TẠI SAO NHÀ THANH CÓ THỂ CAI TRỊ NGƯỜI HÁN LÂU HƠN NHÀ NGUYÊN

Đình Sự
534 Người theo dõi
Trung Hoa được xem là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại.
Vùng Bình Nguyên Hoa Bắc đã chứng kiến sự hưng khởi của hàng loạt các triều đại thịnh vượng và rực rỡ.
Người Hán đã vươn tầm ảnh hưởng của mình ra khắp các khu vực xung quanh
bằng việc trinh phạt, xâm lược và thống trị nhiều dân tộc khác.
Mặc dù vậy, dù hung mạnh và xâm chiếm hàng loạt các dân tộc khác,
nhưng bản thân người Hán thì cũng có những kẻ địch khiến họ phải khiếp sợ.
Đó là các dân tộc du mục đến từ phương Bắc.
Trong suốt lịch sử của mình, người Hán đã từng hai lần bị ca trị bởi những dân tộc thiểu số.
Đó là khi mà người Mông Cổ tiêu diệt Nhà Tống, lập ra Nhà Nguyên
và người Nữ Trân diệt Nhà Minh, lập ra Nhà Thanh.
Vậy nhưng, khi nhìn vào hai triều đại này, các bạn sẽ thấy gì?
Đó là Nhà Nguyên của người Mông Cổ, dù được xem là vô cùng hung mạnh,
tạo ra một trong những đế chế rộng lớn nhất lịch sử, nhưng lại chỉ ca trị chưa được 100 năm.
Còn người Nữ Trân, nếu so với Mông Cổ xưa thì kém hơn rất nhiều
về khả năng quân sự cũng như thành tựu trong công cuộc trinh phạt.
Thế nhưng lại có thể ca trị người Hán tới tận gần 300 năm.
Vậy sự khác biệt nằm ở đâu?
Người Nữ Trân đã làm điều này như thế nào?
Hãy cùng tìm hiểu qua video ngày hôm nay nhé!
Chào mừng đến với Battlecry Trung Hoa sử ký!
Mối họa Phương Bắc
Kẻ địch Phương Bắc, ấy là một trong những cụm tử nhạy cảm của lịch sử
mà đời sau khi nhắc tới, nhiều người lại cảm thấy một nhiệt độ khác lạ trong cơ thể mình.
Một cảm giác có lẽ đang di chuyển từ nhiều thế hệ người Việt Nam.
Bởi vì Phương Bắc chính là kẻ thù truyền kiếp từ đời này qua đời khác của nước ta.
Vậy nhưng nếu hỏi người Việt và người Hoa có điểm chung gì,
thì cụm tử ở trên lại là thứ dễ nhận ra nhất.
Vâng, Đại Việt không phải là quốc gia duy nhất có kẻ địch Phương Bắc, mà Trung Quốc cũng vậy.
Phương Bắc chính là mối đe dọa lớn nhất đối với sự thái bình của Thiên Triều Trung Hoa qua nhiều thời đại.
Và đã có những lúc họ bị cai trị bởi những dân tộc thiểu số,
mà trước đây họ vẫn hay gọi là đám mang di, mọi rợ.
Hãy bắt đầu với nhà Tần.
Vong Tần Giả, Hổ Giã
Dịch ra có nghĩa, nhà Tần mất là do hổ.
Cầu sấm chuyển này đã để lại cho nhân loạn một trong những kỳ quan vĩ đạng nhất trong lịch sử loài người.
Tần Thủy Hoàng tưởng rằng chữ hổ là chỉ giống rợ hổ ở Phương Bắc.
Đèn huy động quân lính và hàng chục vạn dân phu đắp thành xây lũy trải ra từ phía Bắc để phóng ngự.
Dù người làm mất nhà Tần, hóa ra lại là Thái tử Hổ Hợi,
di sản mà vị Hoàng đế Thống nhất Trung Quốc để lại, cũng đã đặt nền móng cho vạn lý trưởng thành sau này.
Ngược lên trước đó vài trăm năm,
triều đại Thống nhất trước nhà Tần là nhà Chu cũng sụp đổ vì giặc Phương Bắc.
