hơn.
Như của một người đã thấy thế giới rộng lớn ra sao.
Và đang đứng nhìn đất nước mình bị giam cầm.
Trong những khuôn khổ cứng nhắc.
Tác phẩm nổi tiếng nhất của Cao Bá Quát.
Còn được giảng dạy trong nhà trường đến ngày nay.
Là bài xa hành đoạt ca.
Bài ca ngắn.
Đi trên bãi cát.
Bài thơ viết bằng chữ Hán.
Sáng tác trong những năm ông liên tiếp thất bại trên con đường Khoa Cử.
Trước khi bước vào quan trường.
Hình ảnh trung tâm của bài thơ.
Là một người đi trên bãi cát mênh mông.
Không có hồi kết.
Bước một bước thì lùi một bước.
Cát rút xuống dưới chân.
Mặt trời đã lặn mà.
Đường vẫn chưa dứt.
Người lữ khách một mình giữa mênh mông.
Nước mắt rơi.
Không biết đang đi đâu.
Và tại sao phải tiếp tục đi.
Đó là hình ảnh của con đường Khoa Cử.
Bước vào rồi không thoát ra được.
Không thể bỏ cuộc vì bỏ cuộc.
Tức là chấp nhận sống vô danh.
Nhưng tiếp tục.
Thì mỗi bước.
Chỉ là lún thêm xuống cát.
Nhưng câu thơ mà người đọc nhớ nhất.
Lại là câu hỏi ở cuối bài.
Người đang đi trên bãi cát đó.
Đột nhiên dừng lại.
Nhìn về phía những kẻ ham danh lợi.
Đang chen nhau trên con đường quan lộ.
Rồi quay lại hỏi chính mình rằng.
Tại sao ta lại còn đứng đây.
Tại sao con đường ta đang đi lại.
Là con đường này.
Không có câu trả lời trong bài thơ.
Chỉ có câu hỏi.
Nhưng cuộc đời cao bá quá.
Đã trả lời bằng cách khác.
Nhiều năm sau đó.
Và có một câu thơ khác được truyền lại.
Là của ông.
Ngắn hơn xa hành đoạn ca rất nhiều.
Nhưng lại nói lên trọn vẹn con người ông.
Câu thơ chữ Hán được dịch ra là.
Mười lăm dòng ruổi tìm hương báu.
Một đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai.
Câu thơ này là tuyên ngôn về cách sống của ông.
Hoa mai trong văn hóa Á Đông.
Là biểu tượng của sự thanh cao.
Hoa mai nở trong giá lạnh.
Không ép buộc theo mùa như hoa khác.
Không cần người tưới tắm.
Không cần ai chú ý đến nở.
Vì nó là hoa mai.
Cao bá quát nói.
Ông chỉ cúi đầu trước thứ đó.
Trước cái đẹp thật sự.
Trước phẩm giá thật sự.
Chứ không cúi đầu trước quyền lực.
Không cúi đầu trước những kẻ ngồi trên cao.
Mà ông biết rõ họ không xứng đáng với vị trí đó.
Đây là con người đó.
Không phải anh hùng theo kiểu sự sách ghi chép.
Về chiến công và trận thắng.
Là một người yêu thơ.
Yêu chữ.
Yêu cái đẹp.
Đến mức không thể chịu được.
Khi thấy cái đẹp bị ép phải im lặng và khuất phục.
Những năm ở Viện Hàn Lâm.
Danh tiếng văn chương của ông.
Đã lan khắp nơi.
Quan lại.
Nhò sĩ.
Người đọc sách từ các tỉnh.
Đều biết tên ông.
Tùng Thiện Vương.
Một người trong hoàng tộc.
Và cũng là nhà thơ nổi tiếng.
Xem Cao bá quát như bạn tri âm.
Khi Cao bá quát bị đẩy đi công cán.
Năm 1843.
Tùng Thiện Vương đã viết thơ tiễn ông.
Trong thơ ông viết về sự cô đơn của người ở lại.
Khi mất đi một người bạn chi kỷ.
Đó không phải lời thương tiếc của người trên.
Dành cho kẻ dưới.
