Trung Quốc – quốc gia có diện tích rộng lớn và lịch sử hàng nghìn năm – sở hữu vô số danh thắng thiên nhiên và di sản văn hóa khiến cả thế giới phải kinh ngạc. Trong video này, chúng ta sẽ cùng nhau khám phá Top 10 danh thắng đẹp nhất Trung Quốc, nơi hội tụ những kỳ quan thiên nhiên hùng vĩ, những địa điểm du lịch Trung Quốc nổi tiếng toàn cầu, và các công trình lịch sử mang đậm dấu ấn văn minh phương Đông.
Từ Hồ Muối Chaka – “thiên đường phản chiếu bầu trời” được mệnh danh là chốn tiên cảnh trần gian, đến Tử Cấm Thành Bắc Kinh – quần thể cung điện cổ lớn nhất thế giới. Từ Hoàng Sơn Trung Quốc với biển mây huyền ảo và tùng cổ nghìn năm, đến Cửu Trại Câu – thế giới cổ tích giữa núi rừng Tứ Xuyên. Mỗi địa danh đều là sự kết tinh hoàn hảo giữa thiên nhiên, lịch sử và văn hóa, khiến du khách một lần đặt chân tới là không thể nào quên.
Không chỉ đơn thuần là những cảnh đẹp Trung Quốc, video còn mang đến những câu chuyện ít người biết, nguồn gốc hình thành địa chất, giá trị văn hóa – lịch sử, cùng các số liệu du lịch mới nhất. Qua đó giúp bạn hiểu vì sao du lịch Trung Quốc 2025 tiếp tục nằm trong nhóm quốc gia thu hút du khách nhiều nhất thế giới.
📍 Nội dung nổi bật trong video:
Top 10 danh thắng đẹp nhất Trung Quốc theo mức độ choáng ngợp Những kỳ quan thiên nhiên Trung Quốc hiếm có trên thế giới Các địa điểm du lịch Trung Quốc nổi tiếng và ít người biết Hạng nhất khiến cả thế giới kinh ngạc với vẻ đẹp như tiên cảnh Góc nhìn lịch sử – văn hóa – địa chất đặc sắc cho từng danh thắng
Các bạn thân mến, hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu về top 10 danh thắng đẹp nhất Trung Quốc
cửu chạy cầu chỉ xếp hạng 8 Hoàng Sơn đứng thứ 3.
Hạng nhất được mệnh danh là Chốn Tiên Cảnh Trần Giang, mỗi năm thu hút hơn 3 triệu du khách hành hương.
Là một trong những quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới, Trung Quốc có tổng cộng 38.673 khu du lịch,
trong đó có 16.541 điểm du lịch cấp A, chỉ riêng năm 2024.
Tổng lượng khách tham quan các điểm du lịch Trung Quốc đã lên tới 5,615 tỷ lượt người,
tương đương với 1,4 tỷ dân cả nước, mỗi người trung bình du lịch 4 lần mỗi năm.
Doanh thu ngành du lịch đạt tới 6,79 nghìn tỷ nhân dân tệ, là quốc gia kiếm tiền từ du lịch nhiều thứ 8 thế giới.
Từ hồ nước tiên nữ nơi Trần Thế đến vua hang động như cung điện dưới lòng đất,
rồi đến thiên đường phản chiếu hòa làm một với trời nước,
mỗi điểm đến nơi đây đều là sự kết tinh đỉnh cao của lịch sử và thiên nhiên.
Hôm nay, hãy cùng Top 360 cùng nhau khám phá 10 tháng cảnh đẹp tuyệt sắc nhất Trung Quốc.
Vị trí thứ 10 của Cổ Trấn Phu Dung
Thị trấn treo mình trên thác nước nghe như một khung cảnh cổ tích,
nhưng tại Tương Tây, Hồ Nam, nơi như vậy thực sự tồn tại.
Đó chính là Cổ Trấn Phu Dung, được mệnh danh là phiên bản đời thực của vùng đất linh hồn.
Cổ Trấn Phu Dung nằm tại châu Tự Trị, dân tộc Thổ Gia và Miêu Tương Tây,
thuộc huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Hồ Nam.
Tọa lạc bên bờ sông Du Thủy, ba mặt được nước bao quanh,
tựa núi mà xây dựng, nó nằm đúng giữa Trương Gia Giới và Cổ Thành Phượng Hoàng,
trở thành điểm kết nối giữa hai khu du lịch nổi tiếng.
Cùng với việc tuyến cao tốc Trương Gia Giới, hoài hóa được khai thông,
du khách chỉ cần xuống tại gà Phu Dung Trấn,
chỉ mất quãng đường 2,5 km là có thể đến Cổ Trấn.
Lịch sử của Cổ Trấn này có thể truy ngược hơn 2000 năm trước từ thời Tây Há.
Nơi đây đã là trung tâm chính trị của huyện Dậu Dương, được gọi là Hùng Trấn Dậu Dương,
tên cũ của nó là Làng Vương,
là nơi quần cư của người Thổ Gia, từng là bến cảng thương mại quan trọng vùng Thượng Lưu, Trường Giang,
dựa vào sông Du Thủy và Đông Thủy để kết nối với vùng Tứ Xuyên, Trung Khánh.
Từng phôn thị một thời, cho đến những năm 1980 của thế kỷ trước,
nhờ bộ phim nổi tiếng Phu Dung Trấn được quay lại tại đây mà danh tiếng vang xa,
từ đó chính thức đổi tên thành Phu Dung Trấn,
trở thành điểm du lịch nổi tiếng khắp cả nước.
Cổ Trấn Phu Dung, điều khiến người ta kinh ngạc nhất chính là thác nước đổ xuyên qua thị trấn.
Toàn bộ thác được chia thành hai tầng, tổng chiều cao khoảng 60m, rộng khoảng 40m.
Dòng nước từ vách đá đổ thẳng xuống, âm thanh vang rội như sấm,
trong khoảng vi 10 dạng đều có thể nghe thấy.
Sự hình thành của thác nước bắt nguồn từ dòng nước sông Du Thủy,
rơi xuống từ độ tranh địa hình tại vách đá.
Thiên nhiên đã tạo nên kỳ quan này,
có người nói đây là hóa thân của giọt lệ tiên nữ nên dòng nước mới tuôn chạy không ngực.
Điểm khác biệt là những ngôi nhà sàn của Cổ Trấn bám dọc hai bên thác,
kiến trúc vỗ hòa quyện cùng làng xương nước tựa như cả thị trấn được treo lơ lửa lượng trên thác.
Ban ngày thác nước cầm vang, xương mù lan tỏa mờ ảo,
du khách còn có thể đi xuyên sau màn nước trải nghiệm sự hy diệu của động màn nước.
Còn khi đêm xuống, ánh đèn và thác nước hòa quyện thành bức tranh huyền ảo,
tựa như lạc vào trốn tiên cảnh.
Ngoài thác nước ra, những công trình trong Cổ Trấn cũng vô cùng cuốn hút.
