Nễ Hành Khỏa Thân Giữa Triều Đỉnh Cao Của Sự Tự Hủy Hoại Hay Khí Phách

Đình Sự
537 người theo dõi
Thiên văn địa lý, không thứ gì không biết. Tam giáo kiểu lưu, không thứ gì không hiểu.
Trên có thể giúp nhà vua làm được bậc nghiêu thuẫn, dưới có thể sánh đạo đức với bậc khổng nhan.
Ta nào thèm bán chuyện với hạng người tầm thường đâu?
Đó là lời một thanh niên 24 tuổi nói với Tảo Tháo, kẻ đang nắm giữ quyền sinh sát thiên hạn.
Rồi người đó khỏa thân trước mặt văn võ bá quan để chứng minh điểm của mình.
Rồi người đó chết, chết một cách ngu ngốc dưới lưỡi gươm của Hoàng Tổ chỉ vì một câu nói bừa.
Lịch sử gọi ông là nghệ sĩ bất khuất, nghệ sĩ ngàn đời sau ca ngợi,
ông là sao sáng vụt tắt giữa đêm đen tam quốc.
Nhưng nếu bạn ngồi xuống, gạt bỏ màn xương lãng mạn của văn chương và nhìn thẳng vào con người đó,
bạn sẽ thấy một câu chuyện khác.
Một câu chuyện về cái ngã, về tài năng trở thành độc dược,
về sự tự hủy hoại tinh tế nhất mà lịch sử từng chứng kiến.
Người xưa có câu, quá khứ soi sáng hiện tại.
Hôm nay Cổ Kim Thư Quán xin mời các bạn bước vào câu chuyện lễ hành,
không phải để chiêm ngưỡng một vì sao, mà để nhìn vào tấm gương.
Một tấm gương phản chiếu những gì nguy hiểm nhất trong mỗi người chúng ta.
Lưu lại video này vì những bài học từ ngàn năm trước không phải để nghe một lần,
mà để thấm dần qua từng giai đoạn cuộc đời.
Lễ hành Tự Chính Bình, sinh năm 173, người huyện Bản, quận Bình Nguyên.
Khổng Dung, một trong thất tử kiến an, danh sĩ lừng lẫy thời bấy giờ,
từng tâu lên triều đình về ông với những lời như đúc vàng.
Phẩm chất kiên trình, tài năng siêu việt, theo nghề văn học hiểu biết sâu rộng,
mắt thấy cái gì miệng nói ngay ra được, tai nghe cái gì bụng nhớ mãi không quên.
So với người khéo suy tính như Hoàng Dương, người có tính cương kỷ như An Thế,
thì ảnh chẳng thua kém gì.
Đây không phải lời khen xã giao, không phải sự tân bốc rỗng tuếch.
Đây là đánh giá của một danh sĩ về một thiên tài thực sự.
Lễ hành thực sự giỏi.
Ông có học vấn uyên thâm, hồng biện xuất trúng, trí nhớ phi thường.
Ông là hiện thân của cụm từ nhất một thập hàng, nhìn một cách thuộc mười dòng.
Nhưng có một điều mà Khổng Dung không nhìn thấy, hoặc nhìn thấy mà không dám nói.
Đó là trong ánh sáng trói lọi của tài năng đó, một thứ khác đang âm thầm sinh trưởng.
Người Phật gọi đó là ngã chấp, người Nho gọi đó là ngạo mạn.
Còn lịch sử, lịch sử gọi đó là mầm mống của tai hoạ.
Tài năng giống như lửa, nó có thể sửa ấm hoặc thiêu đốt.
Và với lễ hành, ngọn lửa đó đã thiêu đốt chính người giữ nó.
Nhưng trước khi bàn về cái chết, chúng ta phải hiểu cái sống.
Phải hiểu làm thế nào một con người có thể tài năng đến mức được Khổng Dung ca tộng,
lại có thể ngu ngốc đến mức tự đẩy mình vào chỗ chết.
Năm 196, Thừa tướng Đồng Trác bị trừ, Tảo Tháo đưa vua Hán Hiến Đế về hứa xương,
nhân tài từ khắp nơi đổ về.
Khổng Dung thấy cơ hội, viết hành một bản tấu dài rằng rạc lên triều đình.
Thực ra là Tâu với Tảo Tháo xin cho lễ hành được nhận việc.
Lời lẽ trong bản tấu đó không phải tân bốc thông thường,
đó là sự ca ngợi ở mức độ mà ít người được nghe trong đời.
Tôi trộm thấy kẻ cư sĩ ở Vĩnh Nguyên tên là lễ hành, phẩm chất kiên trình, tài năng siêu việt.
Mắt thấy cái gì miệng nói ngay ra được, tai nghe cái gì bộn nhớ mãi không quên,
tính tình hợp với đạo lý, suy nghĩ như có thần minh.
Tảo Tháo là ai?
Là người đọc người như đọc sách, là người biết rằng thiên hạ này đầy dẫy kẻ tài cao mạng bạc.
Nhưng được Khổng Dung giới thiệu như vậy, Tảo Tháo vẫn muốn gặp.
Có lẽ ông tò mò,
Có lẽ ông muốn xem người mà Khổng Dung khen ngợi đến thế là thế nào?
Hay có lẽ trong sâu thẳm, Tảo Tháo đã ngửi thấy mùi của tai họa sắp tới?
