#thegioikyla#tgkl#kinhtếnhậtbản Bạn từng thấy clip người Nhật làm việc “chậm và rập khuôn” trên TikTok chưa? Một việc nhỏ nhưng đủ người đứng đúng quy trình: cọc tiêu, cảnh giới, ghi chép, dây an toàn… nhìn mà sốt ruột. Thế nhưng Nhật vẫn là một nền kinh tế khổng lồ, từng nằm nhóm top đầu thế giới. Vậy nghịch lý này đến từ đâu? Trong video này, mình bóc tách vì sao Nhật “chậm” ở những việc dễ thấy nhưng lại mạnh ở những “cỗ máy lớn” phía sau, đồng thời lý giải vì sao nhiều năm gần đây kinh tế Nhật tăng trưởng ì ạch, đồng yên yếu, thiếu lao động và nguy cơ tụt hậu tương đối nếu không thay đổi. Xem đến cuối để hiểu: Nhật mạnh nhờ điều gì — và đang mắc kẹt ở đâu.
-------------------------------- ► Nội dung video được tổng hợp và biên tập từ nhiều nguồn. ► Hình ảnh và clip trong video được tạo từ AI hoặc sử dụng từ các nguồn chia sẻ video, hình ảnh như: pixabay, pexels, videvo, freepik...
Chắc hẳn bạn đã từng lướt tiktok hay xem vlog của người Việt Nam.
Ở Nhật là kiểu gì cũng gặp những cảnh rất khó hiểu.
Một việc rất đơn giản như cắt tiệc cây hay đào một cái hố nhỏ mà phải đủ 2-3 người làm đúng quy trình.
Người thao tác, người đứng cảnh giới, người kiểm tra ghi chép, nhìn vừa chậm vừa dơm ra.
Rồi bạn bè, người thân đang làm bên đó cũng sẽ kể có những việc làm cả ngày,
ở Việt Nam vài tiếng là xong, nhưng người Nhật cứ máy móc, dọc khuôn, không linh động.
Thế nhưng, một điều trái ngược hoàn toàn là Nhật Bản vẫn là một nền kinh tế khổng lồ,
thường được nhắc đến quanh top đầu thế giới và nền kinh tế đó lại gần như dậm chân tại chỗ trong một thập kỷ qua.
Vậy, rốt cuộc điều gì đứng sau nghịch lý này?
Trong video hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu lý do vì sao một đất nước làm việc chậm như vậy mà kinh tế vẫn top đầu.
Và có phải vì lý do đó mà kinh tế Nhật đang đi lùi so với các cường quốc khác trên thế giới?
Vì sao thấy người Nhật làm việc chậm?
Bạn thấy người Nhật làm việc chậm, thật ra là vì bạn đang nhìn vào một thứ họ đặt lên hàng đầu, giảm rủi ro.
Ở Nhật, nhiều công việc không được đánh giá bằng sòng nhành đến đâu,
mà bằng có sai không, có sự cố không, có ai bị thương không, có bị khiếu nại không.
Nên mới có những cảnh rất quen, một người làm, một người đứng cảnh giới, một người kiểm tra,
đôi khi còn có người ghi chép, chụp hình hiện trạng trước, sau nhìn từ ngoài vào thì giống thường người,
nhưng với họ đó là mùa sự chắc chắn.
Bởi chỉ cần một tai nạn lao động, một vụ va quẹt với người đi đường hay một công việc làm ẩu khiến hỏng hóc
thì cái giá trả không chỉ là tiền, mà còn là trách nhiệm pháp lý, uy tín, thậm chí cả giấy phép.
Và khi xã hội đã quen với chuẩn mực cao, họ chọn cách chậm hơn một chút để đổi lấy cảm giác không có gì bất ngờ.
Điểm thứ hai khiến Nhật trông chậm là vì họ cực mạnh về quy trình hóa.
Người Nhật có một thói quen, cái gì làm được lần một thì phải biến thành làm được lần trăm và làm được cho bất kỳ ai.
Thế nên họ chia việc thành từng bước rõ ràng, có bảng hướng dẫn, có danh sách kiểm tra, có người xác nhận.
Khi bạn nhìn một người Việt làm, bạn thấy họ linh hoạt, tự quyết nhiều, có thể nhảy cóc vài bước vì biết chắc không sao.
