Bạn có TIN RẰNG Trời Cao Thật Sự Định Đoạt VẬN MAY Của Con Người? Câu Chuyện Nhân Quả Cuộc Sống

Sống thuận tự nhiên
439 Người theo dõi
Trong cõi đời vô thường, phúc họa thường đi cùng nhau.
Hết thải đều có nhân duyên sâu kín.
Người ta bảo, thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo.
Nhưng mấy ai tin rằng chỉ một niệm giữ gìn ngay thẳng,
cũng có thể đổi thay cả vận mệnh.
Chuyện kể rằng, ở vùng quê Hàng Châu,
vào những năm thịnh trị Triều Càn Long,
có một chàng trai nghèo mang tên Vệ Khánh Sinh.
Từ tấm bé, số phận đã gieo cho anh một gánh nặng quá lớn.
Cha mẹ lần lượt qua đời khi anh mới mười mấy tuổi,
để lại cho anh chỉ vài mẫu ruộng cằn cối
và một căn nhà rột nát, gió lùa bốn phía.
Cái nghèo bùa vây khiến bữa cơm trong nhà thường chẳng có lấy hạt gạo trắng,
nồi canh thường loãng như nước lá,
chỉ có rau dại độn thêm mà cầm cự qua ngày.
Thế nhưng, dù cảnh đời khốn khó,
trong lòng chàng trai ấy vẫn cháy một ngọn lửa bền bỉ.
Khánh Sinh không cam chịu số phận.
Mỗi sớm tinh mơ đã ra đồng cày cấy,
nắng trang trang vẫn cấm cúi làm việc,
mong vụ mùa tới có thể đủ ăn đủ mặc.
Khi nào còn chút thời gian rảnh,
anh lại tìm đến nhà địa chủ,
xin làm thêm việc nặng nhọc,
dọn dẹp, khiêng vác, cuốc đất, gánh nước,
việc gì cũng nhận,
miễn sao đổi được vài đồng tiền lẻ.
Mấy năm trời kiên trì như vậy,
anh mới gom góp được chút tiền,
dựng tạm mái ấm,
cưới vợ là chị Lý Thị.
Tuy cuộc sống vẫn nghèo khó,
bữa cơm vẫn đạm bạc,
nhưng trong nhà có thêm người thấu hiểu,
có đôi bàn tay chăm sóc lẫn nhau,
nghèo cũng thành ấm áp,
gian khó cũng hóa nhẹ nhàng.
Một buổi chiều sau khi làm thuê ở nhà phú ông,
Khánh sinh trong lòng thấy vui lạ,
bởi trong túi áo có mấy chục đồng công khó nhọc.
Anh nghĩ thầm hôm nay sẽ ghé chợ,
mua cho vợ ít bánh ngọt mang về,
để nàng cũng có chút niềm vui
sau bao ngày cơ cực.
Nào ngờ,
giữa đường lại gặp một thầy tướng số dâu dài,
ánh mắt sáng như sao,
mìm cười chặn đường.
Láo nói muốn gieo cho anh một quẻ.
Khánh sinh xua tay lia lia,
bảo rằng mình nghèo đến mức cơm chẳng đủ ăn,
lấy đâu tiền mà trả.
Nhưng vị thầy ấy chỉ cười.
Không sao, hôm nay ta không lấy tiền,
chỉ thấy khí sắc của anh khác lạ,
muốn nhắc nhở anh một điều.
Dù trước kia khổ cực,
nhưng từ nay vận mệnh sẽ đổi thay.
Qua năm tới, vào tháng 6,
át có trời ban tài lộc,
phúc đức song toàn,
anh sẽ được hưởng an lạc bình yên cả đời.
Nghe vậy, khánh sinh tuy không tin hẳn,
nhưng trong lòng lại thấy ấm áp,
như có ánh sáng chiếu dõi.
Lời nói kia như ngọn đuốc thắp lên
hy vọng trong cảnh tối tâm.
Anh mìm cười, khóm lưng cảm tạ,
rồi nhất quyết rúi vào tay thầy tướng 20 đồng tiền,
coi như chút thành tâm.
Tối về, anh kể lại cho vợ nghe,
chị Lý Thị vừa cười vừa trách chồng.
Tiền thì ít ỏi,
lại còn tiêu cho những chuyện vu vơ.
Khánh sinh đỏ mặt,
thề rằng mình không hề bịa đặt.
Nếu nói dối,
thì ra đường sẽ ngã ngay lập tức.