Lần gặp đầu tiên đã như một trận động đất nhỏ báo hiệu cho cơn địa chấn lớn.
Tảo Tháo không mời lễ hành ngồi.
Đây không phải là xúc phạm mà là một cách thử thách tinh tế.
Trong triều đình phong kiến, việc mời ngồi hay không mời ngồi nói lên tất cả về địa vị,
về sự tôn trọng, về ý định.
Tảo Tháo muốn xem lễ hành phản ứng thế nào?
Và lễ hành đã phản ứng.
Ông ngẳng mặt lên trời, tha thở, dưới đất rộng thế này sao không có một người nào?
Đây không phải câu trả lời của người tự tin.
Đây là phản ứng phòng vệ thái quá của một cái tôi bị đe dọa.
Người thực sự tự tin không cần khẳng định mình bằng cách hạ thấp người khác.
Người thực sự tài năng không cần chứng minh bằng cách khinh thường thiên hạn.
Nhưng lễ hành không phải người tự tin.
Ông là người ngã chấp và ngã chấp theo lời Phật dạy là thứ mù quáng nhất trong vạn pháp.
Nó khiến con người nhìn thấy bóng của mình và tưởng đó là núi.
Nó khiến con người nghe tiếng vang của mình và tưởng đó là thiên lôi.
Tảo Tháo không nổi giận.
Ông làm một việc khác.
Ông khoe.
Ông giới thiệu hết thủ hạ của mình,
từ Tuấn Úc đến Tử Hoàng,
từ Quách Gia đến Trương Liêu,
từ Hứa Trừ đến Vu Cấm.
Mỗi người một tài, mỗi người một sắc.
Đây là giàn văn thần võ tướng mà thiên hạ ai cũng khao khát được thấy một lần.
Nhưng đối với lễ hành, họ chỉ là đạo cụ để ông thể hiện sự vượt trội của mình.
Ông nói và lời ông nói đủ khiến bất cứ ai nghe cũng phải ớn lạnh.
Tuấn Úc nên xa đi Viếng Tăng thăm bệnh.
Quách Gia nên để Bình Phú ngầm thơ.
Trương Liêu thì cho đi đánh chống khua chiêng.
Hứa Trừ cho đi chăn trâu rắt ngựa.
Tử Hoàng cho đi chạy giấy đưa thư.
Vu Cấm thì được việc khiêng ván đắp tường.
Tử Hoàng thì giỏi về mò lợn giết chó.
Nghe xong danh sách này, bạn có thấy gai ốc chạy dọc sống lưng không?
Đây không phải sự tự tin.
Đây là triệu chứng của một bệnh mà người xưa gọi là cống cao ngã mạn,
mà người đời sau gọi là ngã chấp bệnh hoạn.
Những người này tin rằng chỉ có mình là đỉnh cao,
còn mọi người khác đều là phàm tục.
Họ không thấy được giá trị của người khác vì con mắt của họ chỉ nhìn vào bóng của chính mình.
Có một điều đáng nói ở đây.
Lễ Hành không nói sai về tài năng của mình.
Ông thực sự giỏi,
nhưng ông sai ở chỗ nghĩ rằng giỏi ở một việc nghĩa là giỏi ở mọi việc.
Ông sai ở chỗ nghĩ rằng tài năng cho phép ông coi thường người khác.
Ông sai ở chỗ nghĩ rằng thế giới này quay quanh ông.
Trong Kinh Viên Giác, Phật nói,
tất cả chúng sinh từ vô thủy đến nay,
nhiều thứ điên đảo giống như người mê lạc,
vọng nhận bốn đại làm tướng tự thân,
cái bóng duyên theo sáu trần làm tướng tự tâm.
Đây chính là căn bệnh của Lễ Hành.
Ông vọng nhận, ông chấp vào cái tài năng của mình
như một đứa trẻ chấp vào con búp bê,
nghĩ rằng đó là thật.
Ông không biết rằng tài năng chỉ là một trong vô số phẩm chất
cần có để sống còn trong loạn thế.
Đặt mình vào vị trí tào tháo lúc đó,
bạn là người đang nắm giữ mạng sống của hàng vạn người.
Bạn đang xây dựng một đế chế.
Bạn cần nhân tài.
Nhưng trước mặt bạn là một kẻ vừa chê bai.
Toàn bộ hệ thống mà bạn đã mất mấy chục năm xây dựng,
bạn làm gì?
Giết, quá dễ và quá phí.
Bởi vì người này dù ngạo mạn vẫn có tài.
Vậy thì phải làm sao?
Tào tháo chọn cách khác.
Ông nhẫn, không phải nhẫn vì hiền mà nhẫn vì khôn.
Ông cho Lễ Hành làm cổ lại,
tức người đánh trống phục vụ yến tiệc.
Đây là một nước cờ xuất thần.
Một mặt, ông cho Lễ Hành một chức vụ trong chiều,
tỏ ra mình là người biết trọng dụng nhân tài.
Mặt khác, chức vụ này thấp đến mức nhục nhã,
để Lễ Hành biết rằng mình không phải là trung tâm vũ trụ như ông tưởng.
Lễ Hành nhận lời,
và đây là điều đáng chú ý.
Với một người ngã chấp như Lễ Hành,
việc nhận một chức vụ thấp hèn như vậy là một điều kỳ lạ.
Có lẽ ông nghĩ rằng đây chỉ là bước để.
Có lẽ ông nghĩ rằng Tào tháo sẽ sớm nhận ra giá trị thực sự của ông.
