VẬN MỆNH có phải đã được ĐỊNH SẴN thầy bói xem QUẺ bảo sau làm cướp NHƯNG LẠI TRỞ THÀNH TƯỚNG QUÂN

Sống thuận tự nhiên
438 Người theo dõi
Người đời quen miệng than rằng, số mệnh đã an bải, như thế mọi vinh nhục, thăng trầm đều do trời định sẵn.
Nhưng nếu số phận là siêng xích, thì đâu là chỗ cho ý chí và nỗ lực?
Vậy thử hỏi, một người có thể tự mình xoay chuyển vận mệnh hay không?
Câu chuyện dưới thời Võ Đức Triều Đường sẽ cho ta câu trả lời.
Vào thời Võ Đức Nhà Đường, nơi trấn dương xuân dưới chân núi mễ thương,
đất tứ xuyên hiểm trở, khí hậu quanh năm ấm ướt.
Nhưng lòng người nơi ấy lại nồng hậu như nắng sớm tháng ba.
Tại nơi ấy có một người đàn ông tên là Khúc Nguyên Mạch.
Ông không phải là phú hộ giàu sang, cũng chẳng làm quan quyền thế,
nhưng tiếng thơm của ông thì vang dội khắp mười dặm tám làng.
Người ta nhắc đến ông như một tấm gương giữa đời loạn,
bởi ông sẵn sàng giúp kẻ nghèo, cứu người khốn.
Có lần trời mưa to, nhà cuối làng bị sập,
ông đích thân vác gạo, mang mền, không ngại gió lốc đến giúp.
Có người đau bệnh, nhà chẳng còn đồng nào,
ông lại âm thầm sai con trai mang thuốc, đem cơm đến từng bữa.
Người dân nơi đó đều kính trọng mà gọi ông là Khúc Thiện Nhân.
Khúc Nguyên Mạch có hai người con trai.
Người Anh là Khúc Thành, dáng người cao gầy, nét mặt thanh tú,
nói năng từ tốn, làm việc cẩn trọng.
Từ bé đã thích sách vở, ngồi đâu cũng đọc, viết đâu cũng chăm.
Ai nhìn cũng bảo đứa trẻ này lớn lên, át sẽ đỗ đạt.
Trái lại, em út là Khúc Dương, một đứa bé lanh lẹ vô cùng,
cặp mắt láo liên như chuột, miệng nói không ngớt,
tay chân lúc nào cũng động đẩy.
Gặp việc gì cũng nghĩ ra cách phá phách,
đến nỗi hàng xóm thường lắc đầu.
Thằng bé này chỉ giỏi ba hoa, lớn lên chắc chỉ gây chuyện mà thôi.
Tuy tính tỉnh hai con khác biệt như nước với lửa,
vợ chồng Khúc Láo vẫn yêu thương không phân biệt.
Hế ai chê Khúc Dương, ông bà lại bảo.
Thằng bé lanh lợi, chỉ cần dạy dỗ đúng đường, sau này át có chỗ dùng.
Một ngày đầu hạ, khi tiếng ve kêu râm ràn gọi nắng,
Đạo trưởng Thanh Dương, người tu hành mấy chục năm trên đỉnh núi Thanh Vân,
bỗng hạ sơn ghé qua nhà Khúc Nguyên Mạch.
Ông vốn quen biết từ xưa, từng giúp Khúc Láo vượt qua trận dịch năm nỏ.
Vừa thấy bóng đạo trưởng từ cổng vào, Khúc Nguyên Mạch liền đon đả chạy ra,
hai tay chắp vái.
Đạo trưởng giá lầm, vợ chồng tôi thật lấy làm vinh hạnh.
Nói rồi ông quay vào sai vợ chuẩn bị rượu chay, mâm cơm tươm tất.
Lúc ấy Khúc Thành đang cùng mẹ nhóm bếp, tay thoan thoát thái giao, rửa bác.
Vừa nghe cha gọi, cậu lau tay sạch sẽ, ra cúi đầu vái đạo trưởng ba cái.
Tiểu sinh Khúc Thành, kính chào đạo trưởng.
Đạo trưởng Thanh Dương vuốt dâu, ánh mắt thâm sâu nhìn cậu thiếu niên một lượt từ đầu đến chân.
Một lát sau, ông gật đầu nhẹ, như đã thấy rõ thiên cơ.
Chán vuông mà rộng, cằm tròn mà đầy, mắt sáng như sao, mũi thẳng như sống kiếm.