Đó là lời của hai người bằng nhau.
Nhìn nhau qua con chữ.
Và hiểu nhau qua những gì không nói ra.
Tài năng Cao bá quát.
Không ai phủ nhận.
Kể cả những người sau này ra lệnh tiêu diệt ông.
Đó là điều làm cho câu chuyện tiếp theo.
Trở nên đau đớn hơn bất kỳ câu chuyện nào khác.
Nhưng sự công nhận về tài năng không bảo vệ được ông.
Năm 1850.
Không được lòng một số quan lớn tại Kinh Đô.
Cao bá quát bị đẩy ra khỏi Huế.
Ông nhận chức giáo thụ tại Phủ Quốc Hoai.
Tỉnh Sơn Tây.
Tức là thầy dạy học ở một phủ xa Kinh Đô hàng trăm dặm.
Đây không phải là thuyên truyền công việc bình thường.
Trong hệ thống quan trường Chiều Nguyễn.
Bị đẩy từ trung tâm quyền lực.
Ra một chức giáo thụ ở tỉnh Lẻ.
Là thông điệp rõ ràng.
Chiều Đình nói với ông.
Chúng ta vẫn để ông sống.
Nhưng ông phải biết chỗ của mình.
Ông có thể dạy học.
Ông không được làm gì khác.
Cao bá quát hiểu điều đó.
Ông đến Sơn Tây.
Dạy học.
Và nhìn cuộc sống người dân xung quanh mình.
Vùng Sơn Tây giữa thế kỷ 19 là vùng đất khó.
Đất đai bạc màu.
Canh tác khó khăn.
Người dân quanh năm làm lũ.
Nhưng luôn sống trong cảnh thiếu thốn.
Thuế má nặng nề.
Bộ máy quan lại địa phương tham nhũng.
Những người nghèo không có đường kêu oan.
Và rồi thiên tai đến.
Năm 1853.
Vùng Sơn Tây và các tỉnh lân cận bị hạn hán nặng.
Kéo dài nhiều tháng.
Giếng khô.
Đồng ruộng nứt nẻ.
Mùa màng mất trắng.
Sau đó là nạn châu chấu.
Từng đàn châu chấu khổng lồ bay qua.
Ăn sạch những gì còn xót lại sau hạn hán.
Người dân không có cái ăn.
Có người bán vợ đợi con để mua gạo sống qua ngày.
Có người bỏ làng ra đi không biết đi đâu.
Triều đình ở Kinh Đô Huế vẫn thu thuế.
Cao bá quát nhìn tất cả những điều đó.
Và ông đã đi.
Trong gần hai năm sau khi rời quốc oai.
Ông đi khắp vùng Hà Nội.
Hà Đông.
Hòa Bình.
Sơn Tây.
Bắc Ninh.
Bắc Giang.
Ông gặp những nho sĩ bất mãn.
Gặp những hào trưởng địa phương có uy tín và có lực lượng.
Gặp những thủ lĩnh người Mường và người Thái ở vùng rừng núi.
Cũng đang sống trong cùng cực tương tự.
Gặp những người lính cũ không có đường về.
Gặp những nông dân đã mất tất cả.
Và không còn gì để mất thêm nữa.
Ông thuyết phục họ.
Từng người một.
Từng nhóm một.
Ông không phải người của chiến trường.
Ông là người của sách vở và bút mực.
Nhưng ông hiểu sức mạnh của ngôn ngữ và của ý chí.
Và ông biết rằng nếu không có ai đứng lên.
Sẽ không bao giờ có gì thay đổi.
Năm 1853.
Ông cáo quan bỏ về.
Lấy lý do về nuôi mẹ già ốm.
Không ai nghi ngờ.
Nhưng ông không về nhà.
Ông tiếp tục đi.
Tiếp tục tập hợp người.
Tiếp tục chuẩn bị cho điều ông đã quyết định làm.
Cuối năm 1854.
Cao bá quát cùng đinh công Mỹ.
Một hào trưởng người Mường có uy tín.
Và Bạch Công Trân.
Một suất đội người Thái.
Tôn Lê duy cự lên làng minh chủ.
