Toàn Cảnh Chiến Cục Đông Xuân 1954 Chiến Tranh Việt Nam Pháp

Xưa và Nay
1.3K người theo dõi
#Su9 #su9vietnam #dongxuan5354 #dienbienphu
Vệ Quốc Quân
Chiến cục Đông Xuân 1953 – 1954 là tên gọi để chỉ một chuỗi các cuộc tiến công chiến lược trên toàn chiến trường Đông Dương của lực lượng vũ trang Quân đội Nhân dân Việt Nam phối hợp với các lực lượng kháng chiến Lào, Campuchia trong chiến tranh Đông Dương.
Vệ quốc quân xin kính chào quý vị khán giả.
Sau những thất bại liên tiếp ở Chiến dịch Hòa bình năm 1951 và Chiến dịch Tây Bắc năm 1952,
địa bàn quân Pháp tại Đông Dương đã bị thu hẹp một cách chóng mặt.
Quân đội nhân dân Việt Nam lúc này đã giải phóng được nhiều khu vực rộng lớn ở Tây Nguyên,
khu 5, các tỉnh cao Bắc Lạc và nhiều khu vực ở Đông Bằng Bắc Bộ.
Thành công kiểm soát tới hơn 2 phần 3 lãnh thổ.
Các đơn vị phòng ngự lẫn tấn công cũng đều đã được tổ chức đến cấp sự đoạn,
sẵn sàng đánh mật quân Pháp khi chúng có ý định tái chiếm.
Ngày 7 tháng 5 năm 1953, tướng Henri Navarre được Pháp cử sang Đông Dương làm Tổng Chỉ huy Quân Viễn Trình Pháp.
Tủ tướng nước Pháp cho rằng việc viên đại tướng Navarre không hề biết chút gì về Đông Dương
sẽ là một lợi thế để ông ta nhìn vấn đề bằng một cặp mắt mới mẻ.
Pháp đang bị kẹt trong một ngõ cụt và quân Pháp đang phải loay hoay tìm một lối thoát danh dự trước quân Việt Nam.
Sau hơn một tháng đến thăm và khảo sát cục diện ở Đông Dương thì ngày 24 tháng 7 năm 1953,
Navarre quay trở lại Pháp và trình bày kế hoạch tấn công trước Hội đồng Quốc phòng do Tổng thống Pháp chủ tọa.
Kế hoạch quân sự Navarre từ đó được ra đổi.
Kế hoạch Navarre được chia làm hai bước.
Bước thứ nhất, trong giai đoạn thu đông năm 1953 và xuân năm 1954,
sẽ giữ thế phòng ngựa ở miền Bắc, tập trung một lực lượng cơ động lớn ở Đông băng Bắc Bộ
để đối phó với cuộc tiến công của quân đội nhân dân Việt Nam.
Sau đó sẽ thực hiện tiến công chiến lược ở miền Nam nhằm chiếm đóng ba tỉnh ở Đông băng Liên Khu Năm,
đồng thời đẩy mạnh việc mở rộng lực lượng bản địa hỗ trợ là quân đội quốc gia Việt Nam
và xây dựng một đội quân cơ động lớn đủ sức đánh bại các đại đoàn chủ lực Việt Minh.
Bước thứ hai, từ thu đông năm 1954, sau khi đã hoàn thành những mục tiêu ở bước thứ nhất
thì sẽ dồn toàn lực ra Bắc chuyển sang tiến công chiến lược trên chiến trường chính
dành thắng lợi lớn về quân sự buộc Việt Minh phải chấp nhận điều đỉnh theo những điều kiện của Pháp.
Nếu khức tử, quân cơ động chiến lược của Pháp sẽ tập trung mọi nỗ lực
loại trừ chủ lực quân đội nhân dân Việt Nam.
Về cơ bản, kế hoạch Navarre vẫn đi theo lối mòn
đó là dùng một lực lượng lớn để áp đảo quân Việt Nam.