Đây là tướng người đỗ đạt, hậu vận vinh hiển, lộc quang đầy nhà, danh vọng vang xa.
Khúc nguyên mạch nghe vậy lòng mừng như mở hội, tay đập đùi cái đét, mắt sáng như đèn dầu.
Được lời đạo trưởng, tôi yên tâm phần nào rồi.
Khúc Dương còn còn không mau ra chào đạo trưởng một tiếng.
Cánh cửa chưa kịp khép, Khúc Dương đã từ ngoài chạy sông sộc vào như cơn gió lốc.
Không như anh, cậu chẳng thèm nghiêm trang, lễ phép.
Vừa thấy đạo trưởng dâu dài, áo bào trắng, cậu liền reo lên.
Ủa, ông già, bộ dâu ông dài dữ ha? Ăn cơm có bị dính nước canh không đó?
Nói rồi cậu nhào tới, tay đưa ra định kéo thử.
Đạo trưởng giật nảy người, vội ôm lấy tròm dâu, quý như báu vật, sắc mặt tái đi, ánh mắt bốc lửa.
Ông nhìn thẳng vào đứa trẻ ngỗ ngược, giọng lạnh lùng như gió đêm.
Mắt vô thần, mày tán loạn, lời lẽ sắc sược, cử chỉ thiếu kính nhường.
Kẻ này tâm tánh bất an, sau này khó nên thân.
Lời nói như sấm giữa trời quang, rơi xuống giữa nhà họ khúc.
Vợ chồng khúc nguyên mạch đứng như tượng đá, trong lòng bàng hoàng như bị dội gáo nước lạnh.
Khúc thành thì vội kéo em về, còn khúc dương vẫn cười khỉ, như chẳng hề biết mình vừa chuốc họa.
Từ hôm đó trở đi, câu phán ấy như lời nguyền treo lơ lừng trong nhà.
Mỗi lần nhìn con út, vợ chồng khúc láo lại không khỏi thở dài.
Từ ngày đạo trưởng rời đi, lời phán như sấm truyền kia cứ mãi vương vấn trong tâm khảm vợ chồng khúc láo.
Không dám trách trời, chẳng thể trách con.
Hai người chỉ còn biết lặng lẽ dốc lòng dạy bào, mong sửa đổi tâm tính đứa nhỏ.
Nhưng cây nghiêng khó chống, nước chảy khó quay đầu.
Khúc thành thì càng ngày càng hiền hậu, chăm học.
Thầy cô không ngớt lời khen ngợi, hàng xóm ai cũng nước lòng ca tụng.
Nhà họ Khúc có phúc sinh được đứa con như Ngọc.
Cứ thế, thành học một biết mười, đọc đâu hiểu đấy, chưa bao giờ để cha mẹ phải bận lòng.
Trái lại, Khúc Dương thì cứ như chiếc thuyền lạc gió, trôi dạt mãi mà chẳng thấy bến.
Đến trường thì ba hôm bị phạt, năm ngày bị đòn.
Về nhà lại mặt mày xịu xuống.
Chẳng buồn học hành, lời cha mẹ lọt tay trước, rơi mất sau.
Chán cảnh bị mắng chửi, Dương dần rời xa sách vở, kết giao với lũ bạn đầu đường cuối ngõ.
Ngày ngày lang thang khắp quán rượu, đầu chợ, xóa đỉnh.
Cha mẹ dốc lòng khuyên dân, giận có, khóc có.
Nhưng nước đổ lá sen, lời vào tay trái ra tay phải.
Dần dần, hy vọng duy nhất của họ chỉ còn trông vào đứa con trưởng.
Năm ấy, Khúc Dương chọn hai mười.
Gương mặt có nét tuấn tú, dáng dấp phong lưu, chỉ tiếc là tính tình vẫn bất kham.
Một hôm, đi ngang qua hội chợ đầu xuân.
Dương vô tình nhìn thấy một thiếu nữ đứng trong dân hàng bán giấy đỏ.
Nàng mặc áo lụa trắng, tóc cải trâm ngọc, dung mạo đoan trang như tranh thủy mặc.
Đó chính là Lưu Nga, con gái duy nhất của ông Lưu Viên Ngoại,
một trong những nhà giàu có nhất vùng.
Chỉ thoáng nhìn, tim Khúc Dương đã chật nhịp.