Chỉ vì một tiếng cười của mỹ nhân bao tự, Chu U Vương đã gây nội loạn trong triều,
tạo cơ hội cho tộc Quyển Nhung tràn vào Trung Nguyên.
Thời Đông Chu Liệt Quốc phân mạnh đất nước Trung Hoa bắt đầu từ đó.
Sau nhà Tần, kẻ địch Phương Bắc còn xuất hiện đều đặn và mạnh mẽ hơn,
tạo nên mối đe dọa thường trực với hán tộc.
Quá nửa số vua chúa của Nam Bắc Triều trong thế kỷ thứ 5, thứ 7
mang dòng máu di địch như Hùng Nô hay Tiên Ti.
An Lộc Sơn, người phá tan sự nghiệp sáng lạng của đường Minh Hoàng, cũng là một người gốc hồ.
Nhà đường sụp đổ tới thời đại Ngũ Đại Thập Quốc trong thế kỷ thứ 10,
tựa như loạn mấy hai sư quân của Việt Nam.
Lại một lần nữa, nhiều vị quân vương trong số đó xuất thân từ những tộc ít người như Sa Đà.
Triều đại thống nhất tiếp theo của Trung Hoa, đời Tống,
tuy không sớm mất nước, thế nhưng cũng đã để lại lịch sử những giọt nước mắt hoàng gia hiếm có.
Khởi đầu là nước Liêu của người Khía Đan.
Sau thất bại trong cuộc chiến với nước này, hoàng đế nhà Tống đã phải ký hòa ước
cống nạp vàng lụa trong ngọc hàng năm phải gọi vua Liêu là anh, sưng em.
Khi Liêu suy yếu, Tống nhân cơ hội hợp sức với nước kim của tộc Nữ Trân để diệt Liêu,
để rồi phải thay nơi nhận cống nạp từ Liêu sang Kim.
Các vua Tống thì lại có thêm một ông bác mới, đó là vua Kim.
Đối phó không lại với sự chẻn ép bắt nạp từ phương Bắc,
Tể tướng Vương An Thạch đã cố gắng tìm kiếm một chiến thắng nhỏ để tạo đà lập công lớn.
Mà cái đích chính là nước Đại Việt nhỏ bé của người Nam An.
Trai với tính toán của nhà cả cách để tham vọng họ vương.
Đạo quân Tống trinh phản Đại Việt đã thất bại thảm hại.
Đưa lại một bài thơ bất hủ bằng tên Nam Quốc Sơn Hà.
Đường lố đối ngoại yếu ớt cam trị của nhà Tống cũng không cứu được họ trước loại thuốc diệt cỏ bằng vó ngựa của người Mông Cổ.
Với câu nói bất hủ, vó ngựa Mông Cổ lướt tới đâu, cỏ ở đó không thể mọc nổi.
Nhà Tống sụp đổ, đời Trung Hoa nằm dưới yên cương của người Mông Cổ.
Người Hán đã phải nằm dưới đáy của xã hội trong gần 100 năm.
Nhà Minh, chơi đại người Hán giành lại độc lập, đã gia cố và kiến tạo trưởng thành, mang hình hải như ngày hôm nay.
Những nỗ lực hoành tráng này của họ tỏ ra vô dụng trước sự thiện chiến từ phương Bắc.
Trung Hoa một lần nữa lại nằm trong bản tay sắt của một tộc người quen thuộc, vốn trước đây từng lập ra nước kim.
Chiều mãn thanh do tộc nữ trân cạo đầu, róc bím đã dựng lên.
Chớ chêu thay lại là chiều đại phong kiến cuối cùng trước thờ Cộng Hòa của Trung Hoa Dân Quốc.
Như vậy, trong xuyên suốt lịch sử phong kiến Trung Quốc, họ đều có những mối họa đến từ phương Bắc đẻ nặng trên vai.
Hai lần mất nước, khi người Mông Cổ xoán ngôi Nhà Tống lập ra Nhà Nguyên.
Người nữ trân thì xoán ngôi Nhà Minh lập ra Nhà Thành.
Vậy nhưng, địa chế Mông Cổ được xem là hùng mạnh bậc nhất nhì trong lịch sử của thế giới.
Lại chỉ có thể ca trị được Trung Quốc trong chưa đẩy 100 năm.