Tiêu biểu nhất chính là nhà sàn của người Thổ Giang,
Chúng tựa núi, hướng ra sông, dầm vỗ làm kết cấu chịu lực đặt trên các cụ đá,
tăng khả năng chống ẩm và lũ núi.
Trong trấn có một con đường đá dài nằm dặm xuyên suốt từ Nam đến Bắc,
hai bên là những ngôi nhà cổ san sát.
Những phiến đá xanh bị vô số bước chân mái nhãng, ghi dấu vết của thời gian.
Trong trấn còn có cầu Thổ Vương, vườn Thông Trụ và giếng cổ Tây Khê cùng các di tích khác.
Chúng thể hiện lịch sử chế độ Thổ Ti và sự giao thoa dân tộc diện mạo cho đến ngày nay.
Cổ Trấn Phù Dung hiện có khoảng hơn 30.000 cư dân thường trú,
trong đó chủ yếu là người Thổ Gia, người Hán và người Miêu cùng sinh sống,
là khu vực cư trú tập trung của các dân tộc.
Nơi đây vẫn lưu giữ nhiều phong tục và lễ hội truyền thống.
Nếu du khách ghé thăm đúng dịp, có thể sẽ được chứng kiến điệu múa bãi thủ của người Thổ Gia
hay màn trình diễn trang phục và trang sức bạc của người Miêu.
Sự nồng hậu và mộc mạc ấy đủ khiến lòng người say mê.
Dạo bước trên những con phố đá xanh của cổ trấn,
ban ngày có thể chiêm ngưỡng kỳ quan thiên nhiên, núi sông hòa quyện,
ban đêm lại được thưởng thức ảo cảnh của nước và ánh đèn.
Chẳng trách có người nói rằng Cổ Trấn Phù Dung không chỉ đơn thuần là một điểm du lịch
mà còn như một huyền thoại được khẳng giữa núi no sông nước.
Nhắc đến sa mạc, phần lớn mọi người sẽ nghĩ đến sự hoang vu không một ngọn cỏ.
Nhưng tại Tây Bắc Trung Quốc, sa mạc Baden-Garan lại phá vỡ mọi tưởng tượng.
Trên vùng đất rộng 47.000 km2 này lại ẩn chứa tới 144 hồ nước và mạch suối,
rút cuộc nguyên nhân gì khiến các vàng và làn nước xanh có thể song hành.
Sa mạc Baden-Garan nằm trên cao nguyên Ansa của Nội Mông,
là sa mạc lớn thứ ba của Trung Quốc.
Vì thế nơi đây cao ráo độ cao so với mực nước biển,
chủ yếu từ 1.200 đến 1.700 mét.
Những đỉnh côn cáp nhập nhồ liên tiếp, chiều cao có thể đạt từ 200 đến 500 mét.
Trong đó nổi tiếng nhất là đỉnh Bilutu,
được mệnh danh là Everest của sa mạc,
độ cao tương đối có thể lên tới 500 mét, hùng vĩ và tráng lệ.
Khác với hình ảnh đơn điệu, hoang tàn thường thấy của biển cáp,
sa mạc Baden-Garan nổi tiếng với 5 kỳ quan độc đáo,
đỉnh cáp kỳ lạ và cáp hắt, hồ nước, suối thiêng và chùa cổ.
Trước hết là những đỉnh cáp kỳ lạ, cáp cồn cáp xứng xứng,
đường nét mềm mại tựa như dãy núi vàng trải dài đến tận chân trời.
Tiếp theo là hiện tượng cáp hắt, khi cáp trượt theo gió,
âm thanh rung động do ma sát có thể đạt tới 105 dB,
tương đương tiếng gầm khi máy bay cất cánh.
Bản giao hưởng tự nhiên, kỳ lạ này, khiến con người không khỏi kính sợ.
Điều khiến người ta kinh ngạc hơn, cả là giữa lòng sa mạc khô hạ,
tột cùng lại giải rác khoảng 144 hồ nước và mạch suối.
Trong đó có khoảng 74 hồ quanh năm có nước, tổng diện tích mặt nước vượt qua 49.000 mẫu.
Nước hồ có nơi trông xanh biếc, có nơi ánh lên sắc đỏ nhạt hoặc tím,
tựa như những viên ngọc khảm trong biển cát.
Nổi tiếng nhất là hồ Jindaritu, trên đảo nhỏ giữa hồ phun lên 108 mạch nước trong,
được người dân địa phương gọi là suối thiêng.
Nước suối không bao giờ cạn quanh năm lại giàu nhiều nguyên tố vi lượng,
được cho là có tác dụng bồi bổ sức khỏe.
Khảnh tượng kỳ lạ như vậy cực kỳ hiếm thấy trong các sa mạc trên thế giới.
Các nhà khoa học đã nghiên cứu lâu dài về nguyên nhân hình thành sa mạc này.
Lượng mưa hàng năm chỉ khoảng 50-60 mm,
trong khi lượng bốc hơi lại cao tới 3.500-4.000 mm.
Theo lý thuyết thì không thể tồn tại hồ và suối,
nhưng hệ thống bổ cập nước ngầm lại thể hiện điều kỳ diệu ngay tại đây.
Một số nghiên cứu cho rằng nguồn nước đến từ băng tuyết tan ở dãy núi Kỳ Liên
hoặc từ các tầng chứa nước khổ xưa trôn sâu dưới lòng đất.
Chính điều kiện địa chất thủy văn đặc biệt này
đã tạo nên kỳ quang giữa sa mạc, nơi hồ nước và các hác cùng tồn tại.
Sa mạc Ba Denjaran không chỉ khiến người ta thán phục bởi kỳ quan thiên nhiên
mà còn lưu giữ chiều sâu lịch sử văn hóa.
Bên bờ hồ Suminjilin, giữa lòng sa mạc xứng xứng một ngôi chùa Phật giáo
mật tông xây dựng vào thời Càn Long Nhà Thanh, chùa Ba Denjaran.
Chùa được xây dựng đơn sơ, bốn bề bao quanh bởi cốn cát,
dù địa thờ không lớn nhưng hương khói chia từng gián đoạn.
Dù đường đi hiểm trở vẫn có tín đồ vượt đường xa đến hành hương,
Về hùng vĩ và bị ẩn của Ba Denjaran cũng thu hút vô số nhà thám hiểm và học giả.
Có người coi việc chinh phục đỉnh Minutu là thử thách của cả đời người,
bởi khi đứng trên đỉnh cao 1617m không chỉ có thể nhìn xuống những làn sóng cắt vàng nhấp nhô
mà còn có thể phóng tầm mắt ra bảy hồ nước kề bên, tựa như bảy viên minh châu do tiên nữ gieo rắc.
Tại địa phương còn lưu truyền thuyền thuyết tuyệt đẹp rằng bảy hồ nước này
chính là do bảy vị tiên nữ lưu luyến trần gian vẽ nên khoác lên vùng hoang mạc này sắc màu lãng mạn.