Mấy hôm sau, Dương năn nỉ mẹ đội lễ vật đến xin hỏi cưới.
Nhưng khi bà Khúc tới nhà họ Lưu còn chưa kịp ngồi xuống chiếu,
Viên Ngoại đã khoát tay, lạnh lùng phán một câu.
Con gái tôi chỉ gả cho người có học,
không thể để nó gánh lấy đời sống với hạng phường phố vô học.
Thì ra, Lưu Nga từ lâu đã có ý ngấp ngé, khúc thành.
Người anh cả vừa có đức lại có tài.
Khi mẹ trở về, Dương vừa nghe tin liền đứng phát dậy,
mặt đỏ bừng, miệng hét lớn.
Rõ ràng là con thấy nàng trước, sao lại thành của anh được?
Người mẹ nhìn con, ánh mắt đượm buồn.
Có lẽ vì người ta chọn điều đáng tin, không chọn điều mong manh.
Không phải ở ai cả, mà là lỗi ở con.
Vì đã không chịu học hành, không tự xây cho mình một chỗ đứng đáng trọng.
Khúc Dương giận như bốc lửa,
đứng giữa sân nhà mà siết chặt nắm tay, miệng nghiến răng tuyên bố.
Rồi sẽ đến ngày, con thành danh trở về,
để xem kẻ khinh con hôm nay có còn dám ngẳng mặt hay không.
Sáng hôm sau, chưa kịp để sương tan,
Dương đã xách túi, khoác áo rời nhà,
một mình lên đường vào kinh thành thành lập nghiệp.
Nhưng trời chưa kịp thử thách trí lớn,
thì họa đã ập đến.
Vừa tới địa phận Hà Nam, trong lúc dừng chân nghỉ bên suối,
Dương nghe tiếng la hét ẩm ý.
Chạy tới, thấy một đoàn xe ngựa bị bao vây bởi lũ sơn tặc.
Mặt mũi tên nào cũng bịt kín, tay cầm đao, miệng cười man dở.
Vài tên đang lôi kéo một người đàn bà lớn tuổi khỏi xe,
còn tên đầu lĩnh thì quát to.
Ai trong xe, mau chui ra, hoặc chúng ta lật xe lôi xuống.
Từ trong màn buông mỏng,
một bàn tay thon dài trắng như ngó sen đưa ra một túi bạc,
giọng nói nhẹ như tơ nhưng không hề sợ hãi.
Đây là chút bạc lộ phí.
Các vị hảo háng nhận lấy, xin đừng làm kinh động đến mẫu thân tôi.
Tên cầm đầu bật cười sàng sặc.
Bố thí cho ăn mày đấy á.
Giọng thế này, chắc là mỹ nhân.
Mau bắt về làm áp trại phu nhân, tha hồ ngày đêm hầu rượu.
Mấy tên lao vào, kẻ giữ ngựa, người kéo rẻm.
Vệ sĩ đi theo tuy có võ nhưng người ít, địch nhiều.
Chẳng mấy chốc đã ngã giạp.
Khúc giương lúc ấy không chút do dự.
Tay rút thanh côn bằng gỗ cứng đeo sau lưng.
Lao thẳng vào đám cướp như hổ giữa bầy dê.
Những năm tháng bỏ học, giương tuy không đèn sách nhưng võ nghệ lại luyện không ngừng.
Chẳng mấy chốc, tên gãy tay, đứa gãy chân, máu văng đầy đất.
Đám còn lại thất kinh vứt đao bỏ chảy.
Chiếc xe ngựa run dẩy dừng lại.
Dèm vén lên, từ trong bước ra một thiếu nữ áo tím,
dáng người yếu điệu, thần thái quý phái.
Nàng cuối người thi lễ, đa tả, ân nhân cứu mạng.
Thiếp là Trầm Anh, xin ghi nhớ ân tình này trọn đời không quên.
Khúc giương bước đi bên nàng,
trong lòng như trống trận nổi lên.
Trầm Anh, người con gái ấy, không chỉ có vẻ ngoài đoan chính
mà khí chất lại mạnh mẽ, vững vàng như gió ngàn phương Bắc.
Ánh mắt nàng nhìn thẳng,
giọng nói thong thả mà không kém phần quyết đoán.
So với Lưu Nga thừa nào, như trúc non giữa vườn xuân,
Trầm Anh tựa cành tùng trên đỉnh núi,
càng nhìn càng khiến người ta không thể rời mắt.