Thấy chồng nghiêm túc,
Lý Thị cũng thôi không trách nữa,
chỉ thầm nghĩ, biết đâu một ngày nào đó,
trời thương mà đổi thay số phận.
Từ đêm ấy, trong căn nhà nghèo rách ấy,
vẫn có tiếng cười rộn rã,
vẫn có giấc mơ giản dị
về một ngày được sống đủ đầy, ấm êm.
Năm ấy, dường như vận số thực sự có chuyển biến,
ruộng đồng của vệ khánh sinh
được mùa hơn hẳn so với mấy năm trước.
Lúa chịu bông,
kho thóc không còn trống rỗng,
gia đình cũng bớt đi cảnh đói kém.
Phú ông nơi anh làm thuê vốn,
thấy chàng trai cần mẫn,
không ngại nắng mưa.
Việc nặng nhọc gì cũng gánh vác hết lòng,
liền đem lòng quý mến.
Cuối năm, ông đặc biệt thưởng thêm
cho khánh sinh mấy sâu tiền đồng,
coi như khích lệ.
Trong lòng khánh sinh rộn rã niềm vùi,
anh ý đến lời thầy tướng số đã nói,
thấy có chút ứng nghiệm,
dù chỉ là khởi đầu,
nhưng vẫn là điềm lành.
Anh ôm số tiền về khoe với vợ,
cả hai nhìn nhau,
mắt ánh lên niềm hy vọng chưa từng có.
Thời gian thấm thoát,
chẳng mấy chốc đã sang năm mới.
Đến tháng 6, một buổi tối muộn,
khánh sinh bận việc đồng áng,
đến tận đêm mới về.
Trăng mở, đường quê tối ôm,
anh gánh cuốc trên vai,
dò dẫm từng bước.
Khi đi ngang một gò mộ cổ,
anh bỗng thấy có ánh sáng trắng
le lói phát ra từ phía sau mộ.
Lòng hiếu kỳ nổi lên,
anh tiến lại gần xem thử.
Quả nhiên có luồng sáng hắt ra từ đất.
Anh bèn cắm cuốc xuống,
hì hục đào bới.
Đào sâu đến chừng ba thước,
anh chạm vào một tấm đá dày.
Khánh sinh gồng mình nhắc lên,
dưới đó lộ ra một chiếc chùm cũ kĩ.
Bàn tay run run mở nắp,
ánh sáng lập tức lói lên.
Trước mắt anh là cả chùm đầy áp vàng bạc,
châu báo rực rỡ.
Tim anh đập thình thịch,
mồ hôi túa ra, chưa kịp vui mừng
thì bất chợt nhớ đến lời thầy tướng số năm trước.
Đến tháng sáu sẽ có trời ban tài lọc,
phúc lọc song toàn.
Anh ngậm nghĩ, kho báo này
do mình đào dưới đất, đâu phải trời ban.
Nếu cố lấy, chẳng khéo giức họa.
Ý niệm ấy vừa khởi,
anh lập tức đậy chùm lại,
cẩn thận lấp đất, xóa dấu vết,
rồi gánh cuốc trở về nhà.
Khi kể lại chuyện cho vợ nghe,
lý thị nghe xong thì hốt hoảng,
trách anh dại rột, nàng rậm chân,
giọng đầy tiếc nuối.
Cả đời chịu khổ, giờ trước mắt là cơ hội đổi đời.
Sao chàng lại bỏ qua?
Vàng bạc rõ ràng nằm ngay đó,
sao lại vùi lấp đi?
Khánh sinh nghe vậy liền nghiêm giọng,
đó không phải trời ban,
mà chỉ là thứ trôn trong đất, trái với ý trời.
Nếu tham lấy, e rằng
chuốc họa chẳng lành.
Vợ chồng đôi bên lời qua tiếng lại,
ai cũng giữ ý mình, cuối cùng đành tức giận,
quay lưng ngủ.
Nào ngờ trong đêm đó,
người hàng xóm tên Hồ Bách Tư,
vốn xưa nay chẳng ưa gì nhà Khánh sinh,
tình cờ nghe được đôi vợ chồng tranh cãi.
Ông ta nằm trên giường,
mắt sáng rực vì tham lam.
Ông cười khẩy, hắn thật ngu ngốc,
bỏ mặc vàng bạc, khác nào để ta hưởng lọc trời ban thay.
Nghĩ rồi,
Hồ Bách Tư lén lấy sẻng,
men theo bóng trăng tìm đến gò mổ.
Đúng như lời nghe lõm,
chỗ đất kia có dấu vết vừa đào lấp.
