NHÀ TỐNG TRIỀU ĐẠI THẢM HẠI NHẤT LỊCH SỬ TRUNG HOA

Đình Sự
534 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Trong dòng chảy hàng nghìn năm của lịch sử phong kiến Trung Hoa, hiếm có triều đại nào gây tranh cãi như triều đại nhà Tống.
Nói về kinh tế, họ là một trong những triều đại đỉnh cao của thế giới.
Nói về văn hóa, họ tạo ra một thời kỳ rực rỡ với thơ Tống, các thể loại tác phẩm khác, rồi cả hội họa thủy mặt.
Nói về khoa học, về công nghệ, họ hoàn thiện kỹ thuật in, phát triển thuốc súng, sử dụng la bàn trong hàng hải, và thậm chí phát hành tiền giấy sớm nhất thế giới.
Nhưng nếu nhìn vào bản đồ chiến trường, nhìn vào những lần bại trận, nhìn vào biến cố kinh đô thất thủ, vừa bị bắt sống, thì nhiều sự ra lại lắc đầu.
Đây là một trong những triều đại yếu kém nhất về quân sự trong lịch sử Trung Hoa.
Vậy vì sao một địa chế giàu có và văn minh đến vậy lại bị coi là thảm họa?
Câu chuyện bắt đầu từ tham vọng thu hồi Yên Vân thập Lục Châu, vùng đất định mệnh của nhà Tống.
Khi Tống Thái Tổ lên ngôi vào năm 1960, ông không chỉ lập ra một triều đại mới, mà còn mang trong mình một nỗi ám ảnh chiến lược.
Đó là vùng mang tên Yên Vân thập Lục Châu, khu vực nằm giữa Sơn Tây và Há Bắc ngày nay, vốn từng là tuyến phòng thủ phía Bắc của các triều đại Hán và Đường.
Vùng đất này không đơn thuần là một vài châu quận, nó là bức tường thành tự nhiên, là nơi cung cấp chiến mã, là căn cứ sản sinh giặc kỵ binh thiện chiến.
Trong thời đại mà thuốc súng còn sơ khai và bộ binh chưa đủ cơ động, thì kỵ binh chính là lực lượng quyết định cục diện chiến tranh.
Ai nắm được Yên Vân, người đó kiểm soát cửa ngõ phương Bắc.
Nhưng trước khi nhà Tống ra đời, khu vực này đã rơi vào tay nhà liu của người khiết đan, điều đó khiến biên giới phía Bắc của nhà Tống luôn mở toang và không có lớp điện phòng thủ.
Tống Thái Tổ hiểu rõ điều này, ông nuôi tham vọng bắc phạt nhưng chưa kịp thực hiện thì qua đời đột ngột vào năm 1976.
Cả chơi bất ngờ sau một đêm uống rượu với em trai khiến hậu thế nghi ngờ và người kế vị là Tống Thái Tông phải gánh vác trên vai cả ngai vàng lẫn những lời đồn đại.
Muốn củng cố tinh chiến tranh, ông cần một chiến công lớn và mục tiêu duy nhất đủ lớn khi đó chính là Yên Vân.
Năm 1979, Tống Thái Tông thân trinh dẫn quân đánh liu.
Ban đầu, chiến dịch diễn ra thuận lợi, quân Tống đánh chiếm được một số thành trì và tiến đến Ú Châu.
Nhưng chính lúc ấy, sự khác biệt giữa một đội quân nặng về hình thức và một đội kỵ binh du mục thiện chiến đã bổng lộ rõ ràng.
Khi viện binh liu cáo đến, kỵ binh đánh thốc vào đội hình nhà Tống, phá tan tuyến phòng ngự.
Thái Tông suýt bỏ mạng trong lúc rút quân, thậm chí còn trúng tên và phải vất vả để thoát về Biện Kinh.
7 năm sau, năm 1986, ông không từ bỏ tham vọng.
Lần này 200.000 quân được huy động, kế hoạch nghe rất bài bản, đánh chiếm Ú Châu, chặn đường hậu phương.
Nhưng nội bộ tường lĩnh lại đổ kỵ, tranh công. Một số cánh quân đã tiến đến quá nhanh, để lộ ở khu vực phía sau.
Người khiên đàn vốn giỏi đánh và điểm yếu hậu cần, lập tức cắt đường vận tải.
Quân Tống bị cạt sâu trong lãnh thổ địch, không tiếp tế và không đường lui.
Kết quả là đại bại. Hai lần bắt phạt thất bại không chỉ làm tiêu tan giấc mơ Yên Vân, mà còn làm suy giảm nguyện khí quân đội.
Từ đây, nhà Tống chuyển sang thế phòng ngự và tâm lý sợ chiến tranh bắt đầu hình thành trong triều đình.
Cuối đời, Thái Tông đưa ra chiến lược bốn chữ, thủ nội, hư tại, tầm trung vào nội trị, xem nhẹ ngoại chiến.