Hoặc có lẽ trong sâu thẳm,
ông đang lên kế hoạch cho một màn nhục mạ lớn hơn.
Và màn nhục mạ đó đã đến.
Hôm sau, Tào tháo mở yến tiệc.
Người cổ lại cũ nói với Lễ Hành phải mặc áo mới.
Lễ Hành làm ngơ, cứ mặc áo cũ đi vào,
đánh ba hổi trống theo khóc ngư dương cực kỳ đau buồn.
Những người ngồi ăn nghe thấy đều cảm thương chảy nước mắt.
Khi có người bức xúc vì ông không mặc đồ mới,
Lễ Hành đáp lại bằng cách cởi tuốt luôn quần áo,
khỏa thân đứng dậy giữa đám đông.
Khách ngồi ai cũng phải che mặt.
Còn ông thì khoan thai mặc lại quần áo,
sắc mặt không thay đổi.
Hãy dừng lại một chút ở đây.
Hãy hình dung cảnh tượng đó.
Một thanh niên 24 tuổi,
khỏa thân giữa một đám yến tiệc trèo đỉnh,
trước mặt hàng trăm quan văn võ.
Đây không phải là hành động của một người dũng cảm.
Đây là hành động của một người đã mất khả năng phán đoán.
Đây là biểu hiện của ngã chấp đã lên đến mức cực độ.
Tào Tháo mắng, quần vô lễ.
Lễ Hành không ngần ngại mà sạc lại.
Ông liệt kê tội của Tào Tháo.
Không biết người hiện người ngu là mắt độc.
Không học thi thư là mồm nhục.
Không nghe lời chung là tai độc.
Không hiểu chuyện xưa là thân độc.
Không dùng các chư hầu là bộng độc.
Thường muốn cướp ngôi là ruột độc.
Ta là danh sĩ thiên hạ.
Người dùng làm cổ lại.
Không khác gì dương hóa khinh đức khổng tử.
Tăng thương che thảy mạnh tử.
Người muốn dự nghiệp vương bá mà lại khinh người ta thế à?
Đây là lúc mà bất cứ ai có chút lý trí cũng phải thốt lên.
Ông này điên rồi.
Không phải điên theo nghĩa y học.
Mà điên theo nghĩa đã mất hoàn toàn khả năng đánh giá tình huống.
Tào Tháo có thể giết ông bất cứ lúc nào.
Không cần lý do.
Chỉ cần một cái gật đầu.
Lễ Hành sẽ trở thành sát chết.
Nhưng ông vẫn nói những lời đó.
Vì sao?
Vì trong tâm thức của một người ngã chấp nặng.
Họ không thấy sự nguy hiểm.
Họ chỉ thấy sự đúng sai theo quan điểm của họ.
Họ nghĩ rằng chân lý đang ở phía họ.
Và chân lý sẽ bảo vệ họ.
Nhưng lịch sử không bảo vệ người nói đúng.
Lịch sử chỉ ghi nhận người sống sót.
Và để sống sót trong loạn thế cần nhiều thứ hơn là chân lý.
Cần sự khôn khéo.
Cần sự nhẫn nạn.
Cần khả năng đọc tình huống.
Những thứ này lễ Hành không có.
Hoặc có nhưng ngã chấp đã che lấp hết.
Đây là lúc Tào Tháo một lần nữa thể hiện bản lĩnh của mình.
Anh Hai Pha làm nhục như vậy mà ông vẫn nhịn được.
Lại có thêm khổng rung khuyên can.
Ông nhất quyết cho lễ Hành đi xứ Kinh Châu dụ lưu biểu quy hàng.
Nếu thành công thì dùng làm chức công.
Đây là một nước cờ xuất thần theo kiểu vừa thu nạc mà vừa tống khứ.
Cho lễ Hành đi làm nghĩa vụ như vậy,
10 phần thì chắc là cả 100 phần sẽ không thèm làm đúng.
Nhưng ít ra cũng đã tống được cái của nợ này cho lưu biểu giải quyết.
Mình cũng đỡ phải đau đầu nghĩ cách giải quyết.
Đại trí dùng người và hại người của Tào Tháo được thể hiện không thể xuất sắc hơn trong sự việc này.
Đến lúc đi, lễ Hành lại vuốt mặt không để mũi với Tào Tháo.
Khi gặp các quan của Tào Tháo,
ông tỏ thái độ bằng việc không thể đứng dậy chào tiễn biệt.
Lúc đi, ông giả vờ khóc lóc mỉa mai họ là đám áo quan người chết.
Ai nấy cũng nổi điên lên.
Chửi nhau, bên này chửi bên kia là con ma điên không đầu,
con sâu con xẻ, bên kia nói là lũ tò vò,
phường mất não, chẳng còn giữ thể thống gì nữa.
Câu hỏi đặt ra là tại sao?
Tại sao một người tài giỏi như lễ Hành lại hành xứ như vậy?
Có lẽ vì trong tâm thức của ông, thế giới này chia làm hai hạng người.
Một là những người giỏi như ông,
hai là những người tầm thường,
và những người tầm thường không đáng để ông tôn trọng.
Đây chính là biểu hiện của Ngã Kiến,
một trong bốn tâm sở ô nhiễm theo duy thức học Ngã Si, Ngã Kiến, Ngã Mạn, Ngã Ái.