Láo đào vài nhát đã lôi được chùm lên.
Hơi thở gấp gáp,
tay run run mở nắp.
Nhưng vừa mở ra,
cảnh tượng trước mắt khiến lão kinh hãi tột cùng.
Thay vì châu báo,
trong chùm lại toàn là rắn độc nhiều màu,
đỏ, xanh, đen, vàng, cuộn tròn,
lè lưỡi, phì phì, ánh mắt ghê rợn.
Hồ Bách Tư hoàng sợ đến mức
suýt đánh rơi cả chùm,
sau đó biến sợ hãi thành quán hận,
cho rằng Khánh Sinh cố tình gài bẫy để hại mình.
Ý nghĩ ác độc bùng lên,
láo quyết định dùng chính chùm rắn ấy
để trả thù, đem về thả vào nhà Khánh Sinh.
Đêm ấy,
khi vợ chồng Khánh Sinh vừa chợp mắt
sau một hồi tranh cãi mệt mỏi,
Hồ Bách Tư đã ôm hũ rắn
độc lặng lẽ trèo lên mái nhà.
Hắn mang theo một chiếc thang gỗ
bước đi gión rén,
sợ đánh thức chó sủa hay ai phát hiện.
Khi đã lên đến nóc,
hắn nhẹ nhàng gỡ mấy viên ngói,
hé miệng chùm rồi hất mạnh.
Trong bóng tối,
những con rắn đen đỏ, xanh vàng, uốn lượn cuồn cuộn
tuôn xuống căn phòng nơi vợ chồng Khánh Sinh
đang ngủ.
Xong việc, hắn nhanh chóng lấp ngói lại,
ôm cái chùm rỗng, nhảy xuống,
trở về nhà trong lòng hà hê.
Nghĩ rằng chỉ cần một đêm thôi,
kẻ thù kia sẽ trúng độc mà mất mạng.
Nhưng nhân quả vốn chẳng sai lệch mải may.
Ngay khi chùm nghiêng đổ,
một điều kỳ diệu đã xảy ra.
Thay vì rắn độc phun phi phi
như lúc hắn mở nắp,
những gì rơi xuống giường đôi vợ chồng
lại lấp lánh ánh sáng vàng bạc.
Trong khoảnh khắc đó,
căn nhà tối ôm bỗng sáng rực,
ánh vàng, ánh bạc tràn ngập bốn bể.
Vàng nén, bạc trắng,
ngọc ngà châu báo đủ màu sắc
rơi là tạ phủ kín cả giường, cả nền đất.
Tiếng kim loại va chạm len keng
khiến Khánh Sinh và vợ giật mình tỉnh dậy.
Họ mở choang mắt,
nhìn quanh rồi sững sờ như lạc vào mộng cảnh.
Khánh Sinh còn ngờ ngỡ,
vội lấy tay cấu mạnh vào cánh tay mình,
đào nhói đến mức bật tiếng kêu,
mới dám tin rằng đây là thật.
Nước mắt trào ra anh run run ôm chặt lấy vợ.
Nàng ơi,
trời thương chúng ta rồi.
Đây chính là trời Ban Tài Lộc
mà thầy tướng từng nói,
không sai một lời.
Lý thị ôm ngực, tim đập loạn,
miệng há hốc chẳng thốt nên lời.
Bao năm khốn khó, chưa bao giờ nàng dám nghĩ
có ngày được thấy cảnh này.
Một lát sau, nàng lấy lại bình tĩnh,
khẽ dặn chồng nhỏ rộng.
Chớ làm ồn, kéo để hàng xóm biết thì sinh chuyện.
Máu cất dấu đi.
Hai vợ chồng vừa run vừa mừng,
hì hụp cả nửa đêm thu dọn số vàng bạc châu báo kia,
giấu kín trong một hầm đất
bí mật phía sau nhà.
Xong xuôi, họ ngồi thẫn thở,
tim vẫn đập dồn dập, ngón tay còn run run,
mắt nhìn nhau mà rưng rưng nước mắt.
Niềm vui đến quá đột ngột,
như giấc mơ mà hóa ra là thật.
Kể từ hôm đó,
cuộc sống của Khánh sinh đổi khác.
Có vốn liếng trong tay,
anh không sa đà vào hưởng thụ,
mà dùng nó làm vốn mở cửa hàng buôn bán.
Tính tình anh thật thà,
buôn bán trọng chữ tín,
ai nấy đều tin tưởng.
Nhờ vậy, chỉ vài năm ngắn ngủi,
cửa hiệu làm ăn phát đạt,
tiền bạc chất đầy,
danh tiếng lang khắp vùng.