Về lý thuyết, đây là một chính sách ổn định. Nhưng về lâu dài, nó tạo ra một nghịch lý nguy hiểm.
Quân đội nhà Tống phình ra chưa từng có. Nếu thời Thái Tổ có khoảng 370.000 quân,
thì đến thời Thái Tông, con số cấm vệ quân đã lên đến gần 360.000 người.
Các đời sau còn tiếp tục gia tăng. Mà đó là mới chỉ tính một đơn vị cấm quân chứ chưa nói đến những đơn vị khác.
Nhưng số lượng không đồng nghĩa với chất lượng. Phần lớn binh sĩ đóng quanh Kinh Thành ít tham gia thực chiến.
Ngân khố quốc gia phải nuôi một đội quân khổng lồ nhưng thiếu rẻ luyện.
Trong khi đó, Leo và các thế lực phương Bắc duy trì truyền thống du mục,
chiến đấu thường xuyên, họ có kỵ binh cơ động, quen địa hình và tinh thần chiến đấu là rất cao.
Một bên là bộ máy hành chính Tinh Vi, thi cử trọn quan văn giỏi.
Một bên là chiến binh lớn lên trên lưng ngựa.
Sự sinh lợi ấy ngày càng rõ khi một thế lực mới xuất hiện ở phương Bắc, đó là Nhạc Kim.
Và đây là lúc liên minh sai lầm và thảm hoạn Tĩnh Khang đã xuất hiện.
Đầu thế kỷ thứ 12, cục diện phương Bắc thay đổi tróng mặt.
Người Nữ Trân, một tổng người sống ở vùng rừng núi Đông Bắc nổi dậy chống lại nhà Leo,
dưới sự lãnh đạo của Hoàng Nhan A-Cốt-Đả, họ lập ra Nhạc Kim vào năm 1115.
Chỉ trong vài năm, đội kỵ binh Nữ Trân với lối đánh nhanh, tàn bạo và kỳ luật thép
đã liên tiếp đánh bại quân Leo, vốn từng là nội ám ảnh của nhà Tống suốt hơn một thế kỷ.
Tim chiến thắng của Nhạc Kim truyền đến Biện Kinh như một tia sáng hy vọng.
Triều đình nhà Tống dưới thời Tống Huy Tông nhìn thấy cơ hội ngàn năm có một.
Bao nhiêu năm ôm mộng thu hồi Yên Vân thập Lục Châu mà không thành.
Nay, Leo suy yếu, Kim nổi lên thay thế.
Nếu liên minh với Kim, cùng đánh nhau với Leo, thì sau chiến thắng, Yên Vân sẽ trở về tay nhà Tống.
Trên bàn giấy đó là một kế hoạch nghe rất hợp lý.
Kim đánh chủ lực từ phía bắc xuống, Tống phối hợp từ phía nam lên.
Sau khi Leo bị tiêu diệt, đất đài cũ sẽ hoàn trả cho nhà Tống.
Còn Kim nhận phần lợi ích khác.
Nhà Tống thậm chí còn đồng ý chuyển khoản cống nạp trước đây dành cho Leo than cho Kim, coi như đổi chủ nợ.
Nhưng thực tế, chiến trường đã nhanh chóng phơi bầy khoảng cách giữa lý thuyết và năng lực thực sự.
Khi Kim phát động tấn công, quân Leo liên tục tan vỡ, các thành trí quan trọng lần lượt thất thủ.
Trong khi đó, quân Tống hai lần xuất binh phối hợp lại thất bại thảm hại.
Đội quân đông đảo nhưng thiếu kinh nghiệm thực chiến không thể xuyên thủng lớp phòng ngự của nhà Leo.
Ngay cả việc đánh chiếm Yên Kinh, mục tiêu biểu tượng cũng không hoàn thành.
Nếu không có sự hỗ trợ trực tiếp từ quân Kim.
Sự tranh lệch ấy không qua mắt được người nữ chân.
Họ nhận ra một điều quan trọng, đối tác phía nam không hề mạnh như họ tưởng.
Nhà Tống dầu có, đông dân nhưng quân đội dịu dã chỉ quen phòng thủ.
Khi nhà Leo chính thức bị tiêu diệt năm 1125.
Kim bỗng trở thành thế lực duy nhất kiểm soát toàn bộ phương Bắc.
Và lúc ấy, ánh mắt của họ không còn nhìn về tàn dư của nhà Leo nữa.
Mà nhìn thẳng xuống phía nam, nơi có một đế chế phồn hoa nhưng mong manh.
Trong triều đình Biện Kinh, sự che rẽ ngày càng sâu sắc.
Tống Huy Tông nổi tiếng là người yêu hội họa, thư pháp và nghệ thuật hơn là binh pháp.
Ông say mê sáng tác, lập hàn lâm thư họa viện.