Còn ở Nhật, hệ thống lại muốn loại bỏ phần tùy kinh nghiệm cá nhân, vì kinh nghiệm cá nhân không phải lúc nào cũng có sẵn.
Họ muốn nếu hôm nay người A nghỉ, người B vào thay, công việc vẫn chạy y như cũ.
Đó là lý do dọc khuôn xuất hiện, không hẳn vì họ không biết cách làm nhanh,
mà vì họ muốn cách làm đó an toàn, ổn định và không phụ thuộc vào một người giỏi.
Nhưng có một sự thật hơi vũ, Nhật không chỉ trông chậm, mà ở một số mảng họ chậm thật.
Đặc biệt là các công việc dịch vụ, văn phòng và các quy trình nội bộ.
Không chỉ là cảm giác, số liệu cũng phản ánh điều đó.
Japan Times đưa tin rằng năng suất lao động theo giờ của Nhật trong năm 2024 đứng thứ 28 trên 38 nước phát triển.
Khi năng suất theo giờ đã thấp, nghĩa là có những phần của nền kinh tế,
nhất là khu vực dịch vụ và hành chính thực sự đang tốn giờ cho cùng một lượng giá trị tạo ra.
Và bạn sẽ hiểu vì sao những cảnh như xác nhận nhiều tầng, giấy tờ nhiều bước, báo cáo nhiều trang,
họp nhiều vòng lại xuất hiện dày đặc trong nhiều tổ chức, thủ tục không chỉ để vận hành,
mà còn là một kiểu áo giác để chứng minh rằng mình đã làm đúng nếu sau này có vấn đề.
Mỗi chư ký mỗi lần xin ý kiến, mỗi email xác nhận đều làm hệ thống an toàn hơn, nhưng cũng làm nó chậm đi.
Một nguyên nhân nữa, ít người để ý là Nhật coi trọng sự đồng thuận.
Ở nhiều nơi, quyết định không phải kiểu xếp nói là làm, mà là phải thống nhất, phải báo cáo, phải xin ý kiến.
Điều này giúp giảm mâu thuẫn, giảm sai lầm do quyết định vội, nhưng đồng thời khiến việc gì cũng đi qua nhiều cửa.
Bạn sẽ thấy có lúc họ làm rất kỹ, rất bài bảng, nhưng cũng vì thế mà khó xoay trở nhanh khi tình huống thay đổi.
Và đây là chỗ người Việt hay sốt ruột nhất sao không quyết luôn đi.
Nhưng trong văn hóa quản trị Nhật, quyết nhanh mà sai là rủi ro lớn, quyết chậm mà chắc đôi khi lại là lựa chọn an toàn hơn.
Cuối cùng, còn một lớp chậm nữa đến từ cách họ nhìn về công việc với nhiều người Nhật,
làm việc không chỉ để xong, mà còn để giữ trật tự của hệ thống.
Một cửa hàng quý trào đúng nghi thức, một nhân viên nói đúng câu, một đội công trình đặt đúng rào chắn,
tất cả tạo ra cảm giác xã hội vận hành gọn gàng, ít bất ổn.
Nhưng câu hỏi đặt ra là cái giá của sự gọn gàng đó là gì?
Là thời gian, là nhân lực, là tốc độ.
Và khi bạn thấy làm chậm, có thể bạn đang nhìn thấy cái giá mà Nhật chấp nhận trả
để đổi lấy một thứ họ coi trọng hơn, sự ổn định.
Vậy vì sao kinh tế Nhật vẫn top đầu thế giới?
Nếu chỉ nhìn những công việc mặt đường, cắt tỉa cây, bảo trì vỉa hè, làm thủ tục giấy tờ,
bạn sẽ có cảm giác Nhật chậm chạp và dườm ra.
Nhưng kinh tế của một quốc gia không được quyết định bởi tốc độ của vài công việc bạn nhìn thấy hằng ngày,
mà bởi những cỗ máy lớn tạo ra giá trị ở phía sau.
Và Nhật vẫn đang là một nền kinh tế khổng lồ.
Theo GoBank, GDP danh nghĩa năm 2024 của Nhật khoảng 4,03 nghìn tỷ đô,
tăng trưởng kinh tế khoảng 0,1%.