Vợ chồng dọn đến căn nhà rộng lớn khang trang,
áo quần gấm vóc,
ăn uống dư giả,
nhưng vẫn giữ lối sống hiền hòa, không kiêu căng.
Lời hứa ngày nào Khánh sinh đã giữ chọn,
mua đủ vàng bạc, trang sức đẹp nhất cho vợ,
sắm sửa mọi thứ nàng từng khao khát,
để nàng được nở may nở mặt.
Họ sống hòa thuận,
ấm êm, phú quý,
nhưng không quên ơn trời đất.
Người đời sau nhắc lại câu chuyện,
ai nấy đều không phục.
Người thì nói ấy là vận may,
người thì tin đó là trời thương kẻ lương thiện.
Kẻ biết giữ tâm ngay thẳng,
nên mới ban cho phúc báo.
Còn kẻ tham lam, ác ý như Hồ Bách Tư,
thì tự mình hại mình,
cuối cùng chỉ nhận lấy sợ hãi và oán khí,
chẳng được gì ngoài hận thù trong lòng.
Đúng như cổ nhân xưa dạy,
phúc họa vô mồn, duy nhân tự chiêu.
Con người ta sống trên đời,
điều gì thuộc về mình thì sẽ đến,
miễn cưỡng tranh giành cũng chỉ rước lấy tai họa.
Câu chuyện của vệ Khánh sinh lan ra khắp vùng,
ai nghe cũng lấy đó làm gương.
Người ta xuyết xoa khen ngợi,
bảo rằng chàng trai ấy được trời thương
vì biết giữ lòng ngay thẳng.
Vốn là một kẻ nghèo khó,
trải qua bao năm vất vả cày cuốc,
mà chẳng đủ cơm ăn áo mặc.
Vậy mà chỉ nhờ một niệm không tham lam,
chẳng nhận thứ của không phải mình,
cuối cùng lại nhận được phúc báo trời ban.
Phật dạy,
trong vô số kiếp,
nghiệp theo ta như bóng với hình,
không bao giờ rời bỏ.
Tham lam, oán hận chỉ khiến nghiệp xấu trồng
thêm nghiệp xấu.
Biết đủ, biết thiện lương,
mới mở ra cánh cửa phúc lành.
Vậy nên, câu chuyện của vệ Khánh Sinh
không chỉ là một tích xưa để nghe qua rồi bỏ,
mà là lời nhắc nhở sâu sắc
cho đời nay.
Ai trong chúng ta cũng từng đối diện với cám rỗ,
từng phải lựa chọn giữa lợi ích
trước mắt và sự ngay chính trong lòng.
Nếu biết giữ một niệm trong sáng,
một tâm hồn thiện lương,
thì phúc báo tự nhiên hội tụ,
vận may cũng sẽ tìm đến.
Còn nếu mở mắt vì tham,
hại người để lợi mình,
thì kết cục chẳng khác gì hồ bách tư
tự reo họa vào thân.
Cầu mong mỗi người khi nghe câu chuyện này
đều khắc ghi, sống thuận theo nhân quả,
reo hạt thiện lành trong từng lời nói,
việc làm, suy nghĩ.
Để mai sau, khi quả chín,
ta được hưởng trái ngọt an vui,
gia đình êm ấm, đời sống bình an.
Như trong Kinh Pháp cũ có câu
Ý dẫn đầu các Pháp,
ý làm chủ, ý tạo.
Nếu với ý ô nhiễm mà nói năng hay hành động,
khổ náo sẽ theo sau,
như bánh xe theo chân con vật kéo xe.
Nếu với ý thanh tịnh mà nói năng hay hành động,
an lạc sẽ theo sau,
như bóng không rời hình.
Câu chuyện kết lại,
những bài học thì còn vang vọng mãi.
Hãy giữ lòng ngay chính,
đừng tham lam, đừng reo án hận,
bởi tất cả những gì ta làm hôm nay
đều là hạt giống cho ngày mai.
Hãy chọn reo hạt thiện lành
để gặt trái ngọt hạnh phúc.
Quý vị nếu thấy câu chuyện này ý nghĩa,
xin hãy chia sẻ để nhiều người cùng soi giỏi.
Nhớ ấn theo dõi kênh
để đón nghe thêm những
mẫu chuyện nhân quả thấm đẫm trí tuệ Phật Pháp.
Nam Mô Bổn Sư Thích Cà,
Mâu Nị Phật
Cưới vợ nên chọn người xấu hay người đẹp?