Khi một người bị Ngã Kiến chi phối,
họ nhìn thấy mọi thứ qua lăng kính của cái tôi.
Mọi đánh giá, mọi phán xét,
mọi hành động đều xuất phát từ việc bảo vệ và tôn vinh cái tôi đó.
Và đây là bài học đầu tiên mà câu chuyện lễ Hành mang lại cho chúng ta.
Tài năng không phải là vũ khí,
tài năng chỉ là công cụ,
còn việc bạn dùng nó như thế nào mới quyết định số phận của bạn.
Nếu bạn dùng tài năng để khẳng định bản thân,
để chứng minh mình vượt trội,
để hạ thấp người khác,
thì tài năng đó sẽ trở thành lưỡi kiếm tự sát.
Nhưng nếu bạn dùng tài năng để đóng góp,
để xây dựng,
để nâng đỡ,
thì tài năng đó sẽ trở thành ánh sáng soi đường cho cả cuộc đời.
Bạn nghĩ lễ Hành là người thế nào?
Một nghịa sĩ bất khuất hay một kẻ điên cuồng ngã chấp?
Hãy để lại suy nghĩ của bạn ở phần bình luận.
Và nếu bạn thấy câu chuyện này có giá trị,
hãy lưu nó vào danh sách phát,
để mỗi lần quay lại,
bạn có thể nhìn thấy chính mình rõ hơn.
Đến Kinh Châu,
lễ Hành vẫn cứ chứng nào tật đó.
Miệng tuy khen ngợi người ta đức tốt chứ cao vọng trọng,
nhưng vẫn có ý trào phúng ở sâu xa.
Lưu biểu tuy không bằng lòng,
nhưng cũng biết Tào Tháo đẩy lễ Hành sang chỗ mình
là có ý muốn mượn tay mình để giết.
Nên ông sai lễ Hành đến Giang Hạ gặp Hoàng Tổ.
Và đây là trạng cuối của cuộc đời lễ Hành.
Một hôm Hoàng Tổ cùng lễ Hành uống rượu với nhau.
Hai người đều say.
Hoàng Tổ hỏi,
Ngươi ở hứa đô có biết ai là người khác?
Lễ Hành vẫn cái giọng khạnh khạng của người bề trên mà đáp.
Có thằng bé lớn là Khổng Văn Cử,
người hơn lễ Hành tới 20 tuổi.
Thằng bé con là Dương Đức Tổ,
tuổi xem xem.
Ngoài hai đứa ấy không có đứa nào nữa.
Hoàng Tổ hỏi tiếp,
như ta thì thế nào?
Và đây là câu trả lời cuối cùng của lễ Hành
trước khi rời thế gian này.
Ông đáp không kiêng nẻ gì.
Người như tượng thần trong miếu,
tuy được người ta cúng tế nhưng chẳng thiêng liêng gì.
Thế là bay đầu,
một cách không thể vô nghĩa và lãng xẹt hơn.
Ở tuổi 26,
ở hứa đô,
Tào Tháo nghe tin lễ Hành bị hại.
Cười mà nói,
gươm lưỡi của kẻ hủ nho mình lại giết mình.
Hãy ngừng lại một chút.
Hãy suy ngẫm về câu nói cuối cùng của lễ Hành.
Người như tượng thần trong miếu.
Câu nói này không sai.
Hoàng tổ lúc đó chưa có công trạng gì to lớn.
Nhưng vấn đề không nằm ở chỗ đúng hay sai.
Vấn đề nằm ở chỗ khi nào nên nói,
với ai nên nói,
và nói như thế nào.
Đây là những thứ mà khổng tử gọi là thời,
mà mạnh tử gọi là thế,
mà người đời sau gọi là trí tuệ sự thế.
Lễ Hành có tài nhưng không có đức.
Ông có trí nhưng không có tuệ.
Ông biết nhiều nhưng không hiểu gì.
Trong luận ngữ,
khổng tử nói
trí giả bất hoặc nhân giả bất yêu,
dũng giả bất cụ.
Người có trí thì không hoài nghi.
Người có nhân thì không lo âu.
Người có dũng thì không sợ hãi.
Nhưng lễ Hành không có cả ba.
Ông hoài nghi mọi người xung quanh trừ bản thân.
Ông lo âu về việc người khác không công nhận tài năng của ông.
Ông sợ hãi việc bị xem thường
nên phải liên tục khẳng định mình
bằng cách hạ thấp người khác.
Trong Kinh Tương ưng,
Phật dạy về ngã mạn.
Ngã mạn là một trong năm kiết xử hạ phần.
Những gông siềng trói buộc chúng sinh vào cõi rục.
Ngã mạn có chín loại
nhưng tất cả đều xuất phát từ cùng một góc
sự so sánh.
So mình với người.
Thấy mình hơn thì kêu.
Thấy mình thua thì khinh mình mà ganh ghét người.
Thấy ngang nhau thì tranh đua.
Lễ Hành mắc cả ba.
Ông kêu với người mà ông cho là kém hơn.
Ông khinh thường mọi người
trừ một vài cái tên như Khổng Dung.
Ông tranh đua một cách điên cuồng
để chứng minh mình là người tài giỏi nhất.
Nhưng có một điều đáng nói.
Ngã mạn, ngã chấp
Những thứ này không phải chỉ có ở lễ hành.
Chúng có ở mỗi người chúng ta.
Chỉ là ở mức độ khác nhau.
Có người kiềm chế được.