Quy mô này đặt Nhật trong nhóm đầu thế giới và đang rằng co vị trí top 4 và top 5 về Ấn Độ.
Có nhiều nguồn tin nói ấn đã vượt Nhật vào cuối 2025.
Nhưng dù thứ hạng có xây dịch, điểm quan trọng là Nhật vẫn là một con tàu kinh tế rất lớn.
Vậy con tàu đó chạy bằng gì?
Thứ nhất là di sản công nghiệp và chuỗi cung ứng tích lũy nhiều thấp kỷ.
Nhật không mạnh nhờ vài màn trình diễn lẻ tẻ, mà mạnh nhờ một mạng lưới doanh nghiệp dày đặc,
làm ra những thứ cực khó thay thế từ ô tô, máy móc công nghiệp, robot, thiết bị điện, điện tử,
hóa chất, vật liệu, linh kiện chính xác.
Đây là kiểu giá trị ít hào nhoáng nhưng cực nặng ký.
Bạn có thể không thấy nó trên tiktok nhưng nó nằm trong nhà máy,
trong dây truyền, trong các hợp đồng kinh tế và xuất khở.
Những cái tên như Toyota, Honda, Sony, Panasonic, Hitachi, Mitsubishi, Komatsu, Canon
là đại diện cho những cỗ máy lớn kiểu đó không phải lúc nào cũng tạo ra một sản phẩm gây suất toàn cầu
như các hãng công nghệ nền tảng, nhưng bền bỉ tạo ra doanh thu và công an việc làm ở quy mô quốc gia.
Thứ hai, Nhật vẫn thuộc nóm dẫn đầu thế giới về năng lực công nghệ và nghiên cứu,
chỉ là họ thường đổ công nghệ đó vào cải tiến công nghiệp hơn là tạo ra các công ty mới bùng nổ.
World Bank ghi nhận chi tiêu nghiên cứu và phát triển của Nhật khoảng 3,41% GDP năm 2022,
mức rất cao trong các nước phát triển.
Về sở hữu trí tuệ, Nhật cũng nằm trong nhóm những văn phòng sáng chế đứng tóp cao toàn cầu
và trong các thống kê gần đây, Nhật thường chỉ đứng sau Trung Quốc và Mỹ trong nhóm dẫn đầu.
Điều này nói lên một sự thật, Nhật không hề hết sáng chế.
Vấn đề là sáng chế của họ hay trở thành độ bền, độ chính xác, độ tin cậy, cải tiến quy trình,
vật liệu, linh kiện, tức là những thứ giúp doanh nghiệp lớn mạnh hơn và chuỗi cung ứng ổn định hơn,
chứ không nhất thiết tạo ra một tập đoàn mới khuấy đảo thế giới như mô hình công nghệ nền tảng.
Thứ 3, chính cái mà bạn gọi là dập khuôn đôi khi lại là lợi thế cạnh tranh vĩ mô.
Một nền kinh tế lớn không chỉ cần người làm nhanh, mà còn cần hệ thống chạy ổn định, tiêu chuẩn,
an toàn, kiểm soát chất lượng, quản trị rủi ro, khả năng giao hàng đúng hẹ, giái số thấp.
Khi bạn xuất khẩu sản phẩm công nghiệp, thứ khách hàng mua không chỉ là món hàng,
mà còn là niềm tin, tin rằng lô sau giống lô trước, tin rằng chất lượng không hên xui,
tin rằng quy trình ít tạo lỗi. Và Nhật đã xây niềm tin đó rất lâu.
Nói cách khác, Nhật có thể chậm ở việc nhỏ dễ nhìn, nhưng lại mạnh ở việc lớn khó thấy,
nơi chỉ cần một lỗi nhỏ là đứt cả dây truyền, và khi đó nhanh chưa chắc đã tốt.
Vì vậy, câu trả lời cho câu hỏi tại sao Nhật làm chậm mà vẫn top nằm ở chỗ.
Cái bạn thấy chậm chủ yếu thuộc phần dịch vụ, vận hành,
còn cái làm Nhật lớn chủ yếu nằm ở công nghiệp, công nghệ và hệ thống tích lũy lâu nằm.
Nhật giống một chiếc đồng hồ cỡ tinh xào, kim có thể chạy không góp gáp,
nhưng bộ máy bên trong được chế tạo để hoạt động bền bỉ, ít sai lệch và chịu tài lớn.