Nhiều người cho rằng
cưới được vợ xinh mới nờ mai nở mặt.
Nhưng điều đó có thật sự đúng không?
Vào thời Minh Triều,
Niên Hiệu Hoàng Trị,
ở vùng ngô nhạc có một ngôi làng nhỏ tên Thanh Hà.
Phía tây làng có tiệm thuốc nhân tầm đường.
Chủ tiệm là Chu Minh Huyền,
một chàng trai trẻ khôi ngô tuấn tú.
Mày như vẽ, môi như son,
lại lanh lợi tháo vát,
giỏi ăn nói, biết buôn bán.
Người trong mười dặm tám thôn đều biết đến chàng
như một viên ngọc sáng chưa mãi.
Kể từ khi cha mất sớm,
một tay Minh Huyền đỡ đần mẹ
gánh vác tiệm thuốc ra chuyển.
Người ta đến xem bệnh, mua thuốc
hay đơn giản là tán chuyện
cũng vì mến cái tài và cái sắc của chàng.
Mỗi ngày, bà mối đến tìm,
đông như chảy hội,
chen trúc dẫm nát cả bậc thềm.
Thế nhưng Chu Minh Huyền vẫn rừng rưng,
chỉ tay vào bức tranh lạc thần
treo trên tường, cười mỉa.
Vợ ta phải như tiên giáng trần,
nếu không tuyệt sắc khuynh thành,
thà sống cô độc còn hơn bị nhốt
trong lồng sắt phàm trần.
Tiệm thuốc chỉ rộng vài gian,
nhưng vì lời nói ấy mà thiên hạ
chuyển tay nhau đến rôm giả.
Người thì ngưỡng mộ, người thì cười nhạo,
bảo Chu công tử mắt cao hơn chán,
mộng tưởng hảo huyền.
Năm ấy vừa sang tiết cốc vũ,
trời xuân xe lạnh.
Mẹ Chu ngán ngẩm, lưng còng hơn trước
vì sầu con trai mãi chẳng chịu yên về gia thất.
Cuối cùng, bà nhờ bà mối Vương,
người nổi tiếng, khéo miệng nhất vùng,
tìm giúp.
Bà Vương về báo tin, vẻ mặt hớn hở.
Ở ngõ Đậu Phủ phía Tây có cô Tô Tú Nương,
tuổi vừa đôi tám,
ra cảnh thanh bạch.
Dáng không mảnh mai như liễu,
mặt chẳng xinh như tranh,
nhưng tay khéo vô song, nấu ăn thì giỏi,
kiếm chỉ theo thùa đều tin xảo.
Quyền như mày, buông tiếng cười khẩy.
Chẳng phải là bà cô nhà quê sao,
tướng mạo không đẹp, lai lịch chẳng sang,
gạ về thì còn mặt mũi nào mà nhìn thiên hạ.
Chưa dứt lời,
mẹ Trang đã nhấc ống điếu gõ
vào mu bàn tay con một cái, rõ đau.
Mắt bà nheo lại,
con tưởng lấy vợ là để trưng bày chắc.
Lấy về là để xây dựng gia đình,
là nội trợ, là sinh con đẻ cái,
là hậu phương cho con dự nghiệp,
chứ không phải mỗi ngày ngồi ngắm tranh thở dài.
Chú Minh Huyền mặt đỏ tía tai,
nhưng không dám cãi lời mẹ.
Sau cùng chỉ cắn răng gật đầu,
miễn cưỡng đồng ý.
Đêm tân hôn, dưới ánh nến mờ hồng
và tiếng pháo còn vương trên mái ngói,
Tô Tú Nương bước vào phòng tân hôn,
khăn voan đỏ nhẹ buông như mây phủ.
Khi Trang bén lên,
gương mặt nàng hiện ra.
Không phải là tiên nữ trong tranh,
nhưng mang nét tròn đầy
như ánh trăng đầu tháng,
ánh mắt sâu thẳm như mặt hồ thu vừa làng sóng.
Không lộng lẫy rực rỡ,
nhưng dịu dàng đến tĩnh tâm,
nền ná đến an lòng.
Từ hôm đó, mỗi ngày nàng đều dậy
từ canh tư, sắc thuốc bổ thạo
cho mẹ chồng trước khi trời hứng sáng,
rồi lại vào tiệm sắp xếp dược liệu,
ghi chép đơn thuốc, lau dọn sạch sẽ
từ kệ gỗ đến mặt bàn.
Chưa đến 3 tháng, nhân tâm đường
đã trở nên đông đúc, tiếng lành đồn xa.