Nhưng theo một số một tin thì từ tháng 9 năm 1953
Bộ Tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam đã nhận được một bản sao kế hoạch Navarre do Liên Xô cung cấp.
Và để đáp trả lại kế hoạch Navarre, quân đội nhân dân Việt Nam dự định sẽ mở một loạt chiến dịch
tại nhiều vùng để phân tán binh lực địch, không cho quân Pháp co cụm,
tạo thành một lực lượng cơ động đủ mạnh để xoay chuyển tình thế.
Trong cuộc họp vào cuối tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết
địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh.
Không sợ, ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn.
Lực lượng cụ thể hai biến úc này như sau.
Về bộ binh, Pháp có 267 tiểu đoàn.
Về pháo binh, Pháp có 25 tiểu đoàn, quân bản địa có 8 tiểu đoàn.
Về cơ giới, Pháp có 10 trung đoàn, 6 tiểu đoàn và 10 đại đội.
Quân bản địa có 1 trung đoàn và 7 đại đội.
Về không quân, Pháp có 580 máy bay, quân bản địa có 25 máy bay thám thính và liên lạc.
Về hải quân, Pháp có 391 tàu, quân bản địa có 104 tàu loại nhỏ và 8 tàu người lôi.
Trong khi đó, lực lượng của quân đội Việt Nam vẫn đơn thuần là bộ binh
gồm 6 đại đoàn, 18 trung đoàn và 19 tiểu đoàn.
Về pháo binh, Việt Nam có 2 trung đoàn, 8 tiểu đoàn và 4 đại đội.
Về phòng không, Việt Nam có 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn.
Tính theo số tiểu đoàn bộ binh, Việt Nam gấp tổng cộng 127 tiểu đoàn so với 267 tiểu đoàn của Pháp.
Biên chế mỗi tiểu đoàn của Việt Nam là 635 người, biên chế tiểu đoàn Pháp từ 800 đến 1.000 người.
So sánh lực lượng về quân số lúc này, Pháp đã vượt lên khá xa.
Tổng quân số của Pháp là 445.000 người, gồm 146.000 quân Âu Phi
và 299.000 quân đanh thuê bản xứ của quốc gia Việt Nam.
Tổng quân số của Quân đội Nhân dân Việt Nam là 252.000 người.
Như vậy, quân Pháp đông hơn 193.000 người.
Riêng quân đội đánh thuê bản xứ của quốc gia Việt Nam cũng đã đông hơn 47.000 người.
Bộ tổng tham minh Việt Nam chia làm các mũi tiến công như sau.
Mặt trận Tây Bắc và Thượng Lào sẽ là hướng chính, có đại đoàn 316 và trung đoàn 148 tham gia.
Tiếp đó là mặt trận Trung Du có từ 2 tới 3 đại đoàn và bộ đội địa phương.
Ở mặt trận Hướng Ngạn, Biên khu 3, Trung và Hạ Lào sẽ có 2 đại đoàn.
Trong đó, một bộ phận sẽ vào đánh địch hậu.
Ở mặt trận Tây Nguyên, lại có các trung đoàn chủ lực của Liên khu 5 phụ trách
sẽ chiếm bàn đạp Bắc Tây Nguyên, phá kế hoạch củng cố và bình định Nam Việt Nam của Pháp.
Dựa theo một loạt các mặt trận kể trên, quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ đẩy mạnh chiến tranh du kích
và buộc Pháp phải căng mỏng lực lượng đối phó.
Cuộc chiến nổ ra vào trung tuần tháng 11 năm 1953.
Ở trên hướng Tây Bắc và Thượng Lào, theo kế hoạch,
đại đoàn 316 đã từ địa điểm Chú Quân tại Thanh Hóa tiến lên Tây Bắc.
Ngày 6 tháng 12 năm 1953, quân Pháp được tiêm đại đoàn 316 Việt Nam
đã xuất hiện ở Tuần Giáo trực tiếp uy hiếp Lai Châu.