Chỉ có điều, khi thế giới bước vào giai đoạn đổi mới kiểu bung nổ, tăng trưởng nhanh, dân số già hóa,
thì chính bộ máy bền, nhưng nặng ấy bắt đầu lộ ra giới hạn,
và đó là lý do phần tiếp theo của video sẽ phải đi vào câu hỏi.
Vì sao cỗ máy này vẫn lớn nhưng lại khó tăng tốc,
và Nhật đang mắc kẹt ở đâu trong cuộc đua trong thời đại mới của thế giới?
Vì sao Nhật tăng trưởng chậm kéo dài?
Nếu ví kinh tế Nhật như một cỗ máy khổng lồ,
thì vấn đề của họ không phải là hỏng máy mà là máy chạy bền nhưng khó tăng tốc.
Theo thống kê tốc độ tăng trưởng của Nhật Bản trong 10 năm gần đây chỉ vào khoảng 0,5%,
nghĩa là quy mô kinh tế gần như rậm chân tại chỗ trong một thập kỷ qua.
Và cái chậm kéo dài của Nhật không đến từ một nguyên nhân duy nhất,
mà là nhiều lớp nút thắt trồng lên nhau suốt hàng chục năm.
Lớp đầu tiên nặng nhất là nhân khẩu học.
Nhật già hóa rất nhanh, số người trong độ tuổi lao động giảm dần,
nghĩa là động cơ của nền kinh tế bị hụt nhiên liệu.
Khi số người làm việc ít đi, muốn gợt về vẫn tăng mạnh thì chỉ còn cách tăng năng suất thật cao.
Nhưng tăng năng suất lại không phải chuyện một sớm một chiều,
nhất là khi phần lớn nền kinh tế hiện đại nằm ở dịch vụ.
Nói đơn giản, trước đây Nhật có thể lớn lên bằng việc thêm người,
thêm giờ, thêm nhà máy.
Còn bây giờ, muốn tăng phải làm được điều khó hơn nhiều,
mỗi người phải tạo ra nhiều giá trị hơn trong cùng một giờ.
Lớp thứ hai là năng suất dịch vụ và văn phòng.
Đây chính là nơi bạn thấy rõ nhất cảnh chậm và dọc khuôn.
Dịch vụ ở Nhật rất chỉn tru, rất an toàn, rất ít sái sót.
Nhưng cũng vì vậy mà nhiều nơi bị dính vào quy trình, giấy tờ, tầng nước xác nhận.
Chuyện này tạo ra một nghiệp lý, chất lượng cao giúp xã hội ổn định,
nhưng chi phí thời gian và nhân lực lại tăng.
Khi nền kinh tế chuyển từ sản xuất sang dịch vụ,
điểm yếu năng suất dịch vụ trở thành một cái neo kéo tốc độ tăng trưởng xuống.
Có những thứ không tạo ra giá trị mới,
nhưng vẫn tiêu tốn rất nhiều giờ làm, học nhiều vòng,
báo cáo nhiều tầm, xác nhận nhiều bước.
Và khi làm để chắc trở thành văn hóa, hệ thống sẽ an toàn nhưng khó nhanh.
Lớp thứ ba là tâm lý và thói quen kinh tế
sau một thời gian dài tăng trưởng thấp.
Khi một xã hội sống lâu trong bối cảnh giá cả không tăng nhiều và lương tăng chậm,
cả người dân lẫn doanh nghiệp đều hình thành phản xạ, tiêu dùng thận trọng,
đầu tư rè rặt, ưu tiên tích lũy hơn, mạo hiểm.
Người dân thì nghĩ để dành cho tuổi già,
doanh nghiệp thì ngại tăng lương mạnh hoặc ngại đốt tiền cho những canh bạc đổi mới.
Kết quả là tiêu dùng nội địa, vốn là động lực lớn của kinh tế,
Lớp thứ tư nằm vào văn hóa, việc làm và cách doanh nghiệp Nhật giữ người.
Ở Nhật, trong một thời gian rất dài,
nhiều công ty lớn vận hành theo tinh thần, đã tuyển thì cố giữ,
tiêu tiên ổn định hơn là cắp tuyển liên tục.
Cơ chế này tạo ra mặt tích cực, đội ngũ trung thành,
quy trình ổn định, ít biến động, chất lượng đồng đều.