Vị trí thứ 8 Hồ Seyram
Hồ Seyram là hồ có độ cao lớn nhất ở Tân Cương và là một trong những hồ có diện tích lớn nhất ở độ cao lớn,
được mệnh danh là giọt nước mắt cuối cùng của Đại Tây Dương.
Điều này không khỏi khiến người ta cảm thấy khác lạ,
một hồ nước nằm sâu trong dãy thiên sơn lại có thể liên hệ với Đại Tây Dương xa xôi.
Hồ Seyram nằm ở Tân Cương, thuốc địa phận thành phố Bon, châu Tự Trị,
mông cổ Portala ở độ cao khoảng 2.073m.
Mặt hồ kéo dài theo hướng Đông Tây khoảng 30km, chiều rộng Bắc Nam khoảng 25km,
tổng diện tích đạt 453km2, độ sâu lớn nhất là 92m.
Lượng nước tích chữ lên tới 21 tỷ mét khối, tựa như một tấm gương xanh lam nằm yên giữa núi no.
Hồ được cung cấp bởi nước băng tan và nước mưa, cùng với dòng chảy mặt đất và nước ngầm.
Nước hồ trong vắc, độ trong có thể đạt tới 12m, được mệnh danh là biển tĩnh lặng.
Và chính biển tĩnh lặng này, sở dĩ được gọi là giọt nước mắt cuối cùng của Đại Tây Dương,
nguyên nhân chủ yếu là hồ Seyram nằm trong vành đai gió Tây tịnh hành.
Các luồng khí ẩm từ Đại Tây Dương xuyên suốt lục địa,
Âu khi đến dãy Thiên Sơn thì bị nâng lên và làm nạnh,
ngưng tụ thành mưa tuyết, cuối cùng trở thành nguồn nước của hồ.
Nói cách khác, nước hồ này chính là điểm kết thúc hành trình của hơi nước Đại Tây Dương.
Khi quan địa lý như vậy, khiến nơi đây trở thành cầu nối bí ẩn giữa lục địa và đại dương,
cũng khiến người ta cảm nhận rõ hơn vẻ thơm mộ và lãng mạn của nó.
Seyram trong tiếng Kazakh mang ý nghĩa lời chúc bình an,
tự chưng cho sự an lành của lữ khách trên con đường tơ lụa cổ đại.
Nơi đây từng được gọi là Tăng Đài Hải Tửng do được đặt tên theo thành Tăng Đài Cổ ở Bờ Đông Hồ.
Từ hàng trăm năm trước, hồ Seyram đã là trạm dứng bắt buộc trên tuyến Bắc Con đường tơ lụa.
Tiếng chuông lạc đà vang vọng, thương nhân qua lại không ngớp.
Học giả nổi tiếng thời nguyên là Zalot Sertai cùng lâm tắc từ thời thanh đều từng ghé thăm.
Zalot Sertai còn ca ngợi trong thơ những đỉnh tuyết bao quanh in bóng xuống mặt hồ.
Xung quanh hồ vẫn còn lưu lại quần thể mộ cổ ô thôn, bia đá, tranh khắc đá và di tích chua cục.
Những di tích này khiến hồ Seyram không chỉ là kỳ quan thiên nhiên, Bắc Con là chứng nhân của lịch sử.
Khi bước đến bên hồ, điều đầu tiên đập vào mắt là sắc màu biến ảo khôn lường của mặt ngưỡng.
Màu xanh của hồ Seyram được ghi dĩ vì như sắc xanh có thể sánh với bầu trời.
Theo sự thay đổi của ánh sáng và thời tiết, mặt hồ hiện lên màu xanh nhạt, xanh đậm,
thanh lam ngọc bích xếp tầng lớp lớp như bảng hoa màu được thiên nhiên dụng tầm nhất.
Vào mùa hè, thảo nguyên ven hồ hoa nở rực rỡ,
hoa kim niên cũng một loài hoa dại phủ kín mặt đất, châu bò dê cừu thành đàn.
Lều nỉ của người ru mục điểm suyết khắp nơi tạo nên bức tranh mục ca cao nguyên đầy chất thơ.
Còn vào mùa đông, hồ Seyram lại phô bày một cảnh tượng khác.
Lớp băng dày, phủ kín mặt hồ, khí thể từ đáy hồ kích tinh thành những bọt băng tựa
như những viên liu ly trong suốt dải khắp lớp băng.
Sự xuất hiện của băng nước, băng nhọn và đá băng khiến mặt hồ như một triển lãm điêu khắc băng tự nhiên.
Người dân đục băng trên hồ để đánh bắt cá,
chủ yếu là các loài cá nước lạnh như cá trắng cao.
Đây cũng là cảnh sinh hoạt mùa đông độc đáo của hồ Seyram.
Đang chú ý là trước năm 1998, hồ Seyram hầu như không có cá cho đến khi du nhập
các loài cá nước lạnh từ Nga hồ nước này mới kết thúc lịch sử không có cá.
Vị trí thứ 7, ruộng Bậc Thang Nguyên Dương
Ruộng Bậc Thang Nguyên Dương nằm ở tỉnh Vân Nam, thuộc huyện Nguyên Dương,
châu tự trị Hồng Hà của dân tộc Hani và Di.
Khu vực này nằm ở phía đông nam dãy Ai Lao,
núi cao, thùng lũng sâu, sông suết tràng trịt, hầu như không có đất bằng.
Vậy trong thời đại khoa học kỹ thuật chưa phát triển,
người dân sinh sống nơi đây lấy lương thực bằng cách nào để tồn tại được?
Theo sử liệu ghi chép từ 1.200 đến 2.000 năm trước,
Tổ tiên, người Hani đã bám dễ tại đây bằng cách khai núi mở đất bằng phương thức dẫn nước tạo ruộng.
Dân dân hình thành nên quần thể ruộng Bậc Thang đồ sộ hiếm có trên thế giới ngày nay.
Tổng diện tích ruộng Bậc Thang Hani Sông Hồng khoảng 1 triệu mẫu,
riêng huyện Nguyên Dương đã sở hữu từ 170.000 đến 190.000 mẫu là khu vực lõi quan trọng.
Trên một sườn núi đơn lẻ có thể xây dựng tới 3.000 bậc ruộng vô cùng hùng vĩ.
Bậc lớn có thể rộng tới vài mẫu, bậc nhỏ thì liên tục như văn sóng, hình thái biến hóa muôn hình vạn trạng.
Năm 2013, ruộng Bậc Thang Nguyên Dương với tư cách là một phần quan trọng
đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc ghi danh vào danh sách di sản văn hóa thế giới.
Khu vực di sản có diện tích lên tới 16.603 hectare, vùng đệ thậm chí còn vượt qua 29.500 hectare,
đủ để thấy giá trị và tầm ảnh hưởng của nó.
Sự hình thành của ruộng Bậc Thang Nguyên Dương không phải là ngậu nhiên,
mà là sự kết hợp giữa điều kiện tự nhiên và trí tuệ con người.