Còn người nữ trân thì lại ca trị người Hán trong suốt gần 300 năm.
Vậy thì tại sao một người nữ trân lại làm được điều này?
Hãy cùng xem tiếp phần sau của video để đến với từng nguyên nhân một nhé!
Ca trị đại bàng
Đầu tiên, nó là cách đối xử với người Hán.
Quay trở lại với những ngày tháng khi Thành Cát Tư Hán mới đặt những vó ngựa đầu tiên trên đất của người Hán.
Hai đại thần là Gia Luật Sở Tài và Mộc Hoa Lê đã xúc tiến Hán Pháp để duy trì chế độ phép tắc của người Hán.
Thế nhưng, một cận thần khi đó là Biệt Điệt kiến nhị trục xuất người Hán,
đồng thời biến Trung Nguyên thành Đại Mục Trường để thu lấy của cải.
Sau điều này, đã bị Gia Luật Sở Tài kịch liệt phản đối.
Ông nhận định là có thể dùng phương thức trưng thu thuế để có được của cải.
Do đó thì sẽ bảo lưu chế độ phép tắc của Hán Điện.
Các con lại của người Hán, luật pháp, chế độ thuê má, v.v.
tại những vùng đất mà Thành Cát Tư Hán vừa chiếm được của người Tống vẫn sẽ được giữ nguyên.
Thế nhưng, đến đời của hốt tất liệt, sau cuộc phản loạn lý thản,
thì Nguyên Thế Tổ đã dần dần không sử dụng người Hán cho bộ máy
và sau đó thì đặt họ dưới bộ máy kìm kẹp cực kỳ hạ khắc.
Trường Nguyên liệt người Hán vào đẳng cấp tiện dân thấp nhất trong thời kỳ đầu nhà Nguyên thống trị,
đem toàn bộ dân chúng trong nước chia thành 4 đẳng cấp.
Trong đó người Mông Cổ là nhất đẳng, các cư dân Tây Vực là nhị đẳng,
người Hán trong lãnh thổ nước kìm, người Khiết Đan, người Nữ Trân là tam đẳng.
Còn đa bộ phận người dân từ sông Hoàng Hà trở về phía nam liệt vào dạng nam nhân tứ đẳng,
tức là người Hán bị đặt ở đáy của xã hội.
Và đây chính là nguồn nhân cốt lõi dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của nhà Nguyên.
Sự cai trị hạ khắc đã khiến cho các cuộc nổi dậy của người Hán ở phương nam diễn ra liên miên.
Cho đến năm 1368, Trùng Nguyên Trương sau khi lập nên nhà Minh đã phái Đại tướng Tử Đạt dẫn quân Bắc Phạc công hám Đại Đô.
Nhà Nguyên nói riêng và đế quốc Mông Cổ nói chung đã sụp đổ sau chưa đầy 100 năm.
Sự sụp đổ và xa lầm này của nhà Nguyên chính là bài học để nhà Thanh sau này tránh né.
Và nhà Thanh đã làm tốt hợp hẳn.
Vì vốn xuất phát từ một dân tộc thiểu số,
nên chủ đạo nhà Thanh đã cố gắng củng cố bộ máy quản lý hòa bình đối với toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc,
hòa nhập và hòa hợp với các văn hóa dân tộc thiểu số, với văn hóa của người Hán.
Họ cũng rất biết cách vỗ về những người Hán.
Những người Hán mà có đóng góp cho người mãn thì cũng đều được trọng vọng.
Ví dụ như những tương lĩnh nhà Minh, đầu hai nhà Thanh trước đây,
được lựa chọn theo mức độ đóng góp và việc thành lập nhà Thanh,
sẽ được phòng tước, trở thành những lãnh chúa và được quyền cai quản những vùng đất của Việt Nam Trung Quốc.
Đó là những vùng đất rộng lớn.
Người đứng đầu trong số này thì có Ngô Tam Quế, được trao quản lý các tỉnh Vân Nam và Quý Châu.
Trong khi đó, những vị tương khác như là Thượng Khả Hỷ và Cảnh Trọng Minh
được cai quản các tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến.
Ba người này được gọi chung là Tam Phiên.
Và sau đó, đoạn Tam Phiên nổ ra khi mà những người này đã nổ lên chống đoạn triều đình nhà Thanh.