Nhưng trong bối cảnh kinh tế thay đổi nhanh,
nó cũng tạo ra một lực cản vô hình, dòng chảy nhân lực bị chậm lạ.
Khi một nơi làm việc mà người ta đã quen ở lâu,
việc thay máu bằng người mới hoặc ý tưởng mới sẽ diễn ra chậm.
Từ đó xuất hiện những cảnh rất đặc trưng,
có những vị trí không hẳn thiếu việc nhưng vẫn giữ người.
Trên họ việc, nhiều người cùng tham gia một quy trình
để đảm bảo không ai bị lệch khỏi vuông.
Trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng yếu,
nhiều doanh nghiệp thậm chí có xu hướng giữ nhân sự thay vì sa thải mạnh.
Vì sa thải không chỉ là chi phí,
mà còn là vấn đề văn hóa và danh tiếng.
Kết quả là hệ thống đôi khi rơi vào trạng thái giữ người ở chỗ này,
thiếu người ở chỗ kia, nhưng việc chuyển người, đổi ngành,
đổi công ty lại không diễn ra nhanh như ở những nền kinh tế linh hoạt hơn.
Và khi thị trường lao động ít biến động,
một hệ quả khác sẽ đến, động lực cạnh tranh bằng năng lực
bị giảm đi ở một số môi trường.
Người lao động có xu hướng đi theo lộ trình an toàn và thăng tiến theo thâm niên.
Doanh nghiệp cũng dễ rơi vào tâm lý đừng thay đổi quá nhanh để tránh rủi ro.
Điều này không làm Nhật yếu đi ngay lập tức,
nhưng nó làm tốc độ thích nghi giảm dần.
Trong thời kỳ cần bước tốc đổi mới,
việc giữ người lâu năm và ít thay đổi nhân sự trở thành con dao hai lưỡi
ổn định thì có, nhưng cái giá là tái cơ cấu chậm,
đổi mới chậm và tăng trưởng vì thế cũng khó bật lên.
Lớp thứ 5 là bài toán công ty mới và ngành mới.
Nhật vẫn có nghiên cứu, vẫn có sáng chế,
vẫn có những tập đoàn rất mạnh,
nhưng trong nhiều năm họ ít tạo ra các ngôi sao tăng trưởng mới đủ sức kéo cả nền kinh tế đi lên.
Đổi mới của Nhật hay nằm trong cải tiến bền bỉ
của doanh nghiệp lớn và chuỗi cung ứng sẵn có,
rất hữu ích, rất chắc chắn, nhưng không tạo ra nhiều cú nhảy vọt
kiểu mở ra thị trường mới toàn cầu.
Khi thế giới bước vào kỷ nguyên nền tảng số và mô hình tăng trưởng bụng nổ,
Nhật lại bước chậm hơn vì văn hóa quản trị rủi ro cao
Và cuối cùng là lớp thứ 6, gánh nặng của một xã hội già.
Chi phí y tế, phúc lợi, hưu trí tăng lên,
ngân sách phải gồng nhiều hơn,
khiến chính sách kinh tế khó tung các cú hích mạnh và dài hơi.
Nhật thường phải đi dây giữa hai yêu cầu vừa hỗ trợ tăng trưởng,
vừa giữ ổn định tài chính.
Khi đã phải đi dây, người ta sẽ ít dám chạy nước rút.
Tóm lại, Nhật tăng trưởng chậm kéo dài
vì họ đang bị kẹt giữa hai lực.
Một bên là cỗ máy cũ rất bền, công nghiệp, tiêu chuẩn, ổn định.
Một bên là điều kiện mới rất khắc nghiệt, già hóa,
thiếu lao động, dịch vụ năng suất thấp, cạnh tranh đổi mới toàn cầu.
Và câu hỏi đáng sợ nhất không phải Nhật có còn mạnh không,
mà là Nhật có đủ nhanh để tự thay đổi
trước khi thế giới bỏ xa không.
Nếu ở Việt Nam, bạn chắc chắn sẽ thấy Nhật nhập lao động nước ngoài
rất nhiều và phần lớn trong đó là người Việt nhưng sao vẫn thiếu.
Đó chỉ là góc nhìn khi bạn thấy cộng đồng xung quanh mình
có nhiều người xuất khẩu lao động sang Nhật.