Địa hình đặc thù của giấy Ai Lao đã mang lại không gian rộng lớn cho ruộng Bậc Thang,
độ dốc chảy từ 15 đến 75 độ không đồng điều.
Hầu như trên mỗi sợn núi đều có thể thấy các thửa ruộng xếp tầng.
Nơi đây, mưa mù rồi rào, rừng rậm xanh tốt nuôi dưỡng những dòng xuôi núi không ngừng chảy,
cung cấp nguồn nước ổn định cho ruộng Bậc Thang.
Người Hani Đắc Heo Léo xây dựng một hệ sinh thái hoàn chỉnh, phía trên là rừng đầu nguồn tích nước dự ẩm,
ở giữa là làng bảng sinh sống và canh tác, phía dưới là ruộng Bậc Thang chảy dài từng lớp.
Kết hợp với hệ thống dẫn nước trang trị tạo thành cấu trúc lập thể gồm rừng, làng, ruộng Bậc Thang và thủy hệ,
giúp nông nghiệp được duy trì qua nhiều thế hệ.
Khi đến với Nguyên Dương, điểm ngắm cảnh nổi tiếng nhất phải kể đến Lão Hồ Chủy, Đai Thuật, Ba Đạc và Tân Khổng.
Ruộng Bậc Thang Lão Hồ Chủy rộng khoảng 6.000 mẫu, được đặt tên do có hình dáng như miệng hồ.
Vào lúc hoàng hôn, ánh chiêu tạo hòa quyện cùng ruộng nước tựa như ánh trời đổ xuống trần gian.
Ruộng Bậc Thang Đai Thuật nổi tiếng với cảnh bình minh, khi ánh mặt trời xuyên qua biển mây,
mặt nước ánh lên sắc vàng rực rỡ tựa trốn tiên cảnh.
Ruộng Bậc Thang, Ba Đạc và Tân Khổng phô bày những giải ruộng liên mạch hùng vĩ
là nơi lý tưởng để quan sát đời sống làng bảng Hà Ni và văn hóa dân gian đặc sắc.
Theo từng mùa khác nhau, ruộng Bậc Thang mang vẻ đẹp riêng biệt.
Mùa xuân ruộng nước phẳng lặng như gương, mùa hè sóng lúa rập rành, mùa thu vàng rực trói mắc,
mùa đông mây mù quấn quyết, bốn mùa đều là cảnh đẹp.
Trong các làng còn có nhiều ngôi nhà nấm độc đáo,
chủ yếu được xây bằng gỗ và đá, mái nhà lập cỏ tranh,
thể hiện chiếc lý sống hài hòa giữa con người Hà Ni và thiên nhiên.
Tại làng cổ A Triết Kha, người dân đến nay vẫn giữ gìn lối sống truyền thống.
Điều thú vị hơn nữa là người dân địa phương đã mở rộng tư duy Bậc Thang vào mọi mặt của đời sống.
Đường phố và lối đi trong thị trấn Nguyên Dương thường được xây dựng men theo sờ núi,
tựa như các Bậc Thang xếp lớp đi lên.
Thậm chí toàn bộ bố cục thị trấn cũng giống như thu nhỏ của ruộng Bậc Thang.
Sự theo đuổi tính, phân tầng này không chỉ tồn tại trong sản xuất nông nghiệp
Vị trí thứ 6 Động Di Diên
Trong sâu thảm lóng đất Quý Châu ẩn dấu một cung điện vĩnh hàng tổng chiều dài khoảng 12,1 km,
tổng diện tích vượt qua 700.000 m2.
Đó chính là hang động được mệnh danh là Vua Hang Động Trung Quốc, Động Di Diên,
nằm tại huyện Trức Kim, thành phố Tất Tiết, tỉnh Quý Châu, thuộc hương quan trại của người Miêu.
Tương truyền có một con gà vàng bay vào động rồi biến mất,
mọi người lần theo dấu vết tìm kiếm mới phát hiện ra bó vật dưới lòng đất này.
Cũng có người nói rằng, dân làng địa phương trong lúc tìm gà trọi đã tình cờ lạc vào nên hang động mới có tên gọi như vậy.
Đến nay, động cách thị trấn khoảng 23 km, cách Quý Dương 166 km,
hang động này hình thành từ khoảng 220 triệu năm trước.
Các tầng địa chất muối carbonate thuộc kỳ Tam Đẹp Hạ trải qua hàng tỷ năm bị dòng nước vào mòn.
Sự hòa tăng của đá và sự lắng động của nước nhỏ giọt dần hình thành nên thế giới ngầm hùng vĩ như ngày nay.
Không gian trong hang vô cùng rộng lớn, nhịp lớn nhất có thể đạt tới 175 mét, độ trên cao tương đối lên đến 150 mét.
Bên trong có hơn 3.000 điểm tham quan, có 13 đại sảnh với diện tích trên 3.000 m2,
trong đó 6 đại sảnh vượt qua 10.000 m2, tựa như những thánh đường tự nhiên dưới lòng đất.
Cảnh quan nổi tiếng nhất trong hang chính là cây ngọc bạc, cột nhũ đá cao tới 17 mét này, được mệnh danh là bó vật của trái đất.
Hình dáng của nó vô cùng phức tạp, phần đỉnh xòe ra như những cánh hoa,
phần giữa tựa như thân cây khô uốn lượn, phía dưới lại giống như ngà voi được chạm khắc.
Cấu trúc xếp lớp trồng chéo ghi lại dấu ấn của hang tỉ 5 thời gian.
Các nhà địa chất học cho rằng cấu trúc như vậy gần như là một kỳ tích không thể sao chép.
Điều kỳ diệu hơn nữa là cây ban đầu từng biến mất do sụp đổ tự nhiên,
nhưng một cây mới lại mọc lên tại chính vị trí cũ như sự tiếp nối của sự sống.
Ngoài cây ngọc bạc, đậu Zizin còn có mũ bá vương, đàn tị bà treo ngược,
tinh mẹ trồng náng dâu cùng nhiều kỳ cảnh khác.
Đặc biệt là mũ bá vương cao 14 mét trong giống hệt mũ giáp của hang Vũ,
phản chiếu trong làn nước hang trong vắt tựa như một tác phẩm điêu khắc đá song trùng,
khiến người ta như xuyên ngược dòng lịch sử.
Đậu Zizin không chỉ tinh xảo và tráng lệ,
điều đáng ca ngợi hơn là kỳ tích khí hậu ổn định quanh năm của nơi này.
Nhiệt độ trung bình trong hang luôn giữ khoảng 16 độ C.
Dù bên ngoài nóng bức hay giá lạnh, bên trong hang vẫn luôn dễ chịu và ôn hòa.
Tham quan vào mùa hè mát mẻ như mùa xuân, đến vào mùa đông lạnh ấm áp như mùa thu,
điều này cũng khiến đậu Zizin trở thành điểm du lịch lý tưởng quanh năm.
Kể từ khi được phát hiện vào năm 1980, đậu Zizin đã thu hút sự chú ý rộng rãi.
