NGUỒN GỐC TÊN GỌI HÁN TỐNG MINH THANH CÁC TRIỀU ĐẠI TRUNG QUỐC

Đình Sự
537 người theo dõi
Trong suốt tiến trình hơn 5.000 năm lịch sử,
từ khi được thành lập vào năm 2070 trước công nguyên
cho đến khi vị Hoàng đế cuối cùng phổ nghĩ thoái vị vào năm 1912,
Trung Quốc đã trải qua hơn 83 lần thay đổi triều đại
với hơn 600 nhà cầm quyền và mỗi triều đại đều có một tên gọi riêng.
Mỗi triều đại dù hưng hay suy đều có những khoảnh khắc huy hoàng vang danh lịch sử,
đạt được một vài thành tiệu cho quốc gia và lưu truyền đến thế hệ bao đời.
Mỗi triều đại ra đời đều có một danh sưng riêng biệt.
Ổ ngữ nói, danh không chính, ngôn không thuận,
cho nên việc xác lập tên luôn được tiến hành ngay khi triều đại được thiết lập và được coi là danh chính.
Vậy danh sưng mỗi triều đại là do yếu tố nào quyết định?
Thực chất, tên gọi danh sưng của các triều đại chủ yếu được tạo ra theo 4 định hướng chính.
Thứ nhất, nó bắt nguồn từ danh sưng của Bộ Tổng hoặc Liên minh Bộ Lạc.
Thứ hai, nó bắt nguồn từ tên địa danh.
Thứ ba, là phong hiệu hoặc là tước vị của người sáng lập.
Thứ tư là đặc sản của địa phương.
Và thứ năm là tên gọi của khu vực ban đầu hoặc là nơi đang thống trị.
Hãy cùng điểm lại nguồn gốc danh sưng của các triều đại lớn nhất trong 5.000 năm lịch sử Trung Hoa.
Số một là triều đại Nhà Hạ.
Nhà Hạ được nhiều nhà sử học coi là thần thoại vì có rất ít bằng chứng được ghi nhận về triều đại này.
Hầu hết các học giả tin rằng những câu chuyện về triều đại này được kể chứ không phải được viết.
Mãi đến triều đại Nhà Chu, tức là hơn 500 năm sau,
người ta mới thấy các bản ghi chép về triều đại đầu tiên của Trung Quốc này là triều đại Nhà Hạ.
Theo truyền thuyết, vua Vũ từng được thụ phong ở đất Hạ Bá, vì thế ông gọi chính quyền của mình là Hạ.
Có một truyền thuyết khác, đó là theo nhà sử học Phạm Văn Lan,
sau khi con của vua Vũ là Khải rời về đại Hạ,
ở khu vực thuộc phía nam Sơn Tây Bây Giờ thì mới sưng là Hạ.
Hai, Nhà Thương.
Đến thời Nhà Thương thì đây là triều đại thứ hai và là triều đại phong kiến Trung Quốc đầu tiên còn lại những ghi chép lịch sử.
Nhà Thương trải qua 31 vị vua kéo dài hơn 500 năm.
Tương truyền, thủy tổ của Nhà Thương là ông Khế,
từng có công giúp vua Vũ trị thủy nên được thụ phong ở đất Thương,
vì thế sau này lấy tên Thương để gọi bộ lạc của mình.
Vua sau khi diệt Nhà Hạ cũng lấy Thương làm quốc danh.
Về sau thì bàn canh rời đến đất Ân nên cũng gọi là Ân hoặc là Ân Thương.
Thứ ba là Nhà Chu.
Bộ lạc Nhà Chu đến thời cổ công đàn phủ rời đến vùng đất Chu.
Vũ Vương sau khi diệt Nhà Ân đã lấy Chu làm tên hiệu của triều đại.
Nhà Chu từ đó nổi tiếng là triều đại lâu đời nhất trong lịch sử Trung Quốc,
ca trị khu vực này trong gần 8 thế kỷ.