Bệnh nhân tìm đến
không chỉ vì y thuật của Chu Minh Huyền,
mà còn vì sự chăm sóc tận tâm
chú đáo của người vợ đứng phía sau.
Mẹ chồng vừa nhấp ngụm
canh dưỡng tâm vừa khen dối dít.
Con dâu ta, đúng là bồ tát
sống trong tiệm thuốc.
Nhưng trong lòng Chu Minh Huyền
vẫn chưa thật an ổn.
Mỗi lần có công tử áo gấm,
ngồi trên ngựa quý đến hiệu thuốc,
ánh mắt họ dừng lại nơi tô tú nương.
Không phải vì mê đắm,
mà vì sự thờ ơ, diễu cợt.
Đôi lần có kẻ treo gẹo,
vợ thế kia mà đứng quầy,
thật phá hỏng mỹ cảm của cả hiệu thuốc.
Những lời ấy như mũi kim
đâm vào lòng tự ái của chàng.
Một hôm rằm, nắng thu diệu nhẹ,
tô tú nương mang hộp cơm gỗ lim
đến tận bờ đá bên sông,
nơi Chu Minh Huyền đang cùng công tử Triệu,
con trai phú thương bán muối, trò chuyện.
Vừa trông thấy nạng,
Triệu công tử đã nheo mắt cười.
Chú Huynh thật có phúc,
thần tiên phương nào mà xuống nấu cơm thế?
Chu Minh Huyền thoáng biến sắc,
rồi cười gượng.
Chỉ là đầu bếp trong nhà thôi.
Nụ cười nơi khóe môi tô tú nương khựng lại.
Tay nàng khẽ run khi mở nắp hộp,
nhưng giọng vẫn nhẹ nhàng.
Canh vịt trần bì hôm nay hợp thời,
công tử không chê thì dùng thử một bát.
Công tử Triệu ăn xong cười lớn,
khen ngon rồi bỏ đi.
Tô tú nương chẳng hỏi,
chẳng nói thêm lời nào,
chỉ lặng lẽ bài bát đũa như thường.
Năm tháng dần trôi,
dưới bàn tay đảm đang của nàng,
tiệm thuốc được mở rộng,
từ một gian nhỏ thành ba tầng bề thế.
Nhưng khi công việc phát đạt,
thì lòng người bắt đầu sao động.
Chu Minh Huyền càng thành đạt,
càng thấy vợ mình quá mộc mạc.
Mỗi lần nàng bối tóc bằng cây trâm bạc cũ kỹ,
chàng lại nhớ đến vòng ngọc xanh biếc
mà nhậm diêu đeo.
Tiểu thư con nhà phú hổ,
ráng như liễu rủ, lời nói mềm như nhung.
Chiêu thường nuôi tới tiệm thuốc,
miệng cười duyên ráng.
Minh Huyền ca ca tài hoa như vậy,
sao lại để bị trói buộc bởi phụ nữ quê mùa?
Một câu ấy thôi,
đủ để làm dúng động lòng kiêu ngạo
chưa bao giờ nguôi của chàng.
Đến năm thứ ba, vào tiết xương ráng,
khi xương rơi trắng cả bậc cửa,
Chu Minh Huyền đặt mạnh xuống bàn
một tờ hư thư.
Mực còn chưa khô,
đã loang như máu trên giấy
tuyên thành vết loang không thể xóa.
Duyên ta và nàng đến đây là hết.
Nhậm diêu có của hồi môn
đủ giúp ta mở thêm ba hiệu thuốc
tại ưng thiên phủ.
Từ nay, tự lo lấy thân.
Tô tú nương đón lấy tờ giấy,
mắt lướt qua chữ hư như gươm cứa,
nhưng giọng nàng không run, không trách.
Nàng chỉ khẽ vuốt lên đôi uyên ương
theo bằng chỉ đỏ trên chiếc khăn tay
năm xưa, rồi nhẹ nhàng nói.
Lô thuốc thứ ba.
Nếu dùng đương quy nấu với rượu
thì sẽ không sinh hàn độc.
Chàng nhớ kỹ.
Ngày rước nhậm diêu, phố phường ngợp
trong ánh vàng kim, kiệu hoa như mây trôi
người người dõi theo mà trầm trồ
suýt soa. Cảnh tượng tựa như
một giấc mộng phú quý trăm năm.
Ban đầu, đúng là như mộng thật.
Nhậm diêu mang theo của hồi môn
đầy dương, vàng bạc, châu báo,
đất đai, ruộng vườn.