Năm 2015, nơi đây được UNESCO công nhận là công viên địa chất thế giới,
trở thành một trong những khu du lịch đầu tiên của Quý Châu đạt vinh dự này.
Để bảo vệ kỳ quan dưới lòng đất này,
địa phương đã xây dựng cơ sở dữ liệu bảo tồn di tích địa chất và hệ thống Quest 3 chiều,
đồng thời lắp đặt 160 thiết bị giám sát theo dõi thời gian thực độ ẩm và nồng độ CO2,
đảm bảo các khối nhũ đá mong manh không bị tổn hại bởi hoạt động của con người.
Đồng thời, khu vực xung quanh còn triển khai hoàng rừng và các biện pháp quản lý sinh thái đá,
độ chê phủ thực vật đạt tới 68%, mang lại sự bảo vệ toàn diện cho hệ sinh thái.
Ngày nay, Động Gijin không chỉ là thánh đường nghệ thuật của thiên nhiên,
mà còn kết nối với thành phố Gijin lân cận.
Hẻm núi Luzi và Hồ Đông Pheng cùng các điểm tham quan khác
tạo thành khu danh thắng tổng hợp rộng 450km vuộc.
Vị trí thứ 5 Cửu Trại Câu
Nơi đây không phải Đan Mạch nhưng lại được mệnh danh là thế giới cổ tích.
Tỷ lệ chê phủ rừng vượt quá 50%, một số khu vực thậm chí đạt trên 80%.
Câu nói cửu trại về rồi không còn muốn ngắm nước nơi khác đủ để nói lên sức hấp dẫn độc đáo của nơi này,
đó chính là Cửu Trại Câu.
Cửu Trại Câu nằm ở phía nam dãy núi Minsan, thuộc khu vực Tây, Bắc tỉnh Tứ Xuyên,
trong địa phận Nguyện Cửu Trại Câu, châu tự trị A Bá Tạ, Khương.
Cửa thung lũng ở độ cao khoảng 2.000m, phần trên cao nhất có thể vượt qua 4.500m.
Chiều sâu kéo dài hơn 30km, tổng diện tích khoảng 620-650km vuộc.
Địa hình đăng xen phức tạp, thế núi cao phía nam thấp dần về phía Bắc,
hình thành một khu cao nguyên núi, hệ sinh thái hoàn chỉnh.
Khí hậu nơi đây thuộc kiểu cao nguyên ẩm, bốn mùa mang vẻ đẹp khác nhau.
Hồ nước trong veo nhìn thấy đáy, thác nước đổ xuống dữ dội, tạo nên bức tranh sơn thủy biến hóa khôn lường.
Tên gọi Cửu Trại Câu bắt nguồn từ 9 bản làng của người tạm trong thung lũng,
bao gồm làng Xuzheng, làng Hai và làng Zhikagua, làng Panxin và làng Heigu,
làng Chien Pan và làng Ruesti, làng Wudo và làng Hakkan.
Thời cổ đại, đây là nơi sinh sống qua nhiều thế hệ của Tổ tiên, người tạm được gọi là Hoa Dược Cửu Trại.
Trong lịch sử, vùng đất này đã có dấu vết hoạt động của con người từ thời đồ đá mới,
thời Tân Hán là khu vực quần cư của người Khương, sau đó dần trở thành nơi định cư của người tạm.
Mãi đến thập niên 1970 của thế kỷ 20,
các nhà nghiên cứu của Viện Hàn Lâm Khoa Học Trung Quốc nhiều lần khảo sát mới,
đưa vẻ đẹp độc đáo của Cửu Trại Câu ra trước công chúng.
Năm 1977, nơi đây được xác lập là khu bảo tồn trọng điểm quốc gia của Trung Quốc
và năm 1992 được đưa vào danh mục Di sản Thiên nhiên – Thế giới,
trở thành bó vật thiên nhiên được cả thế giới chú ý.
Sự hình thành cảnh quang Cửu Trại Câu không thể tách rơi, tác động điện chất và khí hậu phức tạp.
Hoạt động băng hà cách đây hàng triệu năm đã tạo nên các thung lũng và họng đá băng,
đặt nền móng cho sự hình thành các hồ nước.
Động đất và dòng bùn đá thường xuyên khiến tách đá sụp đổ,
hình thành các hồ nước rực rỡ và bậc tầng trồng lớp.
Điều kỳ diệu hơn nữa là sự lắng động calcium carbonate trong nước tạo nên các đập đá vôi.
Dưới tác động của khoáng chất khác nhau và ảnh sáng,
nước hồ hiện lên sắc xanh lam, xanh lục, vàng óng cùng nhiều gam màu khác.
Từ đó hình thành nền ngũ hoa hải, tĩnh hải và hoa hoa hải cùng nhiều hồ nước khác,
tựa như những viên ngọc sắt màu khẳng giữa núi rừng.
Khác nạc nhật lãng với bề rộng 270m và độ cao rơi 20m,
được mệnh danh là một trong những thác nước rộng nhất Trung Quốc,
dòng nước cuồn cuộn, âm thanh vàng rội khắp thùng lũng.
Tuy nhiên, trận động đất lớn ở Vấn Xuyên năm 2008 đã khiến đập hòa hoa hải bị vỡ,
nước hồ từng có lúc cạn tiệt.
May mắn thay, nhờ công tác phục hồi khoa học, cảnh quan đã kỳ diệu trở lại như ban đầu.
Ngay 8 tháng 8 năm 2017, cửu chạy câu lại hứng chịu trận động đất 7,0 độ Richter.
Một phần thác nạc nhật lãng bị sụp đổ, nhiều cảnh quan bị hư hại,
nhưng sự tàn phá của động đất không thể lấy đi vẻ đẹp cốt lõi của cửu chạy câu.
Trong thùng lũng có tổng cộng 108 hồ nước, được gọi chung là quần hồ cửu chạy câu.
Buổi sáng sớm, mặt hồ củ xương mờ ảo tựa như trốn bọc ảo.
Mùa thu, dưng lá màu phản chiếu trong làn nước biết rực rỡ muôn sắc.
Mùa đông, băng tuyết và đỉnh núi hòa quyện phô bày vẻ đẹp lạnh lùng mà kêu xa.
Ba thùng lũng, chính là thụ chính câu, nhật tắc câu và tắc chà hoa câu phân bố đăng sen,
nối liền các hồ nước và thác nước như một bức tranh thủy mặt đang dần mở ra.
Vị trí thứ tư ĐĂN HÀ TRƯƠNG DỰỆCH
Năm 2005, ĐĂN HÀ TRƯƠNG DỰỆCH được bình chọn là một trong 7 đăn hà đẹp nhất Trung Quốc.
Năm 2009, được đánh giá là một trong sáu dạng địa mạo kỳ lạ đẹp nhất Trung Quốc.
Năm 2011, tiếp tục được xếp vào 10 kỳ quan địa lý kỳ diệu nhất thế giới.