Thời kỳ đầu Nhà Chu dựng đô ở đất Hạo,
đến thời Bình Vương thì rời đô về phía đông là Lạc Âp, Nhà Chu còn có Đông Chu và Tây Chu.
Thứ tư là Nhà Tần.
Triều đại phong kiến thông nhất đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa.
Theo các ghi chép thì Tần vốn là tên một bộ lạc thời cổ.
Thủ lĩnh Phi Tử vì có công nuôi ngựa cho Chu Hiếu Vương nên được Chu Hiếu Vương ban cho họ là họ doanh,
đồng thời tặng cho một vùng đất.
Sau này ông lại có công cứu Nhà Chu nên được phong làm trư hầu.
Khi mà Tần Thủy Hoàng thống nhất 6 nước thì bắt đầu xây dựng nước Tần.
Thứ năm là Nhà Hán.
Hạng Vũ phong Lưu Bang làm Hán Vương,
sau khi Lưu Bang lại đánh bại Hạng Vũ thống nhất Trung Quốc đã đặt cốt hiệu là Hán.
Thời kỳ đầu Nhà Hán đóng đô ở Trường An,
sau đó đóng đô ở Lạc Dương cho nên nếu xét về đô thành thì sẽ có Tây Hán và Đông Hán.
Nếu xét về thời gian thì có Tiền Hán và Hậu Hán.
Thứ 6 là Nhà Nguy.
Tam Quốc là một thời kỳ lịch sử đầy hỗn loạn và trinh chiến của lịch sử Trung Hoa.
3 nước đó là Nguy, Thục, Ngô liên tiếp tranh giành vị thế và quyền lực lẫn nhau.
Trong đó để nói về nguồn gốc danh sưng của Nhà Nguy thì chuyện kể rằng
Hán Hiến Đế từng phong Tào Tháo là Nguy Công, Nguy Vương,
sau khi Tào Phi thay Nhà Hán đã xưng là Nguy.
Vì Hoàng Thất họ Tào nên trong lịch sử cũng gọi là Tào Nguy.
Thứ 7 là Nhà Thục.
Lưu Bị lấy Tứ Xuyên làm khu vực hoạt động.
Thục chính là chỉ Tứ Xuyên nên chính quyền này được gọi là Thục.
Trong lịch sử cũng gọi là Thục Hán.
Hán ở đây chính là triều đại kế tục của Đông Hán.
Thứ 8 là Nhà Ngô.
Tôn quyền hoạt động ở khu vực Hạ Du, Trường Giang.
Trong lịch sử nơi đây từng có nước ngô.
Tào Nguy từng phong cho tôn quyền là Ngô Vương cho nên xử gọi là Tôn Ngô.
Cũng nhân vì ở phía Đông nên lại được gọi là Đông Ngô.
Thứ 9 là Nhà Tấn.
Tư Mã Triêu ép Nguy Đế phong cho mình là Tấn Công.
Sau khi diệt Nhà Thục lại phong làm Tấn Vương.
Về sau con là Tư Mã Viêm kế thửa tước vị.
Êp Nguy Đế phải thoái vị, tự lập là Hoàng Đế và gọi nước là Nước Tấn.
Thứ 10 là Nhà Tùy.
Sau Nhà Hán thì Trung Quốc lại chìm trong 400 năm chia rẽ chính trị
mà không một nhóm nào có thể giành quyền kiểm soát vững chắc tất cả lãnh thổ.
Cuối cùng Nhà Tùy đã có thể thống nhất Trung Quốc và củng cố cấu trúc chính quyền.
Cha của Tùy Văn Đế Dương Kiên là Dương Trung
từng được nhà Bắc Chu phong làm Tùy Quốc Công.
Tùy Văn Đế kế tục trước đó nên gọi là Tùy Triều.
Thứ 11 là Nhà Đường.
Ông nội của đường cao tổ Lý Uyên là Lý Hổ
vì có công giúp nhà Chu nên được phong là Đường Quốc Công.
Tước vị này tiếp tục truyền đến đời của Lý Uyên.