Hiệu thuốc mở rộng thêm ba chi nhánh,
khách ra vào nườm nượp.
Nhưng rồi giấc mộng cũng có ngày tỉnh.
Nhậm diêu không biết dược liệu,
chẳng phân biệt nổi hoàng kỳ với cam thảo.
Chỉ biết trang điểm mỗi ngày.
Điểm phấn tô môi từ giờ máu đến tận trưa.
Việc nhà không đụng tay,
tiệm thuốc không mang tới.
Mỗi khi khách khứa hỏi đến
đơn thuốc, nàng chỉ cười lặng lẽ,
rồi sai người đi gọi phù quân.
Một hôm, người kế toán mang sổ nợ đến,
nét mặt lo lắng. Khoản lỗ kéo dài,
hàng tồn chất đầy kho,
tiền nhập thuốc mới không đủ xoay vòng.
Trong lúc ấy, nhậm diêu vẫn ngồi
trong sành chính, tay cầm tách trả hoa cúc,
sai tì nữ thay bình hoa cầm tú cầu vừa héo.
Nàng cười nhạt.
Chuyện nhỏ như thế cũng phải để tướng công lo.
Phiền phức thật.
Chu Minh Huyền mím môi,
nhìn sổ đó mắt.
Để bù vào thâm hụt, chàng quyết định bán
lô nhân sâm xấy lưu huỳnh, hàng hạ phẩm.
Dưới mắt, thượng đẳng kỳ liên.
Thuốc ho quá hạn bị lột vỏ,
đóng lại bao mới,
bay ra quẩy.
Lương tâm, lúc đó, chỉ là cái bóng mờ
bị nhuộm bởi lòng tham và sĩ diện.
Mùa xuân năm gia tỉnh thứ tư,
ông Lý ở Trấn Bắc uống thuốc an thai
do nhân tâm đường kê, nửa đêm xuất huyết
ồ ạt. Con trai ông xách cả đơn thuốc
xông thẳng vào huyện nhé.
Quan huyện lập tức sai người đến
niêm phong tiệm, lệnh bắt điều trả.
Sáng đó, nhậm riêu đang thử
son môi ở phòng trong. Nghe tiếng
trống kêu gọi dân chúng tập trung, nàng
tái mặt, rồi lập tức thu dọn tư trang,
cho tiền tì nữ không thèm quái lại
một lần. Ta sớm đã biết cái tiệm
rách nát này không có tương lai.
Cha ta từng nói, không tiền
thì đừng mơ cửa quan.
Nói xong, nàng bước lên xe ngựa,
dứt áo quay lưng, bỏ đi không một lời
từ biệt. Tối hôm ấy,
trời đổ mưa giả dích.
Chú Minh Huyền sốt cao, mê man
bất tỉnh trên chiếc giường tổ tiên mối mọt.
Mọi người đã bỏ đi.
Cửa tiệm bị niêm phong, tiệm thuốc từng
rực rỡ ánh đèn, giờ chỉ còn là bóng tối
lạnh léo và mùi ẩm mục.
Khi tiếng cánh cửa gỗ vang lên
giữa đêm, một bóng người ngược sáng
bước vào, mang theo mùi hương quen thuộc
của Ngài Cứu và Bạc Hạ
là Tô Tú Nương.
Tóc nàng ướt đẫm vì sương,
áo dính bùn đất, tay vẫn ôm
túi rực liệu. Sao nàng lại đến?
Rọng tràng khàn đục, yếu ớt
như đất xét bị nung vỡ.
Tô Tú Nương đặt bó lá xuống, chậm
dãi thổi nguội bắt thuốc.
Làm thấy thuốc, không thể thấy người bệnh
mà không cứu. Suốt 49 ngày
sau đó, nàng ở lại căn nhà
lạnh léo ấy. Châm cứu điều huyết,
kê từng thang thuốc, canh từng
canh giờ theo nhịp chuyển tiết trời.
Khi sốt cao, nàng lấy khăn ấm lao trán.
Khi mê sảng, nàng thầm
tụng kinh an tâm. Ánh mắt
nàng vẫn dịu dàng, nhưng bên trong
là một sức mạnh lặng lẽ đến vững trái.
Đến khi Chu Minh Huyền
khỏi bệnh, hắn ngồi dậy,
nhìn dáng người gầy gò của Tô Tú Nương
bên bát thuốc còn bốc hơi.
Trong lòng như có nghìn kim châm.
Chàng nhớ đêm tân hôn
nàng gãy dây đàn trầm mặc.