Đến năm 2020, được nâng cấp thành khu du lịch quốc gia Nam A
và được UNESCO trao tặng danh hiệu Công viên địa chất thế giới,
khẳng định giá trị địa chất và thẩm mỹ của nơi này.
Trương dịch ĐĂN HÀ bẩy sắc nằm tại thành phố Trương Dịch, tỉnh Cam Túc,
ở phía bắc dãy núi Kỳ Liên, huyện Lâm Trạch và địa phận huyện Tự Trị Túc Nam
là một trong những dạng địa mạo ĐĂN HÀ tiêu biểu nhất của khu vực khô hạng miền Bắc Trung Quốc.
Tổng diện tích khoảng 510 km2, khu tham quan trọng điểm khoảng 50 km2, độ cao trung bình khoảng 2.000 m.
Toàn bộ khu cảnh quan kéo dài khoảng 45 km theo hướng Đông Tây,
chiều rộng Bắc Nam khoảng 5-10 km.
Thuật ngữ ĐĂN HÀ bắt nguồn từ núi ĐĂN HÀ ở Quảng Đông,
ý chỉ sắc đỏ đậm như chu sa, rực rỡ như mây chiều.
Nhưng khác với địa hình ĐĂN HÀ điển hình ở miền Nam, Trương dịch ĐĂN HÀ bẩy sắc do tầng đá mềm,
khả năng liên kết kém dưới tác động xói mòn của gió mưa hình thành các sơn đôi thoải,
các dài màu trồng lớp như chiếc bánh ngan tầng rực sắc.
Các lớp trầm tích đỏ nơi đây có thể truy ngược về thời kỳ Kỷ DuGa đến Kỷ Đại Tam.
Trải qua hàng chục triệu năm vận động và lãng động địa chất,
các khoáng chất sắc trong những môi trường khác nhau xảy ra phản ứng oxy hóa và khử,
dần hiện lên sắc đỏ, vàng, xanh lục, sáng cùng nhiều màu sắc khác.
Sau đó, dưới tác động phong hóa và sự cắt rẻ của dòng nước mưa hình thành,
các đỉnh núi trùng điệp, thung lũng đan xen trăng trịt tựa như bảng pha màu khổng lồ của trái đất.
Bước vào khu danh thắng, du khách thường bị chóa ngợp trước những đồi núi rực rỡ sắc màu.
Đài quan sát gấm gấm bẩy sắc, đài quan sát biển mây bẩy sắc
và nhiều nơi khác là điểm tụ họp của những người yêu nhếp ảnh.
Khi ánh bình minh chiếu dọi, màu sắc trở nên dịu dàng và phân tầng rõ rệt.
Ngoài việc đi bộ tham quan, khu du lịch còn phát triển các hoạt động kinh khí cầu, trực thăng
và du lượng có động cơ giúp du khách có thể từ nhiều góc độ khác nhau cảm nhận kiến tác của thiên nhiên này.
Các bộ phim của chương nghệ mưu như Tam Cường, Phan Kỳ Ám, Vạn Lý Trần Thành
cùng phim truyền hình Thần Thám Địch Nhân Kiệt đều từng lấy bối cảnh tại đây.
Thậm chí quán mì mặt rỗ trong phim còn được giữ lại trở thành một cảnh quan văn hóa độc đáo.
Điều ít người biết là chương dịch Đan Hà Bảy Sắc chỉ thực sự được công chúng biết đến trong khoảng chưa đầy 20 năm gần đây,
năm 2002. Một nhiếp ảnh gia nghiệp dư tình cờ chụp lại phong cảnh mùa thu đầy màu sắc nơi đây
và đăng tải những bức ảnh đó khiến vô số người kinh ngạc, từ đó vùng hoang dã vốn vô danh này
dần bước ra sân khấu thế giới. Tuy nhiên, vẻ đẹp của Đan Hà Bảy Sắc cũng vô cùng mong manh,
các tầng đá màu có kết cấu mềm, chỉ cần bị dẫm đạp hay phá hoại nhân tạo sẽ rất khó phục hồi.
Vì vậy, chính quyền địa phương đã ban hành quy định bảo vệ Đan Hà Bảy Sắc chương dịch,
quy định nghiêm ngặt phạm vi bảo vệ và các hành vi bị cấm. Trong khu danh thắng đã xây dựng
các đài quan sát và lối đi trên cao để hướng dẫn du khách tham quan theo từng khu vực,
đồng thời thông qua công nghệ VR và các công nghệ mới nhằm giảm thiểu tác động đến thiên nhiên.
Những biện pháp này chính là để cầu vồng mọc lên từ mặt đất này có thể được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Vị trí thứ 3 Hoàng Sơn
Bạn có biết không, tại Trung Quốc có một ngọn núi mỗi năm có tới hơn 260 ngày được bác phủ bởi mây mù,
những đỉnh đá kỳ lạ trông như trốn tiên cảnh, đó chính là Hoàng Sơn nằm ở tỉnh An Huy.
Hoàng Sơn trước đây nổi tiếng với tên gọi ỉ Sơn vì thân núi có màu xanh đen mà được đặt tên như vậy.
Vào năm thứ 6 Nguyên hiệu Thiên Bảo Đời Đường, tương truyền Hoàng đế từng luyện đàn thành tiên tại đây nên ngọn núi được đổi tên thành Hoàng Sơn.
Tổng diện tích Hoàng Sơn khoảng 1.200 km2, khu vực danh thắng trọng tâm khoảng 155-160 km2.
Ba đỉnh chính là Liên Hoa Phong, Quang Minh Đỉnh và Thiên Đô Phong đều cao trên 1.800m,
trong đó Liên Hoa Phong cao 1.864m là điểm cao nhất của Hoàng Sơn.
Nguồn gốc địa chất của Hoàng Sơn có thể truy về thời viễn cổ, trải qua khỉ chấn đáng và vận động tạo núi thời trung sinh,
sự hình thành đá hoa cương và xói mòn băng hà mới tạo nên diện mạo hùng tú kỳ tuyệt như ngày nay.
Các văn nhân mà khách qua nhiều triều đại đều không ngớt lời ca ngợi,
nhà du hành thời Minh là từ hiệp khách còn để lại lời cảm thán khi leo Hoàng Sơn rằng
thiên hạ không còn ngọn núi nào sánh bằng.
Năm 1979, sau khi Đặng Tiểu Bình lên thăm Hoàng Sơn,
ông cho rằng đây là nơi rất thích hợp để phát triển du lịch,
đặt nền móng cho việc đưa du lịch Hoàng Sơn vươn ra thế giới.
Năm 1990, Hoàng Sơn được UNESCO công nhận là di sản văn hóa và thiên nhiên,
thế giới trở thành một trong những khu danh thắng núi tiểu biểu nhất của Trung Quốc.
Nhắc đến Hoàng Sơn thì không thể không nhắc tới tứ tuyệt của nơi này là kỳ tùng,
quái thạch, biển mây và suối nước nóng.