Lê duy cự là người có dòng dõi nhà Lê.
Tên của một triều đại đã mất.
Mà nhiều người trong dân gian vẫn còn hoài nhớ.
Cao bá quát nhận chức quốc sư.
Người tư vấn tối cao của cuộc khởi nghĩa.
Họ tập hợp tại khu rừng thuộc huyện Mỹ Lương.
Sơn Tây.
Hàng ngàn nghĩa binh.
Lễ tế cờ trong rừng đêm.
Những người từ đồng bằng và từ rừng núi đứng bên nhau.
Nhưng kế hoạch đã bị lộ từ trước.
Mùa hè năm 1854.
Tổng đốc Bắc Ninh đã nhận được tin cáo giác và báo về kinh.
Triều đình biết nhưng chưa kịp hành động.
Cao bá quát cũng biết.
Và ông biết rằng không còn thời gian nữa.
Ông phát lệnh tấn công sớm hơn dự tính.
Những tuần đầu tiên nghĩa quân giành được một số thắng lợi.
Họ đánh chiếm được huyện Ứng Hòa và Thanh Oai.
Lực lượng lan rộng ra nhiều vùng.
Tin tức về cuộc khởi nghĩa lan đi khắp nơi.
Người dân ở các làng xã nhìn về phía Mỹ Lương.
Với ánh mắt của những người đang chờ đợi điều gì đó thay đổi.
Nhưng triều đình phản ứng mạnh hơn.
Ông dự kiến.
Vua tự đức điều quân từ nhiều tỉnh về Sơn Tây.
Phái thêm 500 lính từ Thanh Hóa lên.
Và triều đình treo giải thưởng 300 lạng bạc.
Cho bất kỳ ai giết được Cao Bá Quát.
300 lạng bạc.
Đó là giá của một người.
Mà chính triều đình từng gọi là.
Bậc Văn Chương vượt hơn thời tiền Hán.
Nghĩa quân bắt đầu chịu những thiệt hại nặng.
Vũ khí thiếu.
Lương thực thiếu.
Và có người trong hàng ngũ phản bội.
Mang tin tức về bố trí của nghĩa quân cho triều đình.
Cao Bá Quát rút về Mỹ Lương.
Chấn chỉnh đội ngũ.
Bổ sung thêm nghĩa binh từ vùng rừng núi.
Nguyễn Khắc Quyết đem thêm 1000 dân binh từ Bắc Ninh.
Kéo sang hội quân.
Theo một tài liệu còn ghi lại.
Trong buổi hội quân đó.
Cao Bá Quát đã nói với tướng sĩ của mình rằng.
Tài trai sống ở đời.
Không làm được việc lớn.
Không thể ngồi nhìn bọn cầm quyền tác oai tác quái.
Rồi đến lúc giả mặc áo gấm 3 ngày về bôi nhọ quê hương.
Đó là lời của một người đã quyết định rồi.
Biết nguy hiểm.
Nhưng không còn muốn quay đầu lại.
Tháng Chạp.
Năm ráp dần.
Tức cuối năm 1855.
Cao Bá Quát đem quân đánh huyện Lị Yên Sơn lần thứ hai.
Phó lãnh binh Sơn Tây Lê Thuận.
Đem quân ra nguyên chiến.
Tại vùng núi Yên Sơn.
Hai bên giao chiến ác liệt.
Nghĩa quân có tinh thần.
Nhưng thiếu vũ khí tốt.
Và thiếu đội hình bài bản.
Quân triều đình.
Được trang bị hơn.
Có kinh nghiệm hơn.
Và có lợi thế về số lượng.
Sau khi liên tiếp được ăn viện.
Trận chiến diễn ra trong địa hình vùng núi.
Nơi mà sự hỗn loạn và bụi khói.
Khiến không ai còn nhìn rõ toàn cục.
Trong lúc giao tranh ác liệt đó.
Cao Bá Quát trúng đạn và ngã xuống.
Theo ghi chép trong sự triều nguyện.
Ông bị xuất đội đinh Thế Quang bắn chết tại trận.
Đội quân của ông tan vỡ.