Nhưng nếu nhìn ở tầm quốc gia thì Nhật vẫn là một trong những nước
mở cửa thận trọng nhất trong khối phát triển.
Các báo cáo ghi nhận tỷ lệ người nước ngoài trong dân số Nhật
chỉ khoảng 2,2% vào năm 2021,
trong khi mức trung bình của các nước phát triển là khoảng 10,4%.
Nghĩa là bạn thấy người nước ngoài rất nhiều ở công trường,
nhà máy, kho vận, nhà hàng
vì họ tập trung vào những điểm nóng thiếu người.
Chứ xét, tổng thể xã hội, Nhật vẫn chưa dựa vào nhập cư
với quy mô lớn như nhiều nước phát triển khác.
Và khi thiếu lao động của Nhật là thiếu do già hóa kéo dài
thì mở cửa có trừng mực như vậy chỉ giúp giảm áp lực
chứ chưa thể đảo chiều bài toán thiếu người.
Nhiều dòng lao động vào Nhật lại mang tính tạm thời,
hết hợp đồng thì về, đổi tư cách lưu trú thì chuyển.
Thậm chí có người coi Nhật như một trạng, không phải nơi định cư lâu dài.
Mà đã tạm thời thì doanh nghiệp ngại đầu tư đào tạo sâu,
người lao động cũng khó bén dễ, cuộc sống nhà ở gia đình,
còn cái ngôn ngữ, tất cả đều làm họ cân nhắc.
Kết quả là Nhật có thể đỡ thiếu ở hiện tại
nhưng vẫn khó tạo ra một nguồn nhân lực bền vững cho 10 đến 20 năm tới.
Kể đến là chuyện đủ hấp dẫn để giữ người
và đây là điểm mà nhiều người ít nói thẳng
Nhật đang phải cạnh tranh lao động với cả thế giới.
Cùng một lao động trẻ, có tay nghề, có khả năng học hỏi,
họ có thể chọn Úc, Canada, Đức, Mỹ, thậm chí các nước châu Á rồ có khác.
Khi so sánh, người lao động sẽ nhìn vào 3 thứ
lương thực nhận, cơ hội tăng lương và con đường ổn định lâu dài.
Nhật có nhiều điểm mạnh, an toàn, chất tự, ngôi trường sống
nhưng về mặt động lực tiền bạc, những năm gần đây lại gặp bất lợi
vì mức lương ở một số ngành không thật sự bứt phá.
Trong khi chi phí sống và đồng yên yếu làm cảm giác kiếm được
nhưng không dư nhiều trở nên rõ hơn.
Nói đơn giản, Nhật cân người.
Nhưng người giỏi cũng có nhiều lựa chọn
và cuộc đua này ngày càng khốc liệt.
Rồi đến chuyện đủ đúng loại.
Phần lớn lao động nhập cư hiện nay đang rơi vào các ngành
giữ cho hệ thống không gãy, tức là vận hành những quy trình đã có sẵn.
Họ vào để lấp vị trí thiếu người trong sản xuất,
xây dựng, dịch vụ, chăm sóc.
Những công việc này cực kỳ quan trọng
vì thiếu là xã hội tắt ngày.
Nhưng nó không trực tiếp giải bài toán
mà Nhật đang cần để tăng trưởng nhanh trở lại.
Lao động cấp cao, tạo ra ngành mới,
công ty mới, sản phẩm mới,
mô hình kinh doanh mới.
Một nền kinh tế muốn bứt tóc không chỉ cần thêm người làm
mà còn cần nhiều người sáng tạo, tạo công nghệ,
tạo thị trường, tạo doanh nghiệp.
Trong khi đó, dòng nhập cư của Nhật lại thiên
về bù thiếu hơn là kích nổ đổi mới.
Và vì sao Nhật khó hút nhóm sáng tạo này?
Một phần nằm ở chính sách và luật chơi.
Con đường cho lao động phổ thông
có thể rõ hơn theo từng ngành.
Nhưng con đường để một người nước ngoài đến Nhật
và thực sự làm chủ cuộc chơi, lập công ty,
gọi vốn, mở rộng, thu hút nhân tài
lại không đơn giản.