Xây dựng cung điện tráng lệ nhưng lại thiếu quyết đoán trước nguy cơ chiến tranh.
Khi nhà Kim bắt đầu gây sức ép, triều đình chia làm hai phe.
Chủ hòa và chủ chiến.
Người thì cho rằng nên nhượng bộ để giữ hòa bình.
Người thì cảnh báo rằng nhượng bộ chỉ khiến đối phương ngày càng lớn tới.
Năm 1126, quân Kim đầu tiên, lần đầu tiên đánh Biện Kinh.
Trước áp lực khổng lồ, triều đình hoảng loạn.
Huy Tông vội vã thói vị, truyền ngôi cho con trai là Khâm Tông.
Hy vọng vụ mới có thể xử lý tình hình.
Quân Kim vây thành, buộc nhà Tống phải cắt đất, đột vàng bạc và chấp nhận điều kiện nhục nhã.
Sau khi nhận cống nạp, họ tạm thời rút quân.
Nhưng chính lúc ấy sai lầm lớn nhất của nhà Tống xuất hiện đó là sự chủ quan.
Thay vì củng cố phòng tuyến trình đối quân đội và chuẩn bị cho khả năng tái xâm lược.
Triều đình lại tin rằng dòng dõi đã qua.
Nội bộ tiếp tục đấu đá, quân đội không được cải tổ chiến để.
Chỉ vài tháng sau, cuối năm 1126, quân Kim trở lại với lực lượng mạnh hơn.
Lần này họ quyết tâm kết thúc mọi chuyện.
Biện Kinh bị vây chặt nhiều tháng.
Dù trong thành có những nỗ lực kháng cự,
tinh thần quân dân không đủ bú đắp cho sự yếu kém chiến lược suốt nhiều năm.
Tháng 1 năm 1127, Kinh Đô thất thủ.
Tống Khâm Tông cùng cha là Tống Huy Tông bị bắt giải về phương Bắc.
Hơn 3.000 Tông thất phi tần quan lại bị át giải theo.
Vàng bạc châu Báo tích lưỡi suốt hơn một thế kỷ bị cướp sạch.
Cảnh tượng đoàn xe tù binh hoàng tộc lặng lẽ rời Kinh thành
trở thành vết cắt sâu trong ký ức lịch sử Trung Hoa.
Sự kiện đấy được gọi là Tĩnh Khang Chi Biến.
Nó không chỉ là thất bại quân sự, mà là sự rụng đổ của niềm kiêu hãnh.
Một triều đại từng được coi là trung tâm văn minh,
lại để Kinh Đô bị chiếm và hai hoàng đế bị bắt sống.
Điều mà gần như chưa từng xảy ra trong tiền lệ các triều đại trước đó.
Từ khoảnh khắc ấy, nhà Tống không còn là đế trị thống nhất nữa.
Phía Bắc rơi vào tay nhà Kim, phía Nam phải dựng lại triều đình mới.
Và lịch sử Trung Hoa bước vào một giai đoạn Nam Bắc đổi nghịch kéo dài nhiều thập kỷ.
Liên minh từng được xem là nước cờ thông minh cuối cùng
lại trở thành nguyên nhân trực tiếp đẩy nhà Tống đến vực thảm.
Đó không chỉ là sai lầm chiến thuật,
mà là sai lầm trong đánh giá thực lực bản thân và tham vọng của đối phương.
Sau biên cố, Tống Cao Tông lập ra nhà Nam Tống ở Lâm An.
Lãnh thổ chỉ còn phía Nam sông Trường Giang.
Điều đang nói là Nam Tống không sụp đổ ngay.
Trái lại, họ phát triển mạnh thương mại biển,
kinh tế đô thị đặt đỉnh cao trong thế giới trung đại.
Hàng hóa nhà Tống xuất khẩu khắp Đông Nam Á,
tiền giấy lưu hành rộng rãi, nhưng chính trị vẫn cầu hòa.
Xuất hiện những nhân vật kiệt xuất như Nhạc Phi,
vị tướng từng đánh sâu vào lãnh thổ Kim.
Khi ông sắp tiến đến Biện Kinh,
lệnh triệu hồi bất ngờ được ban xuống.
Sau đó thì ông bị sử tử, trở thành biểu tượng
của lòng trung thành và mi kịch chính trị.
Triều đình chọn hòa bình bằng nhượng bộ thay vì khôi phục Giang Sơn.
Nam Tống tồn tại thêm hơn 150 năm,
cho đến khi Mông Cổ hoàn tất việc chinh phục
vào năm 1279.
Cảm ơn vì đã quan tâm theo dõi câu chuyện này.
Nếu cảm thấy thú vị, bạn có thể nhấn nút đăng ký kênh,
bật chuông thông báo và chia sẻ.
Còn bây giờ thì xin được nói lời chào tạm biệt.