Sau khi ở khởi binh ở Thái Nguyên, Lý Uyên xưng là Đường Vương
sau đó thì lập ra triều đại Nhà Đường.
Thứ 12 là Nhà Liêu vốn xưng là Khiết Đan
là một triều đại phong kiến do người Khiết Đan kiến lập trong lịch sử Trung Quốc.
Sau lại đổi thành Liêu bởi họ cư trú ở vùng Thượng Du
của một dòng sông đó chính là sông Liêu.
Thứ 13 là Nhà Tống.
Sự kết thúc của triều đại Nhà Đường chứng kiến sự tan dã
của quyền lực chính trị và quân sự tập trung.
Các lãnh chúa địa phương, những người có khả năng chống lại phiến quân và bọn cướp
đã nắm quyền kiểm soát các khu vực địa phương nhỏ.
Sau khi Cung đế nhà Hậu Chu Kế Vị
đã sai trịu không dận làm tiết độ xứ ở Quy Đức,
quân Quy Đức đóng tại Tống Châu và triệu không dận làm tiết độ xứ Tống Châu.
Sau vụ binh biến Trần Kiều do phát tích tại Tống Châu nên đặt quốc hiệu là Tống.
Thứ 14 là Nhà Tây Hạ.
Thác Bà Tư Cung chiếm cứ Hạ Châu nên khi lập quốc lấy Hạ Châu làm tên xưng là Đại Hạ
và lại ở phía Tây nên người Tống gọi là Tây Hạ.
Thứ 15 là Nhà Kim.
Đô Thành của Nhà Kim là Hội Ninh ở bên sông Án Xuất Hổ.
Tương truyền rằng sông này sản sinh ra vàng, vàng chính là kim, thế mới có tên là Triều Đại như vậy.
Thứ 16 là Nhà Nguyên.
Theo ghi chép trong Nguyên Sử thì tên gọi Nguyên là do Hốt Tất Liệt đặt.
Ông lấy chữ Nguyên ở câu Đại Tài Càn Nguyên trong Kinh Dịch có nghĩa là lớn là đầu tiên.
Nhưng cũng có người cho rằng sự ra đời của tên này
có liên quan đến phong tục và các vật mang tính biểu tượng của người Mông Cổ.
Cũng có người cho rằng nó liên quan đến Phật Giáo.
Thứ 17 là Nhà Minh.
Chu Nguyên Trương là một trong những nghĩa quân khởi nghĩa cuối đời Nhà Nguyên
là kể thừa Quách Tử Hưng mà phát triển lên.
Quách Tử Hưng thuộc tổ chức của Bạch Liên Giáo.
Bạch Liên Giáo tuyên bố Đại loại có thể dịch như thế này.
Tối tăm sắp qua, sáng tươi sắp đến để cổ vũ nhân dân chống lại sự thống trị của Triều Nguyên
cho nên còn được xưng là Quang Minh Giáo.
Thủ lĩnh của Bạch Liên Giáo xưng là Minh Vương.
Trung Nguyên Trương không chỉ từng rung tín Bạch Liên Giáo
mà còn thừa nhận mình là một trong những quân khởi nghĩa của Bạch Liên Giáo.
Vì vậy sau khi giành được chính quyền Trung Nguyên Trương đặt quốc hiệu là Minh.
Và thứ 18 là Nhà Thanh.
Mãn Tộc là một tri của Tộc Nữ Trân.
Thời Bắc Tống thì Tộc Nữ Trân xây dựng nước kim.
Cuối đời Nhà Minh, thế lực của Tộc Nữ Trân hùng mạnh trở lại
cũng xây dựng lại nước kim, còn gọi là hậu kim.
Vì muốn mở rộng ra bên ngoài, cắt đếp quan hệ bề tôi với Triều Minh
nên Hoàng Thái Cực đã đem Nữ Trân đổi thành Mãn Châu rồi đem kim đổi thành Thanh.
Và sau này khi chiếm được Trung Nguyên thì gọi là nước Thanh hay còn gọi là Đại Thanh.
Cảm ơn các bạn vì đã quan tâm theo dõi câu chuyện này.