Sau khi ông ngã xuống.
Hơn một trăm người chết.
Gần tám mươi người bị bắt sống.
Ông chết ở tuổi khoảng bốn mươi sáu.
Không phải trong tù chờ ngày bị hành quyết.
Không phải trên đoạn đầu đài trước mắt đám đông.
Ông chết trên chiến trường.
Giữa những người.
Ông đã thuyết phục cùng đứng lên.
Điều đó không thay đổi được kết cục.
Nhưng nó nói lên rằng.
Ông chết theo cách.
Ông đã chọn sống.
Lệnh của vua tự đức ban ra sau đó.
Đầu Cao Bá Quát bị cắt.
Đem bêu khắp các tỉnh Bắc Hà.
Sau đó bị bổ ra.
Ném xuống sông.
Chu Di tam tộc ba đời dòng họ cao.
Toàn bộ sách vở và thơ văn của ông bị thu gom và thiêu hủy.
Cấm tàng chữ.
Cấm lưu hành.
Không chỉ tác phẩm của ông.
Mà cả những bài thơ của người khác có nhắc đến.
Tên ông cũng bị cấm phổ biến.
Triều Đình muốn xóa tên ông hoàn toàn.
Như thế.
Ông chưa bao giờ tồn tại.
Nhưng vẫn chưa phải là điều đau nhất.
Điều đau nhất không phải là cái chết của ông.
Không phải 300 lạng bạc treo trên đầu ông.
Không phải cái lệnh Chu Di tam tộc.
Không phải cái đầu bị bêu trên cọc.
Rồi ném xuống sông.
Điều đau nhất là những gì còn lại sau tất cả những điều đó.
Triều Đình ra lệnh đốt toàn bộ tác phẩm của ông.
Nhưng người dân đã giấu chúng đi.
Không phải vì lý do chính trị.
Không phải vì họ muốn thể hiện sự chống đối Triều Đình.
Mà vì họ biết đó là những trang thơ không thể để mất.
Những câu chữ mà một khi đọc qua sẽ không thể nào quên đi được.
Người ta chép lại thơ ông bằng tay giấu trong đáy dương.
Truyền từ tay người này sang tay người khác trong bí mật.
Những học trò cũ nhớ thuộc lòng những bài thơ ông từng dạy.
Những bạn bè cũ giữ lại những bức thư.
Những tờ giấy có chữ ông viết như dữ vật báo.
Những người chưa bao giờ gặp ông nhưng đã đọc thơ ông.
Và không thể quên cũng âm thầm chép lại và giữ gìn.
Vì thế hơn 1.300 bài thơ của Cao Bá Quát vẫn còn đến ngày nay.
Cùng với 21 bài văn xuôi và nhiều bài ca trù và câu đối.
Nhưng có bao nhiêu tác phẩm đã thật sự mất đi mà không ai viết.
Không ai có thể đếm được những gì đã cháy trong lửa.
Chỉ có thể đếm những gì còn xót lại.
Và còn một điều nữa mà người ta ít khi nghĩ đến.
Hàng chục năm sau cái chết của Cao Bá Quát.
Nhà văn Nguyễn Tuân ngồi xuống và viết chuyện ngắn chữ người tử tù.
Trong đó có nhân vật Huấn Cao.
Một người tử tù bị dẫn đến nhà ngục chờ ngày sự tử.
Ông có tài viết chữ đẹp đến mức viên quản ngục.
Người đại diện cho quyền lực giam cầm ông.
Lại là người xin được một tờ chữ của ông trước khi ông ra đi.
Nhiều học giả xác nhận rằng Huấn Cao được xây dựng từ hình mẫu Cao Bá Quát.
Nguyễn Tuân viết về một người sắp chết.
Nhưng vẫn ngẩn đầu lên.
Vẫn không cúi xuống trước kẻ có quyền lực giam cầm ông.
Chỉ cúi đầu trước người thật sự.
Trong tâm can.
Xứng đáng nhận được điều đẹp nhất.
Ông có thể trao.
Đó là điều Nguyễn Tuân nhìn thấy trong Cao Bá Quát qua hàng chục năm.