Những rào cản kiểu cần vốn tối thiểu,
cần văn phòng, cần nhân sự,
cần giấy tờ khiến việc khởi nghiệp
từ con số nhỏ trở nên khó.
Trong khi ở nhiều nơi khác,
người ta có thể bắt đầu nhẹ hơn rồi lớn dần.
Thêm nữa, môi trường doanh nghiệp Nhật
thường đề cao an toàn và đồng thuận
nên khả năng chấp nhận rủi ro và giả quyết định
đôi khi không hợp với kiểu start-up cần lao nhanh.
Nói thẳng, Nhật có thể đón bạn vào hệ thống
nhưng để bạn lật trang hệ thống ấy
thì lại khó hơn.
Chưa kể một lực cản rất đời,
ngôn ngữ và tiêu chuẩn,
nhiều ngành Nhật thiếu người nhất
lại là ngành yêu cầu giao tiếp chính xác,
quy trình nghiêm và trách nhiệm cao.
Muốn người mới làm được,
phải đào tạo và giám sát
tức là hấp thụ lao động mới không thể diễn ra
theo kiểu đổ âm vào là chạy ngay.
Và một khi hệ thống đã ưu tiên không được sai
thì càng đông người mới,
càng nhiều bước kiểm tra,
càng nhiều lớp xác nhận,
hệ thống không nhanh lên
mà chỉ chắc hơn và đôi khi dường giá hơn.
Tóm lại,
Nhật nhập lao động nước ngoài nhiều
nhưng vẫn thiếu vì 3 nguyên nhân lớn.
Thiếu của họ là thiếu giải hạn
nên cần quy mô và tính quần định rất cao.
Nhật đang cạnh tranh nhân lực toàn cầu
nên không dễ giữ người
nếu cơ hội và thu nhập không đủ hấp dẫn
và quan trọng nhất.
Dòng nhập cư hiện tại
chủ yếu đang giải bài toán vận hành
chứ chưa giải bài toán bùng nổ.
Tức là vẫn thiếu nhân lực cấp cao
để tạo công ty mới,
ngành mới, công nghệ mới.
Khi nhìn lại cổ máy kinh tế của Nhật Bản
ta có thể thấy Nhật không mạnh vì làm chậm
mà mạnh vì họ đã xây được
một hệ thống tối ưu cho ổn định,
quy trình chặt chẽ để giảm rủi ro,
tiêu chuẩn chất lượng để tạo niềm tin
và một nền công nghiệp tích lũy hàng chục năm đủ lớn
để kéo cả con tàu kinh tế đi xa.
Chỉ có điều,
khi thế giới bước vào giai đoạn thay đổi nhanh
thì cái bền và chắc ấy lại biến thành
một kiểu nặng và chậm.
Dân số giàu hóa làm lực lượng lao động có lại,
năng suất dịch vụ không bước lên thương xứng
và tăng trưởng,
vì thế ngày càng dễ rơi về mức rất thấp.
Và nếu Nhật cứ tiếp tục như vậy,
họ không sụp ngay,
nhưng khả năng tuột hậu tương đối so với thế giới là rất cao.
Bởi vì trong khi Nhật tăng gần bằng 0 mỗi năm,
nhiều nền kinh tế khác tăng nhanh hơn nhiều
và chỉ cần tranh lệch vài phần trăm,
sau 10-20 năm,
khoảng cách sẽ nới ra như một con dốc dài.
Những con số gần đây
về việc Nhật lần lượt bị các nước khác vượt về thứ hạng,
quy mô gần đây cũng là dấu hiệu cho thấy
con tàu lớn đang bị thế giới kéo xa dần.
Nhưng Nhật có cửa thoát không?
Chắc chắn là có.
Và nó nằm đúng ở những gì chúng ta vừa phân tích,
họ phải làm cho hệ thống gọn hơn và vẫn an toàn,
phải nâng năng suất dịch vụ,
phải tạo ra môi trường
để công ty mới và ngành mới có thể bùng lên.
Và nhập cư không chỉ để vá chỗ trống,
mà còn để thu hút nhân lực chất lượng cao
có thể tạo ra giá trị mới.
Nếu làm được,
Nhật vẫn có thể giữ vị thế rất mạnh,
còn nếu không,
họ sẽ vẫn là một nền kinh tế lớn,
nhưng ngày càng co lại dần trên bản đồ cạnh tranh toàn cầu.