Nhớ ngày mưa nàng dầm mình leo núi Hải Linh Chi
cứu người. Nhớ bao lần nàng bị chàng
hắt hủi vẫn lặng lẽ theo toa thuốc
chuẩn xác. Chàng quy xuống nền gạch lạnh.
Hai tay dập mạnh, mắt đỏ
hoe. Ta sai rồi.
Sai vì lấy ánh sáng phù phiếm
làm trăng sáng. Sai vì lấy
ngọc chai làm sỏi đá. Sai vì
đánh mất người duy nhất chịu cùng ta lội qua nước
đục. Tô Tú Nương
đỡ chàng dậy. Đôi mắt ngấn lệ
nhưng giọng vẫn vững vàng như cũ.
Nếu chàng còn muốn làm thầy thuốc
thiếp sẽ giúp chàng dựng lại nhân tâm đường.
Nhưng từ nay
hãy nhớ lấy dòng chữ treo trên biển hiệu
Tu Tâm Tích Thiện
Nhân Dược Chi Rẩn
Thế gian quý nhất không phải là
dung nhan như hoa sớm nở chiều tàn
mà là lòng tốt có thể cứu người
giữa cơn nguy. Ngày nay
trước hiệu thuốc nhân tâm đường
người ta vẫn thường thấy một người phụ nữ
búi tóc đơn sơ, áo vải
nhã nhặn, sắp dược liệu dưới mái hiên
Cạnh nàng một người
đàn ông nhiên mình ghi chép, chăm chú
như học trò mới vào nghề.
Mỗi khi ai đó hỏi về người vợ ấy
Chu Minh Huyền chỉ cười, lấy trầm ngọc xanh
cài lại tóc nàng, nói với
giọng trầm đầy tự hào.
Mùi hương từ cổ tay nàng mới là
thứ phấn son có thể lây động lòng
người suốt một đời.
Người đời hay mộng tưởng hoa lệ
nhưng đến cuối cùng cũng phải quay
về với mùi ngải cứu giữa mùa đông
Đắng nơi đầu lưỡi
nhưng cứu được người lúc khốn cùng
Và người phụ nữ từng bị gạt da như cho bụi
lại là người chắt chiêu từng viên thuốc
để cứu sống một linh hồn
đã từng mù lò vì chính tham vọng của mình.
Câu chuyện này
khiến ta ngộ ra một chân lý giản dị mà sâu xa
Hôn nhân không phải là
sự kết hợp của hai dung màu
mà là sự tương giao giữa hai tâm hồn có thiện căn
và hiểu nhau trong cốt tủy
Trong Phật Pháp, sắc là vô thường
Cái đẹp của da thịt như hoa sớm nở tối tàn
Chỉ có tâm là gốc
Đức là nền mới có thể trường tồn
vượt năm tháng
Chú Minh Huyền vì mê sắc mà đánh mất
Minh Châu cuối cùng mới tỉnh ngộ
giữa bể khổ do chính mình tạo ra
May mắn thay
Phước báo từ những thiện niệm quá khứ vẫn còn
Nên giữa lúc khốn cùng
Người vợ cú như Bồ Tát hóa thân
quay về không vì oán trách
mà vì từ bi cứu lấy một con người
đang xa đọa
Tô Tú Nương không chỉ là người vợ
mà còn là biểu tượng của nhẫn
của hỷ xả, của đức hạnh âm thầm
những phẩm chất mà người học Phật nên nói theo
Nàng không cần danh vị
không đòi công lao
chỉ hành thiện vô cầu làm tròn bồn phận
một cách vô ngã
Chính sự vô chấp ấy đã chuyển hóa
tâm thức mê mội của chồng
khiến một kẻ lạc đường quay đầu
Phật giải, tất cả các Pháp đều do tâm sinh
Nếu tâm hướng thiện
cảnh sẽ chuyển lành
Nếu tâm đầy si ái
thân sẽ gặt khổ đau
Hồ nhân cũng vậy, là nhân duyên, là cộng nghiệp
nhưng có bền lâu hay không
lại tùy ở tâm lượng của cả hai người
Mong rằng mỗi chúng ta
khi bước vào đời sống vợ chồng
đều giữ được tâm khiêm nhu và biết ơn
Đừng để cái nhìn nông cạn
đánh mất người bên cạnh
bởi trong biển đời vô thường
người thật lòng ở lại mới chính là phúc báo lớn nhất
Và hãy nhớ
không phải người đẹp mới là người đáng quý
mà là người khiến ta muốn sống thiện hơn mỗi ngày