Những cây tùm kỳ lạ như ngây khách tùm có dễ bám chặt vào vách đá dựng đứng,
trải qua mưa gió vẫn sửng sửng nghiêng ngang như đang đón tiện khách khắp bốn phương.
Những khối đá kỳ dị là kết quả của sự phong hóa lâu dài và xói mòn của đá hoa cương.
Hiện đã có hơn 120 khối đá kỳ dị được đặt tên như Mộng Bút Sinh Hoa,
Tương truyền khối đá kỳ lạ Mộng Bút Sinh Hoa này còn có liên quan đến thi tiên Lý Bạch,
nghe nói khi xay rượu ống đã đánh rơi bút lông,
hóa thành cột đá vươn thẳng lên trời, tự chưng cho tài hoa tràn đầy.
Biển mây chính là linh hồn của Hoàng Sơn, do núi cao và thung lũng sâu,
khí hậu lại ẩm ướt, Hoàng Sơn mỗi năm có hơn 260 ngày phát hiện mây mù.
Khi mây cuộn trào, các đỉnh núi như những hòn đảo trôi nổi giữa đại dương.
Ngoài ra, suối nước nóng và lối đi hình chữ nhân của Hoàng Sơn cũng vô cùng đặc sắc.
Nhân tựa phố có độ chênh cao lên tới 80 mét, tựa như 4 người khổng lồ rang rộng,
vòng tay chắn ngang núi rừng, vì thế vô cùng hùng vĩ.
Điều khiến người ta kinh ngạc hơn nữa là trong một số thung lũng ở tiền Sơn,
vẫn còn lưu giữ dấu tích của Kỳ Bang Hà Đệ Tứ,
cung cấp những mẫu vật vô cùng quý giá cho nghiên cứu khoa học.
Hoàng Sơn không chỉ có cảnh quan kỳ lạ mà giá trị sinh thái cũng vô cùng đáng kinh ngạc.
Nơi đây là môi trường sinh sống của hơn 300 loài động vật có sương sống,
trong đó có 48 loài thú và 170 loài chim.
Về thực vật, các loài rêu chiếm tới 1 phần 3 tổng số của Trung Quốc,
các loài thực vật bậc thấp chiếm hơn một nửa cả nước,
nhiều loài là đặc hữu hoặc thuộc diện bảo vệ trọng điểm quốc gia.
Sự đa dạng sinh học phong phú khiến Hoàng Sơn trở thành một trong những địa điểm
quan trọng cho nghiên cứu sinh thái và địa chất của Trung Quốc và thế giới.
Về đẹp của Hoàng Sơn không chỉ là sự trồng chất của các cảnh quan tự nhiên
mà còn là kết quả của sự giao hòa lâu dài giữa con người và thiên nhiên.
Nơi đây vừa có truyền thuyết tiên nhân luyện đàm lại vừa được tô điểm bởi thi ca của các phán nhân,
vừa là bảo tàng địa chất tự nhiên, vừa là miền mơ ước của các nhếp ảnh gia và lữ khách.
Hoàng Sơn ngày nay vừa là khu danh thắng trọng điểm quốc gia,
vừa là điểm đến quan trọng của du lịch quốc tế, trở thành biểu tượng của văn hóa núi non Trung Quốc.
Hơn 600 năm trước, một cung điện tráng lệ được xây dựng trong suốt 14 năm vào năm Vĩnh Lạc thứ 18,
vươn lên sừng sững trên trục trung tâm của Thánh Bắc Kinh,
từ đó trở thành nơi ở của 24 vị Hoàng đế Triều Minh và Thanh và là trung tâm quyền lực quốc gia,
đó chính là Tử Cấm Thành Bắc Kinh.
Là quần thể cung điện bằng gỗ còn tồn tại lớn nhất thế giới
và được bảo tồn nguyên vẹn nhất trong số các công trình cung điện cổ đại,
Tử Cấm Thành đã chứng kiến gần 500 năm thăng trầm của các triều đại.
Năm 1924, sau khi vị Hoàng đế cuối cùng phổ nghi bị trục xuất khỏi Tử Cấm Thành,
cung thành này mới thực sự khép lại vai trò lịch sử của một triều đại.
Năm sau đó, Bảo tàng Cố Cung chính thức được thành lập,
mở ra chương mới trong vai trò bảo tồn di sản và biểu tượng văn hóa.
Tử Cấm Thành nằm ở trung tâm thành phố Bắc Kinh, trên trục trung tâm của Cố Đô Bắc Kinh,
vị trí địa lý được xem là trung tâm của trời đất.
Toàn bộ công trình dài 961 mét theo hướng Bắc Nam, rộng 753 mét theo hướng Đông Tây.
Tổng diện tích khoảng 72 hectare, diện tích xây dựng khoảng 150.000 m2.
Xung quanh là tường thành cao 10 mét và hào nước rộng 59 mét, tựa như thành đồng vách sắt,
vừa thể hiện uy nghiêng vừa đảm bảo an toàn.
Toàn bộ công điện được xây dựng nghiêm ngặt theo tư tưởng lễ chế cổ đại Trung Hoa
với bố cục đối xứng theo trục trung tâm.
Phía nam là ngoại triều, phía bắc là nội đình, tạo thành các lớp không gian nối tiếp,
bố cục chặt chẽ và chặt tự, thể hiện quyền uy tối thượng của Hoàng quyền.
Trong đó nổi vật nhất chính là 3 đại điện ở ngoại triều gồm Thái Hòa Điện, Trung Hòa Điện và Bảo Hòa Điện.
Trong đó Thái Hòa Điện có quy mô lớn nhất là công trình huy hoàng nhất,
thường dùng để tổ chức các đại lễ như đăng cơ, đại hôn hay sắc phong hoàng hậu.
Bảo Hòa Điện áp dụng kết cấu giảm trụ độc đáo, giúp không gian bên trong trở nên rộng rãi hơn.
Trước điện là khối điêu khắc đá vân long khổng lồ nặng tới 250 tấn,
khi mưa lớn đổ xuống sẽ tạo nên cảnh tượng ngàn dòng phun nước kỳ ảo, khiến người xem không khỏi châm trồ.
Tránh ngược với sự uy nghi, đó là ngựa hoà viên nằm ở phía bắc, có diện tích khoảng 12.000m2 với lầu tạng.
Đình đai bố trí hài hòa, khổ thụ cao lớn xung xuê, hoa cỏ bốn mùa không ngớt,
giữ không gian cung điện trang nghiêm tạo thêm một nét thời mậu sinh động.
Đáng chú ý là vào mùa hè thời cổ đại, băng đá là vật vô cùng quý hiếm
và kho băng cạnh cung Tử Ninh từng là nơi hoàng gia lưu trữ băng.
Có thể chứa tới 25.000 khối băng dùng để làm mát mùa hè và bảo quản thực phẩm.
Thiết kế vô cùng tinh xảo, khả năng cách nhiệt cực kỳ hiệu quả.