Tất nhiên, không có gì là tuyệt đối, hòa hợp dân tộc là một phần.
Nhưng trong cái hòa hợp đó, người mãn vẫn được đánh giá cao hơn và họ cai trị theo kiểu vừa đấm vừa xoa.
Các bạn cứ nhìn vào kiểu tóc đôi xam là sẽ hiểu cách họ khiến người Hán khiếp đạng như thế nào.
Trong khi người Hán thì thường để kiểu tóc búi hoặc là tóc dài chia sang hai bên,
nhà Thanh muốn họ để tóc đôi xam.
Họ đã giao đệnh để tóc thì mất đầu, để đầu thì mất tóc.
Và đương nhiên là ai thì cũng muốn sống cả.
Và thế là kiểu tóc đôi xam chứ danh đã ra đời sau đó.
Đây được coi là một trong những hành động cho thấy tham vọng muốn đồng hóa dân tộc Hán của người mãn.
Trước kỷ luật thép của nhà Thanh, kiểu tóc này đã dần trở thành phổ biến cho dân chúng.
Ai ai cũng phải để đôi xam miễn là đàn ông.
Rõ ràng, nhà Thanh đã nỗ lực tạo ra một ảnh hưởng văn hóa của người mãn với người Hán.
Thế nhưng, cho tới cuối cùng, kết quả thì lại ngược lại.
Họ đã chịu ảnh hưởng của nho giáo, chịu ảnh hưởng từ thi cử, chịu ảnh hưởng của thi ca,
chịu ảnh hưởng của nghệ thuật từ chính người Hán.
Nói không ngoa thì người Hán đã đồng hóa ngược lại người mãn.
Và dù ông vua kia, ông vua đang ngồi trên ngai vàng của tóc đôi xam là người mãn,
nhưng cả giang sơn thì vẫn là văn hóa, vẫn là truyền thống của người Hán.
Khi mà đã yên ổn được các dân tộc, hòa hợp được các dân tộc rồi,
nhà Thanh đã sinh ra một khái niệm đến bây giờ vẫn rất nổi tiếng, đó chính là khái niệm Trung Quốc.
Và khái niệm này là một khái niệm mang đầy tính hòa hợp.
Sau khi chinh phục được những mảnh đất của người Hán, cũng như các dân tộc thiểu số xung quanh,
người Thanh tự gọn nước của họ là Trung Quốc.
Các hoàng đế nhà Thanh tuyên bố rằng cả người Hán và những người không phải là người Hán
đều là một phần của cả đất nước Trung Quốc.
Tiếng Trung Quốc ở đây cũng được định nhớ là bao gồm cả tiếng Hán, tiếng mãn, tiếng mông cổ
và người Trung Quốc thì đề cập từ tất cả các dân tộc trong quốc gia của họ.
Nói chung là họ để cho người Hán thấy dễ thở hơn so với thời nhà Nguyên.
Vấn đề thứ 2 là thi cử.
Trong thời gian đầu ca trị, nhà Nguyên không tiến hành thi cử,
không thể đưa những người có học tức vào trong hệ thống ca trị của mình.
Trong thời kỳ nhà Nguyên thống trị, thời gian đầu từng không tổ chức khoa cử.
Do vậy, trong gần 100 năm tồn tại, trước sau tổng cộng,
chỉ tiến hành có 16 khoa thi, đã được 1139 tiến sĩ.
Số lượng người độ đạt như vậy so với số lượng người có học hành đồng đảo thì vẫn là quá ít.
Bởi thế, rất nhiều người đọc sách có tài năng không sao làm việc cho nhà Nguyên.
Những người Mông Cổ vốn quen đặt thiên hạ trên lưng ngựa,
không có sự giúp đỡ của các sĩ phu người Hán.
Cho nên, năng lực quản lý ca trị rất thấp là điều có thể thấy rõ.
Chính vì quyết định này của Nguyên Thế Thổ Hố Tất Liệt,
nên đội ngũ lãnh đạo cũng chỉ xứng người Mông Cổ ở vị trí tối cao.
Còn người Hán thì mặc nhiên bị gạt bỏ.
Điều này khiến con em Mông Cổ và Sắc Mục mất đi tính tích cực trong học tập,
và cả chi tiến thủ.