Ngày 7 tháng 12 năm 1953, quân Pháp giúp các tiểu đoàn đóng
ở thị xã Lai Châu chạy về địa ngân phủ bằng máy bay.
Lúc này, đại đoàn 316 chia thành 2 mũi tiên quân.
Một hướng tiến lên phía Bắc chiếm thị xã Lai Châu.
Một tiểu đoàn khác thì tạm dừng lại Tuần Giáo để phòng quân Pháp
nhảy dù tập kích phía sau và hậu phương trực tiếp của chiến dịch.
Đại bộ phận đơn vị lên đường tiến về con đường Lai Châu, địa ngân phủ.
Tối ngày 10 tháng 12 năm 1953, tiểu đoàn 439 tới Pà Hàm,
một đồn nhỏ cách thị xã Lai Châu, 32 km,
được tiên quân Pháp ở những vị trí chung quanh mới dồn về đây chừng 3 đại đội.
Nửa đêm, tiểu đoàn bắt đầu tiến công.
Quân Pháp cầm cự được nửa giờ rồi bỏ chạy.
Ngày 12 tháng 12 năm 1953, quân đội Nhân dân Việt Nam tiến vào trung tâm thị xã Lai Châu.
Cũng trong ngày này, đại đội 674 của tiểu đoàn 251 chung đoàn 174 Việt Nam tiến xuống Mường Phồn
vì phát hiện trong bản có nhiều quân Pháp từ Lai Châu rút về đang tập trung tại đây.
Đại đội lập tức tiến hành bao vây và nổ súng.
Quân Pháp có máy bay yểm trợ,
thì lực lượng đối phương ít kiên quyết xung phong để mở đường đi về địa biên phủ.
Sáng ngày 13 tháng 12 năm 1953, đại đội 674 bao vây Mường Phồn được đại đội 317 đến tiếp sức
mở đợt tiến công cuối cùng tiêu diệt toàn bộ quân Thái đóng ở Mường Phồn.
Buổi trưa ngày 13, binh đoàn không vận số 2 thì tiếng súng phía Mường Phồn ngưng lại.
Ngay sau đó, máy bay trinh sát báo tin những đơn vị địch ở đây đã bị phía ta tiêu diệt.
Từ chiều ngày 13 tháng 12 năm 1953, cuộc chi lùng quân Pháp đã diễn ra trên tất cả các hướng.
Đại đoàn 316 chia làm nhiều nhóm đuổi theo quân Pháp hàng trăm km đường dưỡng.
Suốt ngày đêm, kết hợp tiến công vừa kêu gọi đầu hàng.
Số hàng binh Thái cũng rất đông, nhiều hàng binh có cả gia đình.
Tổng kết hướng tân công chính sau 2 tuần, đội quân ô hợp của Pháp bị đánh bật khỏi Lai Châu.
Đại đoàn 316 đã tiêu diệt và làm tan giã tới 25 đại đội thui nhiều vũ khí, quân trang và quân dụng.
Ở hướng tân công thứ 2, cũng từ cuối tháng 11 năm 1953, cùng với cuộc tiến quân lên tới Bắc,
thì một cánh quân khác của Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng lên đường tiến xuống Trung-Hạ Lào.
Lực lượng quân đội Việt Nam tiến vào Trung-Hạ Lào theo 3 đường.
Các trung đoàn 66-101, tiêu đoàn 274 thuộc trung đoàn 18 và đại đoàn bộ binh 325 hành quân theo tỉnh Lộ Nghệ An
vào Chu lễ-Hương Khề rồi vượt đeo quân và dốc Trẫm Trẹo sang Bắc Trung Lào.
Trung đoàn 18 theo quốc lộ 1 tới Kỳ Anh, vượt đeo móng gà sang Cổ Áng theo đường Ba Dền, U Bò tiến vào phía Bắc đường 9.
Từ đoàn 436 thuộc trung đoàn 101 theo đường Xuyên – Trường Sơn tiến thẳng xuống Hạ Lào.