Biết chàng định lên kinh, nàng cười nhẹ.
Thiếp cùng mẫu thân cũng hướng về Kinh Đô,
chi bằng đồng hành cho tiện.
Trên đường đi, nàng kể dần thân thế.
Thì ra, nàng chính là ái nữ của Trầm Đại Nhân,
đường kim trấn thủ phía Bắc,
nổi danh triều đình với mấy chục năm xa trường vào sinh gia tử.
Lần này nhân dỗ tổ, Trầm phu nhân muốn về quê bái tế,
nên cha mới cho đoàn xe hộ tống.
Vừa đến Kinh, Trầm Anh đã kể rõ sự tình với phụ thân.
Trầm tướng quân nghe xong,
liền cho người mời khúc dương đến phủ,
mắt quét một lượt từ giáng đi tới ánh mắt, rồi cười lớn vỗ vai.
Có gan cứu người, có sức phá giặc, không phải phường vô dụng.
Nếu đã không muốn học chữ, thì thử vào quân doanh,
xem có rèn được gươm bén không.
Khúc dương nghe vậy như cá gặp nước.
Bao năm đèn sách bỏ dở, giờ có cơ hội danh chính ngôn thuận lập thân,
lòng phấn khởi không sao kẻ siết.
Ngày hôm sau, anh chính thức ghi danh
bắt đầu những tháng ngày đổ mồ hôi pha máu nơi thao trường.
Lúc mới vào quân, từ thân phận thấp kém, ai cũng xem thưởng.
Nhưng khúc dương gan lì, sáng luyện võ,
chiều khiêng nước, tối học binh pháp.
Trầm tướng quân tuy không thiên vị ra mặt,
nhưng vẫn ngấm ngầm cử người truyền dạy.
Ba năm trôi qua, biết bao lần hành quân vất vả,
trinh chiến gian nan, từ một tiểu tốt bị sai vặt,
khúc dương đã bước lên chức, võ úy, hàng lục phẩm trong quân đội.
Được quan trên kính nể, binh lính nể phục.
Trầm tướng quân thấy con rể, tương lai chỉ khí,
lại được lòng quân. Một hôm, bèn gọi hai vợ chồng đến đại sảnh,
sai người dựng cờ mở hội, truyền cáo thiên hạ,
tổ chức đại lễ thành thân.
Trầm Anh, người từng dám đưa tay ném bạc giữa hiểm uy,
nay trở thành thê tử của vị tướng trẻ,
đang lên như diều gặp gió.
Mười ngày sau hôn lễ, khúc dương đưa vợ hồi hương.
Làng Dương Xuân vốn nhỏ bé, hôm ấy như nổ tung
vì đoàn xe ngựa phụ kín cổng làng.
Cờ hiệu đỏ rực, tuy tung theo sao đông như rừng tre,
dân chúng ngó ra từ mọi ngõ ngách, sôn sao như trời hổi.
Cha mẹ khúc vừa trông thấy con trai, đầu đội mũ quan,
mình khoác áo gấm, bên cạnh là người con dâu xinh đẹp,
quý khí dạng ngời, mắt trợn tròn, miệng há hốc,
tường trừng như đang nằm mộng.
Mãi đến khi khúc dương quỳ xuống dập đầu ba lại,
hai người mới ỏ khóc mà nói,
Dương Nhi, thật là con sao?
Sao lại giống thần tiên thế này?
Vợ chồng khúc không tin vào mắt mình.
Người con năm xưa bị thiên hạ chê cười,
nay hiển hách trở về như dòng trầu phượng múa.
Đúng lúc ấy, đạo trưởng Thanh Dương cũng vừa ghé qua trấn.
Nghe tin khúc dương liền đứng dậy,
giọng vang rội giữa sân.
Đạo trưởng, lâu lắm mới gặp lại,
người có còn nhớ đứa bé từng kéo dâu năm nào?
Đạo trưởng nhìn lên, thấy tướng mạo uy nghiêm,
gương mặt kiêu hùng,
phía sau là cả đoàn tùy tùng dập trời,
vội vàng cười gượng.
Ồ, chúc mừng, chúc mừng đại nhân.
Khúc dương nhách môi, ánh mắt sâu như diếng cổ.
Chỉ có chúc mừng thôi sao?
Năm xưa nói ta chẳng ra gì,
hôm nay chẳng lẽ không nên xin lỗi một lời.
Đạo trưởng bối dối, mặt đỏ như gắc.