Và qua những trang thơ người dân đã giấu đi mà không chịu để mất.
Không phải anh hùng theo kiểu trận mạng và chiến công.
Mà là người không bao giờ đánh mất phẩm giá ngay cả khi mọi thứ xung quanh ông đang sụp đổ.
Và câu thơ được truyền lại là của ông.
Câu nói ông chỉ cúi đầu trước hoa mai.
Có học giả đặt nghi vấn rằng câu thơ đó không chắc là do chính ông viết ra.
Nhưng người đời vẫn gán nó cho ông.
Vì không ai khác trong toàn bộ văn học Việt Nam thế kỷ 19 xứng đáng hơn để làm chủ nhân của câu thơ đó.
Đó có lẽ là điều buồn và đẹp nhất trong toàn bộ câu chuyện này.
Rằng ngay cả những thứ không chắc là của ông cũng trở thành của ông.
Vì cuộc đời ông đã sống đủ và đủ thật để làm cho câu thơ đó có ý nghĩa.
Cao Bá Quát chết năm 1855.
Triều Đình muốn xóa tên ông khỏi lịch sử.
Họ đã thất bại.
Không chỉ vì người dân giấu thơ ông trong dương, trong trí nhớ,
trong những trang chép tay chuyển từ tay này sang tay khác suốt nhiều thế hệ.
Mà còn vì cuộc đời ông tự nó.
Đã trở thành một câu chuyện không thể nào bị xóa bởi một cái lệnh Triều Đình dù lệnh đó có khắc nghiệt đến mức nào.
Nhiều thập kỷ sau cái chết của ông, thơ văn cao Bá Quát được sưu tầm và tập hợp lại.
Các tác phẩm còn xót lại sau ngọn lửa của Triều Đình được gom góp thành những tập thơ mang tên ông.
Tên ông được phục hồi.
Làng Phú Thị, nơi ông sinh ra, trở thành nơi thở phụ và tưởng nhớ ông.
Và tên ông được đặt cho trường học, cho đường phố ở nhiều tỉnh thành.
Nhưng điều đó có đủ không?
Cao Bá Quát sống gần 50 năm.
Ông dùng phần lớn cuộc đời mình để chờ đợi.
Chờ được công nhận.
Chờ được làm việc đúng với tài năng của mình.
Chờ có cơ hội làm điều gì đó có nghĩa cho những người xung quanh.
Và khi ông không còn chờ được nữa, ông cầm vũ khí.
Đó không phải hành động của người điên rồ hay bổng vội.
Đó là hành động của người đã chờ đủ lâu.
Đã thấy đủ nhiều.
Và đã quyết định rằng im lặng tiếp tục là điều ông không thể chịu đựng được nữa.
Ông biết rõ cuộc khởi nghĩa có thể thất bại.
Lực lượng ông tập hợp không thể nào đủ mạnh để đương đầu lâu dài với triều đình.
Ông hiểu điều đó hơn bất kỳ ai.
Bởi ông là người đọc sách.
Người biết lịch sử.
Người đã nhìn thấy bao nhiêu cuộc nổi dậy trước đó thất bại như thế nào.
Nhưng ông vẫn làm.
Hơn 170 năm sau ngày ông mất.
Điều mà cuộc đời ông để lại vẫn chưa có câu trả lời.
Khi một xã hội có hệ thống không dành chỗ cho người tài năng thật sự.
Khi con đường để đi lên đòi hỏi sự im lặng và tuân thủ mà một con người thật sự tài năng không thể nào chấp nhận.
Thì điều gì xảy ra với những người như cao bá quát và quan trọng hơn.
Điều gì xảy ra với những xã hội đã để những con người như ông bị lãng phí theo cách đó.
Và câu hỏi gần hơn với mỗi người trong chúng ta hơn.
Bất kỳ ai cũng có lúc đứng trước lựa chọn giữa việc phục tùng một hệ thống để sống yên ổn hay giữ lấy điều mình tin là đúng.
Và chịu đựng hậu quả của sự lựa chọn đó.
Cao bá quát đã chọn rồi.
Ông chọn hoa mai.