Những cánh quân và hàng vạn dân công này trong lúc hành quân đã bị máy bay trinh sát Pháp phát hiện.
Quân Pháp sau đó đã bố trí sẵn 3 cụm phòng thủ nhằm bịp các cửa ngõ phê độc.
Một cụm ở khu vực Căm Cớt – Lạc Sao trên đường số 8, một cụm ở Nhòm Marát trên đường số 12 và một cụm ở Nậm Thun.
Bộ chỉ huy Liên quân Lào – Việt lên kế hoạch tiến công vào cụm cứ điểm phòng ngựa Then Chốt trên đường số 12 của quân Pháp.
Lực lượng sử dụng là 2 trung đoàn, trong đó trung đoàn 66 đánh cứ điểm Mụ Dạ, trung đoàn 101 phục kích đánh Việt trên đường số 12.
Tiếp đó, 2 đơn vị sẽ theo đường 12 đánh về Nhòm Marát để chiếm phía đông tỉnh Kham Muộn.
Và ở một hướng khác, một tiểu đoàn của trung đoàn 101 vào bộ đội Lào đánh Lạc Sao – Căm Cớt sau đó phát triển theo trục đường số 8 đánh xuống đường 12.
Ngày 20 tháng 12 năm 1953, các lực lượng Việt Nam chuẩn bị nổ súng tiến công cứ điểm Mụ Dạ mở màn chiến dịch.
Nhưng khi tới suết Nam On thì bắt sống được một đại ủy Pháp cùng với 4 lính Âu Phi thuộc cụm phòng thủ trên đường số 12.
Vì đại ủy này khai rằng, cách đây 4 hôm, tiểu đoàn cơ động Anjouri số 27 Pháp và một đại đội pháo 105 ly đắt từ Tha Khẹt – Nhòm Marát lên đây xây dựng thêm một cứ điểm ở khu vực cầu Kham Hè.
Ngoài ra, binh đoàn cơ động số 2 cũng mới thiết lập một sở chỉ huy ở gần cầu Khama trên đường số 12.
Đêm ngày 21 tháng 12 năm 1953, lực lượng Việt Nam chuyển sang tiến đánh Kham Hè.
Các vân đội hiệp đồng đúng theo kế hoạch, thọc sâu vào giữa đồn rồi tỏa rộng chia cắt quân Pháp, phương hợp trong đánh ra ngoài đánh vào.
Gần sáng, trận đánh kết thúc, hầu hết binh lính thuộc tiểu đoàn Anjouri số 27 và đại đội pháo 105 ly bị tiêu diệt.
Quân đội Việt Nam thu ở Kham Hè nhiều vũ khí, quân trang quân dụng, trong đó có 4 khẩu liệu pháo 105 ly nguyên vẹn cùng với 1.000 viên đạn pháo.
Đêm ngày 23 tháng 12 năm 1953, theo kế hoạch cũ, Trung đoàn 66 mở cuộc tiến công vào khu vực Then Chốt ở Trung Lào.
Cụng cơ điểm Mụ Dạ, Ba Trào, tìm thất thủ ở Kham Hè, Khama đã làm cho quân Pháp ở cả 2 nơi này rút chạy.
Cuộc công đồn biến thành truy kích.
Tiếp đó, một đơn vị Việt Nam tiến công lại sao, cam cớt, diệt một loạt vị trí dọn đường số 12, chiếm thị xã Nhomarat,
tiến vào Thà Khẹt, kiểm soát toàn tỉnh Kham Muộn với 40.000 km vuông và hàng chục vạn dân.
Phong tuyến Trung Lào của Pháp tàn vỡ, Đông Dương chính thức bị cắt đổi.
Lúc này, do nhận thất bại liên tiếp ở 2 mặt trận, chỉ huy Pháp đã buộc phải chuyển sang xây dựng Tập đoàn Cứ điểm Điện Biển.
Tới đầu tháng 1 năm 1954, tìm báo vệ cho biết đã có gần 11.000 quân Pháp án ngữ tại Long Trào.