Ta chẳng qua là nhìn nhầm.
Cậu có số may mắn?
Khúc dương bật cười lớn.
Nếu chỉ là may mắn,
vậy ta và người cá cược thử trắng.
Trong đạo quán của Thanh Dương có một thanh kiếm quý,
gọi là thanh phong kiếm.
Chuyên rằng ai lấy được kiếm này mà không dùng vũ lực,
thì chứng tỏ có phúc duyên trời ban.
Đạo trưởng nhướng mày đồng ý.
Hai ngày đầu, ông sai hơn chục đạo sĩ thay phiên canh giữ,
mắt không rời thanh kiếm nửa bước.
Ngày thứ ba, Khúc Dương không tới sớm.
Gần trưa, bỗng sai người mang đến đạo quán mười bộ đạo bào mới tinh,
kèm mấy vò rượu quý và mâm cỗ đầy.
Miệng nói, tặng các vị đạo hữu chút lễ mọn,
mong chư vị vui lòng hưởng lọc.
Chưa đến nửa canh giờ, rượu vào bụng,
cả bọn nằm lan ra như cá nướng.
Khúc Dương bước vào, nhấc thanh kiếm lên, thông dòng ra về.
Chiều hôm đó, đạo trưởng ôm đầu than dài.
Ta thật sự nhìn sai rồi, không có phúc phần nào tự đến cả,
kẻ có trí mới có thể đổi số mệnh.
Về sau, Khúc Dương càng đánh càng thắng,
chinh nam phạt bắc, lập vô số chiến công,
được phong hàm đại tướng quân, thống lĩnh ba quần.
Còn Khúc Thành, người con trưởng điềm đạm, nề nếp,
thì nối nghiệp cha, gây dựng cơ nghiệp,
trở thành thương gia lớn nhất vùng.
Một nhà hai con, cùng máu thịt sinh ra,
nhưng chọn hai hướng đi.
Kẻ giữ sách, người cầm kiếm,
một bên an hòa, một bên hiển hách,
nhân quả từ tâm khởi, phúc hỏa theo trí mà sinh.
Trời không định sẵn đợi ai,
người tự chọn con đường, thì ác tự tạo vận mệnh.
Phật dạy, nhất thiết duy tâm tạo,
mọi sự trong đời đều khởi từ tâm.
Không có số phận nào cố định,
chỉ có người tự khóa chặt mình trong vò ốc bất lực.
Số phận giống như một ván bài,
ông trời phát bài,
nhưng bạn mới là người quyết định cách đánh.
Thắng hay bại, không nằm ở lá bài,
mà ở bàn lĩnh của người chơi.
Gặp nghịch cảnh mà than thân trách phận,
buông tay đầu hàng,
đó mới là thật sự tuyệt vọng.
Giữ vững tinh tấn, nuôi trí lớn,
thì ngay cả thân cá khô cũng có ngày đội mưa hóa rộng.
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật từng nói,
Tự mình làm điều ác, tự mình làm nhiễm ô.
Tự mình không làm ác, tự mình làm thanh tịnh.
Tịnh hay không tịnh là do tự mình.
Không ai làm cho ai thanh tịnh được.
Bởi vậy, đừng hỏi đời tại sao bất công với tôi.
Hãy hỏi lại chính mình,
tôi đã làm gì để xứng đáng với một cuộc đời tốt hơn?
Chỉ cần bạn không bỏ cuộc,
thì dù bắt đầu với bộ bài xấu nhất,
cũng có ngày nghịch chuyển thành vương chiến.
Chỉ cần bạn còn bước,
thì không có con đường nào là cùng tận.
Tu hành không phải để thay đổi vận mệnh trời định,
mà để chuyển hóa tâm mình,
và từ đó, thay đổi cả thế giới quanh mình.
Vì sao người ta dặn rằng,
chớ khinh người trẻ lúc nghèo
vì gió xoay hướng vẫn đổi thay?
Bởi trong cõi nhân sinh,
chẳng ai nghèo khổ suốt đời,
cũng chẳng ai mãi đứng trên cao.
Có những người hôm nay tay trắng
nhưng trí lớn ngút trời,
ngày sau có thể tạo dựng cả cơ nghiệp.
Lẽ đời biến hóa khôn lường,
lòng người lại dễ bạc béo.
Chuyện xưa thời Minh Triều
là một minh chứng rõ ràng cho câu nói ấy.