Có người không.
Lễ hành thuộc loại người không thể kiềm chế.
Và đó là lý do ông chết.
Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử
tư tưởng phủ lưu phản tàu
cùng với sự tân bốc của nhiều nghệ sĩ học giả
hình ảnh của lễ hành bỗng trở nên đẹp đẽ
như một vì sao sáng
rồi vụt tắt trong đêm đen tam quốc.
Lý Bạch, đại thi hào đời đường
viết bài vọng anh Vũ châu hoài lễ hành
để tỏ lòng thương xót.
Ngụy chân giữ tám cõi coi bằng kiến
chỉ có một lễ hành.
Hoàng tổ đối với tên trộm giết hắn
để mang tiếng xấu sông ngô.
Còn Tô Thức, đại văn hào đời tống
viết bài phú anh Vũ
bút hạ xuống vượt mọi người tài thế.
Những lời ca ngợi này không sai.
Lễ hành thực sự tài giỏi
nhưng họ đã bỏ qua một điều.
Đó là tài năng mà không đi đôi
với đức hành.
Với trí tuệ xử thế,
với khả năng nhìn xa trong rộng
thì chỉ là đóng củi khô chờ ngày bốc cháy
và lễ hành đã tự mình đốt
đóng củi đó.
Có một câu hỏi được đặt ra
liệu lễ hành có cơ hội để sống xót không?
Câu trả lời là có.
Ông có ba cơ hội.
Cơ hội thứ nhất là ở hứa xương với Tào Tháo.
Nếu ông biết nhẫn nạn, biết chờ đợi,
biết thể hiện tài năng của mình
một cách khôn khéo thay vì công khai nhục mặn
thì rất có thể ông sẽ trở thành
một mưu sĩ quan trọng trong phe Tào Tháo.
Cơ hội thứ hai là
ở Kinh Châu với Lưu Biểu.
Nếu ông biết giữ mồm giữ miệng,
biết tỏ ra khiêm tốn
thì Lưu Biểu hoàn toàn có thể trọng dụng ông.
Cơ hội thứ ba là ở Giang Hạ với Hoàng Tổ.
Nếu ông biết nịnh hót một chút
hoặc ít ra là trung lập,
không phán xét,
thì ông hoàn toàn có thể sống xót.
Nhưng ông đã không làm điều nào trong ba điều đó.
Không phải vì ông không biết,
mà vì ông không thể.
Ngã chấp đã lên đến mức độ
mà ông không còn khả năng kiểm soát
lời nói và hành động của mình.
Đây chính là điều đáng sợ nhất của ngã chấp.
Nó không chỉ làm bạn mất phán đoán,
nó còn làm bạn mất khả năng sống còn.
Người xưa có câu
mãn chiêu tổn,
khiêm thủ ích,
tự mãn sẽ dẫn đến tổn thất,
khiêm tốn sẽ đem lại lợi ích.
Đây không phải là lời khuyên đạo đức rõng toách,
đây là quy luật sống còn.
Trong xã hội phong kiến,
trong loạn thế,
người sống sót không phải là người tài giỏi nhất,
mà là người biết cách giữ mình,
biết khi nào nên tiến,
khi nào nên lồi,
biết khi nào nên nói,
khi nào nên nín,
biết khi nào nên tỏa sáng,
khi nào nên ẩn mình.
Lễ hành không biết điều nào trong những điều đó,
hoặc biết nhưng ngã chấp không cho phép ông làm.
Và đó là lý do ông chết ở tuổi 26.
Trong khi những người mà ông từng chê bai như Trương Liêu,
Từ Hoàng, Quách Gia
đều sống lâu hơn
và lập được công danh.
Nhưng đây không phải chỉ là câu chuyện của lễ hành,
đây là câu chuyện của mỗi người chúng ta.
Mỗi khi chúng ta cảm thấy mình giỏi hơn người khác,
mỗi khi chúng ta nghĩ rằng mình đúng
và người khác sai,
mỗi khi chúng ta không thèm lắng nghe
vì tin rằng mình đã biết tất cả,
đó chính là lúc lễ hành
đang sống lại trong chúng ta,
đó chính là lúc ngã chấp
đang lớn lên,
và nếu không cảnh giác,
nó sẽ thiêu đốt chúng ta
giống như nó đã thiêu đốt ông.
Trong Trung Dung có câu
Chí thành chí đạo, khả dĩ tiền chi.
Đạo của sự chí thành,
có thể biết trước.
Lễ hành không có sự chí thành.
Ông có tài nhưng không có tâm.
Ông có chi thức nhưng không có trí tuệ.
Ông có khả năng phân tích người khác
nhưng không có khả năng nhìn vào chính mình.
Và đó là căn bệnh trí mạng.
Có một câu hỏi thú vị.
Nếu lễ hành sống ở thời đại này,
ông sẽ ra sao?
Câu trả lời là,
nhiều khả năng ông vẫn sẽ thất bạn.
Bởi vì bất kể thời đại nào,
ngã chấp vẫn là ngã chấp.
Nó vẫn làm con người mù quáng,
vẫn làm con người mất khả năng học hỏi,
vẫn làm con người tự cô lập mình khỏi cộng đồng.
Và trong thế giới hiện đại,
nơi mà hợp tác là chìa khóa của thành công,
một người ngã chấp như lễ hành
sẽ không đi được xa.
Nhưng cũng phải nói thêm rằng,
trong thời đại này,
có rất nhiều lễ hành.