Bộ chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng nhìn nhận trận điện Biên Phủ như cơ hội đánh tiêu diệt lớn,
tạo chiến thắng vang dội để từ đó chấm dứt kháng chiến trường kỷ
và đã chấp nhận thách thức của quân Pháp để tiến công Tập đoàn Cứ điểm Điện Biển Phủ.
Đến tháng 2 năm 1954, trong lúc bộ đội kéo pháo ra Điện Biển Phủ chuẩn bị một trận đánh quyết định với Pháp,
thì tương súng cũng bắt đầu nổ ở Bắc Tây Nguyên.
Tây Nguyên nằm ở Nam Trung Bộ, nối liền hai miền Việt Nam, tiếp ráp với Hạ Lào và Bắc Campuchia,
có vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất trên chiến trường Đông Dương.
Từ lâu, Tây Nguyên vẫn được quân Pháp coi là một hậu phương an toàn.
Quân đội nhân dân Việt Nam nhận định chừng nào Tây Nguyên còn bị Pháp khống chế
thì cục diện chiến đấu ở Nam Đông Dương còn khó được cải thiện
và nếu không sớm mở rộng vùng tự do về phía này
thì cũng khó giữ vững được các tỉnh ở Đông Bằng hiện nay đã chiến được.
Quân đội Việt Nam sau đó đã quyết định tập trung bộ đội chủ lực tiến công lên Tây Nguyên.
Cuộc tiến công ở Tây Nguyên dự kiến sẽ tiến hành theo hai bước.
Bước 1. Trên hướng chủ yếu sử dụng Trung đoàn 108 và liên đội đặc công diệt hai cứ điểm Măng Đen, Măng Bút
kéo quân cứu viện của Pháp từ Con Tùm ra cho Trung đoàn 803 đánh trên đường Công Trầy, Măng Đen.
Tiếp đó tiêu diệt Công Trầy, ưu hiếp thị xã Con Tùm, đánh quân cứu viện Pháp trên đường Con Tùm, Công Trầy.
Bước 2. Tiến công tiêu diệt hệ thống cứu điểm của Pháp từ Đắc Tô đến Đắc Lầy, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Bắc Con Tùm.
Trên hướng thư yếu của chiến dịch, đường 19 An Khề, Trung đoàn địa phương 120 cùng một tiểu đoàn chủ lực tiêu diệt các cứ điểm Cà Tưng,
Ba Bả, Cà Tú, các đường giao thông thu hút giam chân một bộ phận lực lượng của Pháp.
Đêm ngày 26 tháng 1 năm 1954, bộ đội nổ súng tiêu diệt các vị trí Cà Tung, Ba Bả, Cà Tú, Bút Bề.
Đêm hôm sau, 27 tháng 1, Trung đoàn 108 và tiểu đoàn Đặc Công tiến công 3 vị trí Măng Đen, Măng Bút, Công Trầy trong hệ thống phòng ngự Bắc Tây Nguyên.
Hai vị trí sau nhanh chóng bị diệt. Giang trận Măng Đen diễn ra rất quốc liệt.
Do đây là cứ điểm then chốt trong hệ thống phòng thủ Bắc Tây Nguyên.
Mỗi khu có những lô cốt bê tông nối liền với nhau bằng một hệ thống giao thông hào ngầm.
Xung quanh có hàng rào dây thép gai rộng từ 30 đến 90 mét. Ở giữa có cả một sân bay nhỏ.
Cuộc chiến đấu diễn ra rằng co suốt đêm. Đến 7 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1954, trận đánh mới kết thúc.
Chỉ sau một đêm, những cứ điểm mạnh trong hệ thống phòng ngự Bắc Tây Nguyên đã bị sàn phạm.
Đường và con tùm đã đề ngỏ. Bắc Tây Nguyên đứng trước nguy cơ tan vỡ trong khi quân Pháp không còn quân cư động để phản ứng lại.