Minh Triều năm ấy,
tại một trấn nhỏ ven núi,
có chàng trai họ triệu tên Huyên,
tuổi chỉ vừa đôi mươi, thân thế nghèo hèn,
nhưng trong lòng ôm hoài bão lớn.
Từ nhỏ,
đã nghe chuyện người xưa xuất thân hàn vi,
gây dựng nên cơ nghiệp bằng hai tay trắng,
lòng chàng nung nấu một khát vọng.
Ra ngoài bái sư học nghề,
lấy đó làm gốc để chuyện xoay vận mệnh,
ngầng đầu giữa cuộc đời.
Thế nhưng,
ý chí có lớn đến đâu cũng chẳng địch nổi nghiệt cảnh.
Nhà chàng nghèo đến nỗi chiếc áo lành không có,
bữa ăn độn khoai sắn,
lấy đâu ra bạc để lên đường,
càng không đủ lễ vật ra mắt sư phụ.
Cái nghèo bó chân bó tay,
khiến chàng chỉ còn một con đường,
tìm đến ba người anh họ cầu xin
chút giúp đỡ,
mong có vốn liếng ban đầu mà dựng nghiệp.
Người đầu tiên là đại ca họ,
kẻ giàu có nhất trong ba anh em.
Nhà cao cửa rộng,
người hầu kẻ hạ,
chỉ nhìn thôi cũng đủ biết ăn sung mặc sướng.
Triệu huyên đứng trước cổng,
hít một hơi dài rồi mới dám bước vào.
Đại tẩu vừa thấy bóng dáng cậu em nghèo
thì môi đã cong lên cười,
ánh mắt giấu không hết sự khinh khỉnh.
Chưa đợi anh trình bày xong,
bà ta đã thở dài,
ra chiều khó sự.
Ê em à, đại ca em mới bỏ vốn
làm ăn lớn, tiền bạc trong nhà
đang quay vòng không suệ.
Chúng ta đâu còn dư giả gì mà cho vai mượn.
Cũng không phải không muốn giúp,
mà thực lực không cho phép.
Nói thì nghe như cảm thông,
nhưng giọng nói thì lộ rõ sự lạnh nhạt.
Lúc triệu huyên đứng dậy cáo tử,
đại tẩu lại đổi giọng dịu hơn,
tiện tay nhét vào tay anh
hai cái bánh bao nguội ngắt,
mang theo mà ăn cho đỡ đói trên đường.
Cẩn thận đấy, trời tháng ba còn lạnh.
Chàng trai cầm bánh bao,
lòng ngộn ngang.
Khi đi ngang qua bếp,
vô tình lít nhìn vào trong,
thì thấy bàn ăn trải đầy món ngon vật lạ,
thịt cá ê hề,
mùi thơm sọc thẳng lên mũi
như một cái tát vào mặt.
Hóa ra cái, quay vòng không xuể của họ,
chỉ là lời khước từ được bọc bằng một tấm vải đẹp đẽ.
Triệu huyên nén nỗi tuổi hổ,
lặng lẽ rời đi.
Người anh thứ hai,
sống ở đầu trấn,
tuy không giàu bằng đại ca,
nhưng cũng gọi là khá già.
Chàng đến gõ cửa, vừa thấy mặt,
nhị tẩu đã trao mày.
Nghe xong lời khẩn khoản của em chồng,
bà ta không nói không rằng,
bưng ra một bát cháo loáng,
đặt xuống trước mặt.
Nhà chị cũng túng lắm, chẳng giúp gì được đâu.
Ăn bát cháo cho ấm bụng rồi hắng đi.
Câu nói vừa dứt
thì thằng con trai nhỏ chạy từ trong nhà ra,
miệng reo hớn hở.
Mẹ ơi, mẹ ơi, gà vừa đẻ trứng,
luộc cho chú ăn một quả nhé.
Chỉ một câu ngây thơ
mà khiến sắc mặt nhị tẩu biến đổi tức thỉ.
Bà quát lớn.
Trẻ con biết gì mà lắm mổm, ra ngoài chơi ngay.
Không cần thêm một lời,
triệu huyên đã hiểu thấu.
Đứa trẻ vốn không biết nói dối,
một quả trứng cũng chẳng thể cho,
còn trông mong gì đến chuyện vay mượn bạc.
Chàng đặt bát cháo xuống bàn,
cuối đầu chào, rồi bước đi trong lặng lẽ.
Không một lời oán trách,
không một ánh mắt giận hờn.