Họ có tay. Họ giỏi.
Nhưng họ cũng ngạo mạn.
Họ cũng khinh thường người khác.
Họ cũng nghĩ rằng mình là trung tâm vũ trụ.
Chỉ khác là họ không bị chém đầu.
Họ bị cô lập, bị tẩy cháy,
bị đẩy ra ngoài lề.
Và họ không hiểu tại sao.
Họ nghĩ rằng thế giới này bất công.
Họ nghĩ rằng người khác ghen tị với tài năng của họ.
Nhưng sự thật là,
người ta không sợ tài năng.
Người ta sợ ngã mạn đi kèm với tài năng đó.
Trong Kinh Kim Cang,
Phật dạy, nhược Bồ-Tát hiểu ngã tướng,
nhân tướng, trung sinh tướng,
thọ giả tướng, tức phi Bồ-Tát.
Nếu Bồ-Tát còn có tướng ngã,
tướng người, tướng trung sinh,
tướng thọ giả, thì không phải là Bồ-Tát.
Đây là lời dạy về việc
phá trừ ngã chấp.
Nhưng không cần phải tu Bồ-Tát Đạo.
Chỉ cần sống trong đời thường,
chúng ta cũng cần phá trừ ngã chấp.
Vì ngã chấp không chỉ ngăn cản chúng ta
giải thoát, nó còn ngăn cản
chúng ta sống một cuộc đời trọn vẹn.
Vậy làm thế nào để
phá trừ ngã chấp?
Không phải bằng cách phủ nhận tài năng của mình,
không phải bằng cách tự ti,
mà bằng cách nhận ra rằng
tài năng của mình chỉ là một phần nhỏ
trong bức tranh lớn, rằng mọi người
đều có giá trị riêng của họ,
rằng việc ai đó kém hơn mình
ở một khía cạnh, không có nghĩa là họ
kém hơn mình ở mọi khía cạnh,
rằng thế giới này không quay quanh mình.
Lễ Hành không học được điều này
và ông đã trả giá bằng mạng sống
nhưng chúng ta, chúng ta
vẫn còn cơ hội, cơ hội
để nhìn vào chính mình, cơ hội
để thấy những dấu hiệu của ngã chấp
trong mỗi suy nghĩ, mỗi lời nói,
mỗi hành động và cơ hội để thay đổi.
Có một điều cuối cùng
cần nói về Lễ Hành,
đó là mặc dù ông đã chết,
nhưng câu chuyện của ông vẫn sống,
vẫn được kể đi kể lại qua hàng nghìn năm,
vẫn được ca ngợi bởi những thi nhân,
những văn sĩ,
nhưng họ ca ngợi cái gì?
Ca ngợi tài năng của ông?
Hay ca ngợi cái chết bi thảm của ông?
Hay cả hai?
Sự thật là họ ca ngợi
một hình ảnh lý tưởng hóa của Lễ Hành,
một hình ảnh mà trong đó,
ông là nghĩa sĩ bất khuất,
là người dám đối đầu với quyền lực,
là người giữ vững khí tiết dù phải chết.
Nhưng đó không phải là Lễ Hành thực sự.
Lễ Hành thực sự là một người tài năng
nhưng ngã chấp,
là một người thông minh nhưng thiếu trí tuệ,
là một người dũng cảm nhưng lều lĩnh,
là một người có lý tưởng
nhưng không có phương pháp.
Và đó là bài học cuối cùng.
Đừng để hình ảnh lý tưởng hóa
che lấp sự thật.
Đừng để lòng ngưỡng mộ làm mù quáng lý trí.
Hãy nhìn vào sự thật,
hãy học từ sự thật,
và hãy áp dụng bài học đó
vào cuộc sống của mình.
Tào Tháo, người mà Lễ Hành từng nhục mạng,
lại là người thể hiện một đức tính
mà Lễ Hành không bao giờ có,
sự kiềm chế.
Khi bị khỏa thân nhục mạ trước mặt trăm quan,
Tào Tháo không giết.
Khi bị chửi thẳng mặt là đục mắt,
đục tai, đục bụng, đục ruột,
Tào Tháo vẫn không giết.
Thậm chí ông còn cho Lễ Hành cơ hội đi sước Kinh Châu.
Đây không phải vì Tào Tháo hiền lành.
Đây là vì ông hiểu một chân lý
mà Lễ Hành không bao giờ học được.
Sức mạnh thực sự không nằm
ở việc chứng minh mình đúng,
mà nằm ở việc biết khi nào nên nín.
Trong Đạo Đức Kinh,
lão tử nói,
tri nhân giả trí,
tự tri giả minh,
thắng nhân giả hiệu lực,
tự thắng giả cường.
Biết người là khôn,
biết mình là sáng.
Thắng người là có sức,
thắng mình là mạnh.
Tào Tháo thắng được chính mình,
thắng được cơn giận,
thắng được cái tôi muốn trả thù ngay lập tức.
Và chính vì thế ông sống sót
và xây dựng được đế chế.
Còn Lễ Hành,
ông không thắng được gì cả.
Ông thua ngay từ trong tâm thức của chính mình.
Đây không phải là chuyện
về Anh Hùng và Tên Gian Hùng.
Đây là chuyện về người biết sống
và người không biết sống.
Người biết sống là người biết uốn nắn,
biết thích nghi, biết nhẫn nạn,
biết đợi thời.