Đến đầu tháng 2 năm 1954, bộ đội Việt Nam đã thành công chiếm thị xã Con Tùm, kiểm soát cả vùng Bắc Tây Nguyên.
Bộ đội liên khu 5 còn truy kích quân Pháp rút về Pleiku trên trạng đường dài 200 km, tiến đến sát đường 19.
Ngày 18 tháng 2 năm 1954, Trung đoàn 80 tiến công cứ điểm đắc đòa Nam Con Tùm 15 km, loại khỏi vòng chiến đấu 2 đại đội Pháp.
Cùng thời gian đó, đặc công tập kích vào các cơ sở kho tàng cơ quan chỉ huy Pháp trong thị xã Pleiku.
Chiến dịch kết thúc, quân đội Việt Nam đã kiểm soát một địa bàn chiến lược quan trọng ở Bắc Tây Nguyên rộng 16.000 km2
với 20 vạn dân, phá thế uy hiếp của Pháp đối với phía sau lưng các tỉnh Quảng Nam – Quảng Ngãi.
Vùng tự do từ ven biển Quảng Nam – Quảng Ngãi đến biên giới Việt Lào đã nối liền với vùng tây nam Boliven của nước Lào.
Trước tình hình Tây Nguyên bị uy hiếp nghiêm trọng, Navre buộc phải ra lệnh cho tạm ngừng chiến dịch ở Đông Bằng,
rút một số đơn vị lên tăng cường cho Pleiku và điều chỉnh lại lực lượng ở miền Nam, Trung Bộ.
Quân Pháp được bố trí thành hai khối lớn. Khối thứ nhất ở Tây Nguyên, 24 tiểu đoàn, có nhiệm vụ bảo vệ Pleiku.
Khối thứ hai ở Đông Bằng, 16 tiểu đoàn, bảo vệ thị xã Tuy Hòa.
Những vị trí mới chiêm đóng ở Phú Yên và làm lực lượng dương bị ở Nha Trang, Ninh Hòa.
Vậy là với cách bố trí mới này, kế hoạch Navre ban đầu đã chính thức phá sản.
Do một lực lượng lớn của Pháp đã bị quân Việt Nam xé nhò đội hình,
buộc Pháp phải chia quân vừa bảo vệ cho vùng rừng núi Tây Nguyên, vừa phải chiến đấu chống Việt Nam ở Đông Bằng, Duyên Hải, miền Trung.
Như vậy có thể nói, 9 trên 10 lực lượng trong tổng số 82 tiểu đoàn cơ động chiến lược và chiến thuật của Navre đã bị phân tán khi chiến đánh quyết định còn chưa nổ ra.
Những hoạt động trong giai đoạn Đông Xuân năm 1953 đến năm 1954 của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã làm đảo lộn thêm bố trí của Pháp trên các chiến trường,
thành công mở rộng vùng giải phóng tại Việt Nam và Lào thêm hàng chục ngàn km vùng,
tiếp tục phát triển ở nhiều hướng, đặc biệt là vùng địch hậu Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ.
Thời điểm này, kế hoạch Navre cũng đã chính thức phá sản.
Quân đội Nhân dân Việt Nam đã thành công ghiềm chân quân Pháp trên khắp các chiến trường,
đẩy quân Pháp đã lún sâu càng thêm sâu vào chiến trường Đông Xuân, kịch quệ về sách lượng, tài chính lẫn nhân lượng.
Lúc này, tướng Navre cũng không còn đủ sức để cứu nguy cho trung tâm đầu não Điện Biên Phủ nếu nó bị bảo vệ.
Do đó, tất cả đều đã chín mùi cho trận đánh quyết định của Quân đội Nhân dân Việt Nam
vào tập đoàn cứ điểm thèn trốt còn lại của quân Pháp tại Đông Dường.
Cứ điểm của Pháp ở Điện Biên Phủ sẽ là một trôn thây cho danh dự của nước Pháp,
cũng như sẽ đánh dấu mốc đi vào lịch sử Pháp khi nước này chính thức bị đa văng khỏi Đông Dường.