Chỉ có một nỗi đau âm thầm siết chặt người lồng ngực.
Không phải vì đói,
mà vì lòng người bạc béo.
Tam ca ở cuối thôn,
nhà không lớn, mái dơm siêu vẹo,
bờ tường nứt nẻ,
sân trước ngổn ngang những món đồ cũ ký.
Triệu huyên đứng trước cổng,
lòng xe thắt.
Trong ba người anh họ, Tam ca là người nghèo nhất,
còn khổ hơn cả mình.
Một túc lều rột nát thế kia,
nói chi đến chuyện giúp bạc học nghề.
Nghĩ vậy, anh chỉ đành thở dài,
quay người định rời đi trong lặng lẽ,
không muốn làm khó người chẳng dư già gì.
Đúng lúc ấy,
một giọng nói vang lên từ phía đầu ngó.
Tam tẩu đang xách giò dao trở về,
thấy em chồng thì mắt sáng lên,
bước vội lại gần,
nét mặt rạng rỡ như gặp người thân lâu ngày.
Ơ kìa, em đến đấy à?
Trời nắng quá,
mau vào nhà, chị đang nấu cơm,
cùng ăn rồi, hãy đi.
Chẳng chờ triệu huyên từ chối,
bà đã kéo tay anh bước qua cánh cửa ọp ẹp.
Trong bếp, một nồi cháo đang sôi lục bục,
khói trắng bốc lên nghi ngút.
Không đợi hỏi han thêm lời nào,
Tam tẩu đã nhanh chóng dọn mâm cơm đơn sơ
rồi hối hả đi vào buồng.
Một lúc sau, bà trở ra,
chán lấm tấm mồ hôi,
tay cầm một bọc vải cũ được buộc gọn ghé.
Bà rúi nó vào tay triệu huyên,
giọng dứt khoác.
Trong này có hai mươi lượng bạc,
là tiền chị với tam ca chắc triêu từng đồng,
định bụng sửa lại mái nhà rột.
Nhưng chị nghĩ rồi,
cái mái kia có rột thêm một năm cũng được,
còn tương lai của em không thể để muộn thêm một ngày.
Triệu huyên hoảng hốt mở ra xem,
bạc trắng lấp lánh,
ánh lên trong nắng.
Anh nghẹn lời, nước mắt dâng tràn,
giọng run run, tẩu.
Đây là mồ hôi sương máu của anh chị,
em sao dám nhận.
Tam tẩu cười, nụ cười hiền như gió xuân.
Ngốc ạ, em học thành nghề,
có ngày sẽ đổi đời.
Khi ấy, em có thể dựng ngàn mái nhà,
chứ mái nhà rách của vợ chồng chị có đáng gì.
Chị chỉ xin em một điều,
đừng phụ lòng tin của anh chị.
Triệu huyên không nói thêm được gì,
chỉ biết cúi đầu thật thấp,
hai tay run rảy ôm lấy bọc bạc
như ôm cả ân tình khắc cốt ghi tâm.
Chàng lên đường với hai mươi lượng bạc,
nhưng mang theo là hàng ngàn lần ý chí.
Hành trình học nghề gian nan,
phải ngủ đất ăn rau,
chịu đòn roi sư phụ, tay chai chân nứt,
nhưng chưa một lần than thở.
Có lần ốm liệt giường, suýt bỏ mạng,
chàng vẫn kiên quyết không rời xưởng.
Bởi mỗi lần muốn gục ngá,
hình ảnh tam tẩu mồ hôi nhễ nhải,
rúi bạc vào tay lại hiện về,
khiến chàng gắn thêm một bước.
Chẳng bao lâu sau, tiếng tăm triệu huyên
vang khắp vùng.
Tay nghề mọc tinh xảo,
ai thuê cũng khen, đơn đặt hàng nượm nượp.
Ba năm sau,
anh đã mở được xưởng riêng, thuê thợ,
nhận học trò.
Nhà cửa khang trang, tiền bạc rùm rình,
chẳng mấy chốc trở thành danh gia trong vùng.
Ngày anh đủ đầy,
việc đầu tiên là về lại căn nhà nhỏ năm xưa.
Nhưng lần này, anh không trở về tay trắng.
Anh mua hẳn một căn nhà gạch khang trang
giữa thị trấn,
sắm sửa đầy đủ mọi thứ,
rồi đưa tam ca và tam tẩu về ở.