Người không biết sống là người cứng nhắc,
là người không chịu thay đổi,
là người muốn thế giới phải xoay theo mình
và thế giới không xoay theo ai cả.
Nó chỉ nghiền nát những ai
không chịu thích nghi.
Quay lại với câu hỏi ban đầu,
Lễ Hành là thiên tài hay điên nhân?
Câu trả lời là cả hai.
Ông là thiên tài về tri thức
nhưng điên nhân về sử thế.
Ông có tài nhưng không có đức.
Ông có trí nhưng không có tuệ.
Và trong cuộc đời, đặc biệt là trong loạn thế,
đức và tuệ quan trọng hơn tài
và trí rất nhiều.
Có một điều mà ít người nhận ra
về Lễ Hành, đó là ông không phải
không biết mình đang làm gì.
Ông biết rõ, nhưng ông không thể kiềm chế được.
Đây chính là biểu hiện
của ngã chấp đã lên đến mức bệnh hoạn.
Nó giống như một con quỷ bên trong,
không ngừng thúc giục bạn
phải khẳng định mình, phải chứng minh mình,
phải cho người khác biết rằng mình vượt trội.
Và mỗi lần bạn làm vậy,
con quỷ đó lại lớn thêm một chút,
cho đến khi nó nuốt trừng cả bạn.
Trong Duy Thức Học,
có nói về tám thức.
Thức thứ bảy gọi là Mat Na,
có nhiệm vụ chính là chấp ngã.
Nó luôn duyên theo A Lại Gia Thức
và chấp lấy đó là cái ta.
Từ đó sinh ra bốn phiền não căn bản.
Ngã Si, Ngã Kiến, Ngã Mạn, Ngã Ái.
Ngã Si là ngu mội
về bản chất vô ngã.
Ngã Kiến là chấp có một cái ta thường hằng.
Ngã Mạn là so sánh mình
với người khác.
Ngã Ái là tham đắm cái ta.
Lễ Hành mắc cả bốn.
Và đó là lý do ông không thể thoát ra
khỏi vòng luần quẩn của chính mình.
Nhưng một lần nữa,
đây không chỉ là chuyện của lễ hành.
Mỗi người chúng ta đều có Mat Na Thức,
đều có khuyên hướng chấp ngã.
Chỉ khác là mức độ
và quan trọng hơn
khả năng nhận ra và kiềm chế nó.
Đó mới là điều phân biệt
người sống sót và người diệt vong,
người thành công và người thất bạn,
người hạnh phúc và người đau khổ.
Nếu lễ hành sống lại và được hỏi
ông có hối hận không?
Ông sẽ trả lời thế nào?
Có lẽ ông sẽ nói
ta không hối hận vì ta đã sống đúng với chính mình.
Và đó chính là vấn đề.
Sống đúng với chính mình
không có nghĩa là làm theo mọi thôi thúc của cái tôi.
Nó có nghĩa là sống đúng
với bản tánh chân thật,
không bị che lấp bởi vô minh và phiền não.
Lễ hành nghĩ rằng
ông đang sống đúng với chính mình.
Nhưng thật ra ông chỉ đang sống
theo sự chi phối của ngã chấp.
Câu chuyện lễ hành kết thúc
ở Giang Hạn dưới lưỡi gươm của Hoàng Tổ
vào năm 199
khi ông mới 26 tuổi.
Một cuộc đời quá ngắn ngủi cho một tài năng như vậy.
Nhưng cũng đủ dài để để lại
một bài học ngàn năm.
Tài năng mà không có đức hạnh,
trí thông minh mà không có trí tuệ,
dũng cảm mà không có phán đoán.
Tất cả chỉ là những ngọn nến trờ ngày tắt.
Lý Bạch viết về lễ hành
với lòng thương xót.
Nhưng cũng chính Lý Bạch,
người cũng có phần ngạo mạn trong tính cách
cũng phải sống một cuộc đời chôn chuyên,
không được trọng dụng,
phải lang thang khắp nơi.
Có lẽ ông nhìn thấy chính mình trong lễ hành,
nhìn thấy nỗi đau của một người tài giỏi
nhưng không được thế giới chấp nhận.
Nhưng sự khác biệt là
Lý Bạch sống sót.
Sống sót vì ông biết rút lui,
biết ẩn mình,
biết tìm niềm vui trong thơ diệu
thay vì trong danh vọng quan trường.
Đó là bài học,
không phải từ bỏ tài năng,
không phải tự ti
mà là tìm cách sử dụng tài năng
một cách khôn ngoan.
Tìm cách sống một cuộc đời có ý nghĩa
mà không cần phải chứng minh gì với ai.
Tìm cách hạnh phúc mà không cần
phải đứng trên vai người khác.
Trong luận ngữ, khổng tử nói
quân tử hòa nhi bất đồng,
tiểu nhân đồng nhi bất hòa.
Người quân tử hòa hợp nhưng không đồng hóa,
kẻ tiểu nhân đồng hóa nhưng không hòa hợp.
Lễ hành không phải quân tử.
Ông không hòa hợp với ai cả.
Ông không biết cách cùng tồn tại
với người khác.
Ông chỉ biết cách đối đầu,
cách tranh đấu, cách chứng minh
và đó là lý do ông cô đơn.
Cô đơn đến mức chỉ có khổng dung là bạn
và ngay cả khổng dung
sau khi lễ hành chết
chắc cũng phải thở vào nhẹ nhõm.