Đơn giản là vì khi họ sinh ra,
họ đã biết ngay mình sẽ được đặt luôn vào những vị trí cao trong hãng ngũ quản lại rồi,
chẳng việc gì phải cố nữa.
Ngược lại với nhà Nguyên,
chính sách căn bản của nhà Thanh quy định rằng việc chỉ định chức vụ
được phân chia giữa quý tộc Mãn Châu và quản lại nhà Hán.
Những người đã vượt qua các kỳ thi tuyển sinh ở mức độ cao nhất của nhà nước.
Tức là Mãn hay Hán muốn làm quản
còn không thì chỉ muôn đời là dân đen.
Nhà Thanh có một đặc trưng bởi một hệ thống chỉ định kép,
theo đó mỗi vị trí trong chính phủ trung ương
đều có một người Hán và một người Mãn Châu cùng quản lý.
Ví dụ, ở thời Hoàng đế Cản Lòng,
các thành viên của gia đình ông được phân biệt bởi một loại trang phục
với biểu tượng hình tròn ở phía sau lưng,
trong khi người Hán chỉ được mặc trang phục với một biểu tượng hình vuông.
Điều này có nghĩa là bất kỳ người lính nào trong cung
đều có thể dễ dàng phân biệt với các thành viên gia đình Hoàng gia
chỉ cần qua sự quan sát từ phía sau.
Tất nhiên là các Hoàng đế cũng không hoàn toàn tin tưởng vào người Hán
nên họ đã lập ra một cơ quan được gọi là quân cơ sứ,
một cơ quan chuyên trách các vấn đề quân sự và tình báo.
Sau này, nó đã chịu trách nhiệm giáo sát mọi bộ phận của chính phủ.
Các vị quản lý quân cơ sứ nắm luôn vai trò tể tướng
và đồng nhiên vị trí này là người mãn.
Điều này thì cũng khá giống với tam sưởng của nhà mình trước đó
chỉ thay đổi tộc người mà thôi.
Về cung cách quản lý, nhà Thanh chia chính quyền thành 6 bộ
gồm có lại bộ quản lý về nhân sự hành chính cho mọi chức vụ dân sự
gồm cả đánh giá, bổ dụng và thái hồi.
Thứ hai là hộ bộ, chịu trách nhiệm thu thuế
và quản lý tài chính cho chính phủ.
Thứ ba là lễ bộ, chịu trách nhiệm về mọi vấn đề
liên quan tới nghi thức lễ tân tại triều đình
gồm cả không chỉ những lễ thờ cúng tổ tiên, định kỳ
và nhiều vị thánh thần khác.
Ngoài ra, họ còn chịu trách nhiệm
cả về vấn đề tiếp đải các sứ đoàn
đến từ các nước khác tới nạp cống.
Binh bộ, nghe thì có vẻ oai khi nắm binh quyền
nhưng thực tế thì bộ này chỉ nắm các lộ quân địa phương
còn quân chính quy đương nhiên là do trực tiếp các hoàng đế
và những tương lĩnh người mãn nắm giữ.
Hình bộ, xử lý mọi vấn đề pháp luật
gồm cả giám sát các phiên xét xử và quản lý nhà tù.
Thứ sáu là công bộ, xử lý mọi sự án xây cất của triều đình
gồm các cung điện, đền đài và sửa chữa các đường thủy
cũng như các kênh tiêu lũ.
Họ cũng chịu trách nhiệm đúc tiền.
Như vậy, ta có thể thấy rằng người thanh
đã rút được rất nhiều bài học
từ sự sụp đổ của nhà Nguyên.
Họ vẫn cho người Hán tham gia vào một máy quản lại
thế nhưng luôn có một bộ máy kiểm soát khắt khe
đề phòng những người Hán này có ý đồ tạo phản.
Đồng thời, việc thi hành kỷ luật thép và chế độ đãi ngộ tốt
cũng khiến cho quan viên người Hán
dần mất đi động lực để phản lại.
Đúng là kiểu vừa đấm vừa xòa.
Và lý do thứ ba
đó là nhà Nguyên không có một chế độ thừa kế ngay vàng ổn định.
Ngôi vua thì luôn bị tranh giành.