Không chỉ vậy,
anh còn bỏ vốn cho tam ca mở một cửa hàng
buôn gỗ nhỏ,
giúp cuộc sống anh chị từ đó đổi thay,
chẳng còn phải chắt bóp từng su.
Tin đồn bay xa, lọt đến tay đại tậu và nhị tậu.
Hai người vội vã sắm sửa quà cáp,
thay xiêm đổi áo,
rồi kéo nhau đến nhà xưởng của Triệu Huyên.
Họ cười nói sợi lời,
hỏi han ngọt ngào, khen anh hết lời.
Bóng gió nhắc chuyện,
ngày xưa chị em một nhà,
và nay em giàu có, chẳng lẽ để chị em sống khổ.
Triệu Huyên mời vào nhà,
trà nước đàng hoàng,
lời nói vẫn lễ độ như xưa.
Nhưng khi nghe hai người trách anh,
thiên vị tam tẩu, lạnh nhạt với chị dâu ruột thịt,
anh chỉ cười nhạt,
mắt sáng như gươm lạnh.
Khi tôi tay trắng, muốn đi học nghề để đổi đời,
tôi từng đứng trước cửa nhà hai người.
Một người cho tôi hai cái bánh nguội,
một người múc cho tôi bát cháo loãng.
Nhưng chỉ có tam tẩu,
trong cảnh nghèo hơn cả,
lại đem hết bạc dành sửa mái nhà,
trao tận tay tôi, không chút do dự.
Giữa ngày tuyết rơi,
ai đưa than, ai đóng cửa,
tôi chưa từng quên.
Lời vừa dứt trong gian phòng im phăng phắc.
Đại tẩu và nhị tẩu cúi đầu không nói,
mặt đỏ đến mang tai,
rồi chẳng ai bảo ai, lặng lẽ quay đi.
Gió thổi qua hiên,
cuốn theo mùi trà nhạt.
Bên ngoài, tiếng đục đéo của sườn mọc vang đều đều,
như đang kể lại một câu chuyện không lời,
về lòng người,
về ơn nghĩa, và về cái lẽ giản dị mà sâu xa.
Kẻ nghèo hôm nay,
có thể là người rực sáng ngày mai.
Đừng khinh ai lúc xa cơ,
bởi vận nước xoay vần,
mây che sông núi cũng có ngày trời quang.
Trong cuộc đời vô thường,
không ai có thể nắm chắc mãi một thời.
Kẻ hôm nay lấm lem bụi đất,
mai có thể đội mũ vàng cửi ngựa.
Người hôm nay tay trắng,
ngày sau biết đâu tay vàng đầy ngọc.
Phật dạy, vạn pháp do duyên sinh,
vạn sự bởi nhân quả.
Đừng bao giờ coi thường người
đang trong lúc khốn khó,
bởi nghiệp thiện hay bất thiện đều như hạt giống,
reo xuống đất.
Đến thời tiết thuận, đất lành, át sẽ trổ hoa.
Tam tậu nghèo nhất,
lại là người giàu lòng nhất.
Không phải ai cũng có thể chia của ít ỏi
cho người lúc hoạn nạn.
Nhưng chính sự sẻ chia đó lại là phúc báo,
là nhân duyên lành mà không bạc nào sánh được.
Còn người khinh rẻ kẻ nghèo,
trối từ khi họ đang cần một tay đưa ra,
khi thời tới,
chỉ có thể đứng ngoài nhìn.
Người xưa dạy,
cùng hung cực khổ mà chẳng bỏ nhau,
ấy là nghĩa.
Gặp người hoạn nạn mà không quay lưng,
ấy là tâm.
Trồng cây phúc đức hôm nay,
hái quả an vui mai hậu.
Trong ánh sáng Phật Pháp,
nhân quả chẳng sai bao giờ.
Gieo lòng tốt trong ngày mưa gió,
trời sẽ trả nắng ấm cho ta.
Gieo lạnh nhạt lúc người khó khăn,
khi ta lạc bước, chỉ có bóng mình.
Chuyện đời là cơn gió,
lòng người là cánh buồm.
Hãy giữ cho mình một trái tim tử bi,
rộng mở như biển lớn.
Để dù đời đổi thay, ta vẫn là người
gieo duyên lành khắp trốn.
Cầu chúc bạn luôn đủ trí để nhìn người
bằng tâm sáng, đủ phúc để gặp thiện duyên,
đủ lòng để xẻ chia không tính toán.