Hãy nhìn vào cuộc đời của mình.
Bạn có đang trở thành lễ hành không?
Có đang dùng tài năng của mình
để xây tường ngăn cách
thay vì xây cầu nối kết không?
Có đang nghĩ rằng mình giỏi hơn người khác
và họ không xứng đáng với sự tôn trọng của mình không?
Nếu có, hãy dừng lại.
Hãy nhớ câu chuyện lễ hành
và hãy thay đổi trước khi quá muộn.
Người xưa nói
nhân vô thập toàn, không ai hoàn hảo.
Mỗi người đều có điểm mạnh và điểm yếu.
Điểm mạnh của bạn
có thể là điểm yếu của người khác
và ngược lại, sự khôn ngoan
nằm ở chỗ biết trân trọng điểm mạnh của người khác
thay vì chỉ nhìn vào điểm yếu của họ
để so sánh với điểm mạnh của mình.
Lễ hành không biết điều này.
Ông chỉ nhìn thấy điểm yếu của người khác
và điểm mạnh của mình
và đó là lý do ông luôn cảm thấy mình vượt trội.
Nhưng sự thật là gì?
Sự thật là Tuấn Úc,
Quách Gia, Trương Liêu
những người mà lễ hành từng chê bai
đều có những đóng góp to lớn cho lịch sử.
Tuấn Úc là mưu sĩ tài ba
giúp Tào Tháo định đoạt chiến lược.
Quách Gia là thiên tài quân sự.
Mỗi kế của ông đều là bài học cho hậu thế.
Trương Liêu là danh tướng uy chấn thiên hạ.
Trận tiêu giao tân của ông
trở thành điển tích binh pháp.
Còn lễ hành, lễ hành chỉ để lại
một câu chuyện cảnh tỉnh về sự ngạo mạng.
Đây chính là nghịch lý của cuộc đời.
Những người im lặng,
khiêm tốn, làm việc thầm lặng
thường để lại dấu ấn sâu đậm hơn
những người ồn ào, phô trương,
chỉ biết khoe khoang.
Vì thế giới không nhớ những gì bạn nói,
nó nhớ những gì bạn làm.
Và lễ hành, ngoài việc khoe khoang
và nhục mạ người khác, đã làm được gì?
Cổ Kim Thư Quán không kể câu chuyện này
để bạn khinh thường lễ hành,
mà để bạn nhìn vào chính mình.
Để bạn thấy những dấu hiệu của lễ hành
trong mỗi suy nghĩ, mỗi lời nói,
mỗi hành động của mình.
Và để bạn thay đổi.
Vì cuộc đời quá ngắn ngủi để lãng phí
vào việc chứng minh mình với người khác.
Quá ngắn ngủi để dành cho ngã mạn.
Quá ngắn ngủi để sống trong vòng tù
của cái tôi.
Người xưa có câu, tam nhân hành tất hiểu ngã sư.
Ba người đi cùng nhau,
nhất định có người là thầy của ta.
Đây là thái độ của người khiêm tốn.
Là thái độ của người luôn học hỏi.
Là thái độ của người sống lâu
và sống có ý nghĩa.
Lễ hành không có thái độ này.
Ông nghĩ rằng không ai xứng đáng
là thầy của ông trừ những người như Khổng Dung.
Và chính vì thế ông không học được
gì từ cuộc đời.
Không học được cách sống.
Không học được cách tồn tại.
Và cuối cùng không sống được.
Nếu có một điều mà lễ hành dạy cho chúng ta
đó là hãy sống bằng tuệ
chứ không phải bằng tài.
Bằng đức chứ không phải bằng trí.
Bằng khiêm tốn chứ không phải bằng ngạo mạn.
Vì tài có thể làm bạn nổi bật
nhưng chỉ có đức mới làm bạn tồn tại.
Trí có thể giúp bạn giải quyết vấn đề
nhưng chỉ có tuệ
mới giúp bạn tránh được vấn đề.
Ngạo mạn có thể khiến bạn cảm thấy
mình vượt trội nhưng chỉ có khiêm tốn
mới khiến bạn thực sự vĩ đại.
Câu chuyện lễ hành là một tấm gương.
Một tấm gương phản chiếu
những gì tồi tệ nhất có thể xảy ra
khi tài năng gặp ngã chấp
khi trí thông minh gặp ngu chuẩn xử thế
khi dũng cảm gặp thiếu phán đoán
hãy nhìn vào tấm gương đó
không phải để thương hại lễ hành
mà để nhìn thấy chính mình
để cảnh giác với chính mình
để thay đổi chính mình.
Cổ Kim Thư Quán
nơi La Mã cổ đại bắt tay minh chiều
nơi Seneca tranh luận với Mạc Tử
nơi quá khứ soi sáng hiện tại
Nếu câu chuyện hôm nay khiến bạn suy ngẫm
hãy để lại suy nghĩ của bạn
ở phần bình luận
Nếu bạn thấy nó có giá trị
hãy ấn like, chia sẻ cho bạn bè
và theo dõi kênh để không bỏ lỡ
những câu chuyện tiếp theo
bởi vì lịch sử không chỉ là quá khứ
nó là bài học cho hiện tại và tương lai
và lễ hành
dù đã chết hơn 1.800 năm
vẫn đang sống trong mỗi người chúng ta
chờ đợi được nhìn thấy, được nhận ra
và được thay đổi.