Tử Cấm Thành không chỉ là một khí tích kiến trúc mà còn là quần thể bảo tàng văn vật lớn nhất Trung Quốc,
hiện đang lưu giữ hơn 1,8 triệu hiện vật quý giá.
Bao gồm các hiện vật bằng đồng, thư hoạ và đồ gốm sứ, đồ kim loại vàng bạc và đồ sơn mài tinh xảo,
cùng đồng hồ, ngọc khí và 25 nhóm hiện vật lớn khác, trong đó có hơn 8.000 hiện vật cấp quốc gia loại 1.
Tiêu biểu nhất là các danh hoạ thời tống, bức thanh minh thượng hà đồ, tượng ngựa tam thái thời đường,
đồ sứ quan diêu thời minh thanh và những bảo vật ngụ dụng của các hoàng đế qua các triều đại.
Bộ sưu tập thư hoạ đặc biệt phong phú khoảng 150.000 tác phẩm,
chiếm 1 phần 4 tổng số sưu tập cùng loại trên toàn thế giới, được xem là đỉnh cao của nghệ thuật Trung Hoa.
Tại kho Nam từng có một cây cổ cầm bị bỏ quên, sau đó được các chuyên gia phục chế mới xác nhận là một hiện vật quý giá,
nay đã trở thành hiện vật ngôi sao của bảo tàng.
Kể từ khi mở cửa đón công chúng năm 1925, bảo tàng cố cung mỗi năm chân bày khoảng 20.000 hiện vật
và tổ chức nhiều triển lãm chuyên đề cùng giao lưu quốc tế, trở thành cửa sổ quan trọng để thế giới hiểu về Trung Quốc.
Năm 1987, cố cung được UNESCO chính thức ghi danh vào danh sách di sản văn hóa thế giới.
Hồ Mũi Chaka của Trung Quốc cùng với Sala, Gé Uyuni của Bolivia và Hồ Tơ Reo của Úc
được mệnh danh là 3 thiên đường phản chiếu bầu trời của thế giới.
Chữ lượng mũi có thể khai thác khoảng 1,405 tỷ tấn, là một trong những khu tài nguyên hóa mũi quan trọng nhất Trung Quốc.
Hồ Mũi Chaka nằm ở tỉnh Thanh Hải, châu Tự trị dân tộc Mông Cổ và tạ Hải Tây.
Huyện Âu Lăng ở phía đông Bồn Địa, Ca Đam, độ cao khoảng 3.100m, cách thành phố Tây Ninh khoảng 298km.
Hồ có hình bầu rục dài khoảng 15,8km, rộng khoảng 9,2km, tổng diện tích khoảng 105km2.
Vị trí địa lý đã tạo nên cho hồ điều kiện khí hậu vô cùng đặc biệt.
Khi mặt hồ trời quang gió lạnh, có thể phản chiếu bầu trời như tấm gương, hoa cùng mây trắng tạo nên cảnh hồ trời liền một màu.
Đó chính là nguồn gốc tên gọi thiên đường bầu trời.
Hàng triệu năm trước, khu vực này từng là một vùng biển cổ.
Theo sự nâng lên của phỏ trái đất, cao nguyên thanh tạng dần hình thành, nước biển còn xót lại tụ hội về đây,
trải qua quá trình bốc hơi và láng động lâu dài, cuối cùng hình thành hồ muối như ngày nay.
Tân đá trong hồ ổ định, chữ lượng tài nguyên vô cùng dồi dào.
Các phát hiện khảo cổ và tư liệu cho thấy ngay từ thời Tây Hán, người khương địa phương đã khai thác muối tại đây.
Lịch sử ngành muối kéo dài cho đến ngày nay trở thành trụ cột quan trọng của kinh tế khu vực.
Hồ muối Chaka không chỉ là kho tài nguyên mà còn là bữa tiệc thị giác.
Ban ngày mặt hồ phản chiếu trời xanh mây trắng như thể đất trời hòa là một,
còn lúc hoàng hôn ánh chiều ta trải rộng trên mặt hồ tựa như một bức tranh sơn dầu rực rỡ.
Khi đêm xuống, dải ngân hà và môn vàn sao trời hòa quyện trên mặt nước tạo lên khung cảnh bầu trời sao huyền ảo.
Do nằm trên cao nguyên, không bị ô nhiễm ánh sáng, nơi đây được mệnh danh là địa điểm quan sát bầu trời sao đẹp nhất Trung Quốc.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật, hồ muối từng cung cấp lượng lớn muối cho tiền tuyến, trở thành nguồn vật tư chiến lược quan trọng.
Bước vào thời hiện đại, cùng với sự phát triển của đường sắt và giao thông, muối Chaka được vận chuyển liên tục đi khắp cả nước,
đồng thời chứng kiến quá trình công nghiệp hóa của Trung Quốc mới.
Ngày nay, trong khu du lịch vẫn giữ lại tuyến tàu nhỏ từ thời khai thác ban đầu, được cài tạo thành tuyến tham quan.
Du khách có thể ngồi tàu nhỏ băng qua lòng hồ, cảm nhận khung cảnh nhộn nhịp của ngành muối xưa kia.
Điều thú vị là độ mặn của nước hồ cực kỳ cao, gần như không thích hợp cho đa số sinh vật sinh sống,
nhưng lại nuôi dưỡng một số loài tảo và vi sinh vật chịu mặn.
Chúng tạo nên những bảng màu đỏ, xanh lục và xanh lam kỳ lạ, góp phần làm phong phú trải nghiệm tự giác đầy huyền bí cho du khách.
Đồng thời, người Mông Cổ địa phương và cư dân dân tập tạ cũng gắn bó sâu sắc với hồ muối.
Họ xem hồ muối là vùng đất thiêng, mỗi dịp lễ hội đều tổ chức nghi thức cầu phúc bên hồ.
Cùng với sự phát triển của du lịch, hồ muối Chaka dẫn bước vào tầm nhìn của công chúng.
Năm 2018, lượng du khách vượt mốc 3 triệu lượt, đến năm 2024 lại một lần nữa đạt quy mô 3 triệu,
trở thành một trong những điểm đến được yêu thích nhất Thanh Hải.
Khu du lịch không ngừng mở rộng, các hạng mục trải nghiệm, ngoài tuyến tàu nhỏ còn có triển lãm nghệ thuật điêu khắc đá,
du thuyền trên mặt hồ và nhiều hoạt động khác giúp du khách vừa chiêm ngưỡng kỳ quan thiên nhiên vừa cảm nhận nét độc đáo của văn hóa muối.
Trên đây là toàn bộ nội dung của video ngày hôm nay.
Không biết trong những địa dành đẹp nhất Trung Quốc được giới thiệu hôm nay, địa điểm nào để lại ấn tượng sâu sắc nhất với bạn?
Hãy để lại bình luận cho chúng tôi biết nhé!
Nếu bạn thích video này, hãy nhấn like và đăng ký kênh cũng như chia sẻ với bạn bè của bạn.
Cảm ơn bạn đã theo dõi! Xin chào và hẹn gặp lại các bạn trong những video tiếp theo!