Việc thừa kế ngôi vua luôn là một đại sự thời cổ đại.
Người Mông Cổ thì có một tập tục
khác hẳn với chế độ con trưởng
thì sẽ được kế thừa ngay vàng giống như người Hán.
Người Mông Cổ đã đem tuyệt đại bộ phận công nghiệp của người cha
truyền lại cho đứa con nhỏ nhất.
Tức là một vị đại hãn qua đời
con trưởng sẽ lên làm đại hãn tiếp theo
nhưng binh quyền thì sẽ rơi vào tay của con út.
Ví dụ, sau khi thành các từ hãn qua đời
Ua Khuất Đài lên nối ngô đại hãn
nhưng con út thì đã lôi
lại kế thừa tuyệt đại bộ phận binh lực của cả đế chế.
Đợi khi Ua Khuất Đài qua đời
gia tộc của Đà Lôi dựa vào binh hùng tướng mạnh
lật đổ quyền thống trị của gia tộc Ua Khuất Đài.
Đây cũng là một trong những căn nguyên
dẫn tới cuộc nội chiến Mông Cổ.
Sau khi hốt tất liệt thành lập trưởng Nguyên
vẫn chưa thể giải quyết xong vấn đề chế độ thừa kế
đây lại là một cái ung nhọt nước
dẫn tới sự xung đổ nhanh chóng của nhà Nguyên.
Kể từ năm 1295 đến năm 1368
tức là trong 73 năm
nhà Nguyên đã có tới 10 vị hoàng đế
tức là trung bình
mỗi vị nắm quyền chỉ được hơn 7 năm.
Một vương triều hỗn loạn như vậy
tự nhiên sẽ phải dùng tuyệt đại đa số tinh lực
vào cuộc đấu đá nội bộ mà thôi.
Chưa kể sau mỗi lần nội loạn như vậy
những người ngã số nhiều nhất
lại là những người cầm quân tinh nhuệ
tranh giành ngôi vị trong chủ nhân của mình.
Đến khi khởi nghĩa của Trung Yên Trương nổ ra
số tướng tài đa phần đã ngủ với run
binh lính thiện chiến phần nhiều cũng đã sanh cỏ
mà nội bộ nhà Nguyên thì vẫn còn lo đấu đá nhau.
Ăn đủ cả cú hat-trick này
Việt người Mông Cổ lượn sớm
cũng là điều dễ hiểu.
Ngược lại thì nhà Thanh đã tiếp thu
cách chuyển ra quyền lực của người Hán
đó là lập con trưởng nối ngôi.
Nói tới đây thì sẽ có nhiều bạn bảo rằng
chẳng phải nhà Thanh đã từng rất nổi tiếng
với cửu tử đoạt đích hay sao.
Đúng là vậy
nhưng quy mô của nó chỉ diễn ra trong cùng
đủ mọi thủ đoạn của các vị hoàng tử
dùng để triệt hạ lấn nhau
anh em mình
nhưng tuyệt nhiên không gây loạn tới thiên hạ
không động bình đào hay chia phe phải đánh nhau
mà không gây ảnh hưởng tiêu cực tới thiên hạ
thì dân chúng cũng chẳng hơi đâu mà quan tâm
không phải thời đoạn nào cũng làm được điều này.
Chẳng nói đâu xa
ngay tại thời đoạn trước đó mà thôi
tính nan tri biến đã quá nổi tiếng
khi tru đệ khởi bình
cướp ngô của cháu mình là tru dọn văn.
Như vậy thì ta có thể thấy rằng
nhà Thanh đã rút ra rất nhiều bài học
từ cách ca trị của nhà Nguyên
điều này đã rút trời đại của họ
kéo dài tới gần 300 năm
đúng là theo kiểu vừa đấm vừa xoa
họ không bao giờ quá bông lỏng người Hán
nhưng cũng không bao giờ siết chặt tới nỗi
để người Hán không còn không khí mà sống
hay như một câu nói
nếu để con chim ưng ăn no
nó sẽ bay đi
nếu để nó đói
nó sẽ quay lại cắn người
vậy nên
họ đã không cho con chim ưng ăn no
thế nhưng cũng không để nó chết đói
mà bắt nó phải vật độn
phục tùng để có cái lo dạ
