Chữ Khoa Đẩu: Văn tự nòng nọc bí ẩn của người Việt cổ?

Đình Sự
537 người theo dõi
Bí ẩn Chữ Khoa Đẩu là gì? Khám phá sự thật về loại "văn tự nòng nọc" đã thất truyền của người Việt cổ. Liệu cha ông ta đã có hệ thống chữ viết riêng rực rỡ từ trước thời Bắc thuộc và Hán Nôm?
Chữ Khoa Đẩu trông như thế nào và tại sao gọi là "chữ nòng nọc"?
Những bằng chứng khảo cổ (bãi đá cổ Sapa, di tích...) nói gì?
Tại sao loại văn tự này lại biến mất bí ẩn trong dòng chảy lịch sử?
Trong video này, tôi Việt Sử Ký Sự sẽ cùng bạn đi ngược dòng thời gian để truy tìm manh mối về một nền văn minh Lạc Việt có thể đã phát triển hơn chúng ta nghĩ rất nhiều.
#toiyeubinhduong #riviubinhduong #toiyeushenyun #vanhoatruyenthong
Đá, vốn, vô trì.
Nhưng nếu biết lắng nghe, đá sẽ kể cho ta nghe câu chuyện của ngàn năm trước.
Tại thùng lũng Mường Hoa, Sapa, hàng trăm tảng đá cổ nằm giải rác.
Khác khi những ký tự bỉ hiểm mà cho đến tận ngày nay,
chưa một nhà khoa học nào dám vỗ ngực khẳng định mình đã giải mã hoàn toàn.
Đó là những hình người rang tay?
Hình dụng bậc thang?
Hay đó là một thứ chữ viết đã thất truyền?
Sử sách thường dạy chúng ta rằng trước khi người Hán mang chữ Nho sang,
người Việt sống trong thời kỳ hồng hoang, chưa có chữ viết,
chỉ biết thất nút dây để ghi nhớ.
Rằng chúng ta là một dân tập có tiếng nói nhưng mù văn tự.
Nhưng hãy nhìn vào chiếc trống đồng Đông Sơn này.
Một nền văn minh rực rỡ, biết đúc đồng từ hàng ngàn năm trước,
biết tính toán thiên văn, biết làm lịch để cây lúa.
Liệu có thể chấp nhận việc không có lấy một ký tự nào để ghi chép?
Câu trả lời có thể đang nằm sâu dưới lớp bụi thời gian trong một cái tên đầy bí ẩn.
Chữ Khoa Đầu, mật mã của người Việt cổ.
Trong suốt hơn một ngàn năm Bắc thuộc và cả ngàn năm độc lập sau đó,
chữ Hán, và sau này là chữ Nôm, mượn hình Hán, được coi là văn tự chính thống duy nhất.
Chúng ta học sử ta, nhưng lại phải đọc qua lăng kính của sự tàu.
Và trong mắt các sử gia phong kiến phương Bắc thời bấy giờ,
các dân tộc phương Nam thường bị gọi bằng cái tên miệt thị, Nam Man,
nghĩa là những kẻ man di, mọi dợ, không có văn hóa, không có lễ nhạc,
và tất nhiên, không có chữ viết.
Quan điểm này đã ăn sâu vào tiềm thức của chính người Việt chúng ta qua nhiều thế hệ.
Chúng ta mặc nhiên thừa nhận rằng,
à, tổ tiên ta giỏi đánh giặc, giỏi trồng lúa,
nhưng văn trương chữ nghĩa thì phải đi vay mượn.
Nhưng sự thật có đơn giản như vậy không?
Hãy quay ngược thời gian về thời đại Hùng Vương.
Chúng ta có một nhà nước văn lang.
Chúng ta có hệ thống đê điều trị thủy.
Chúng ta có những bộ luật tục, dù là truyền miệng.
Và đặc biệt, kỹ thuật đúc chống đồng, đông sơn,
đã đạt đến trình độ thượng thừa mà ngay cả kỹ thuật hiện đại cũng khó lòng sao chép y hệt.
Các nhà dân tộc học trên thế giới đều thừa nhận một quy luật.
Khi một xã hội phát triển đến trình độ có nhà nước,
có sự phân công lao động phức tạp như nghề đúc đồng,
nhu cầu ghi chép và truyền tin là bắt buộc.
Không thể chỉ dùng trí nhỡ để truyền đạt công thức pha trộn hợp kim đồng, trì, thiếc, chính xác đến từng phần trăm.
Không thể chỉ dùng lời nói để quản lý 15 bộ của nước văn lang rộng lớn.
Phải có một hệ thống kỹ hiệu.
Phải có một loại chữ.
Vậy, nó đâu rồi?
Nó không biến mất.
Nó bị xóa sổ hoặc bị lãng quên.
Nhưng cái tên của nó thì vẫn còn văng vẳng trong các thư tịch cổ.
Một cái tên gợi hình và đầy bí hiểm.
Khoa đầu văn.
Chữ hình còn nòng nọc.
Để tìm lại chữ Việt cổ, chứa chiêu thay,
chúng ta lại phải tìm trong chính sử sách của người Trung Hoa,
những người đã từng cai trị và đồng hóa chúng ta.
Trong cuốn Thượng Thư,
một trong ngũ kinh của Nho Giáo,
Tại Thiên, Nhiêu Điển,
có chép lại câu chuyện về Sứ Giao Chỉ,
tức vùng đất của người Việt cổ.
Sách chép rằng,
vào thời Vua Nhiêu, khoảng hơn 2.000 năm trước Công Nguyên,
người Việt thường ở phương Nam
đã cử sứ giả đến Kinh Đô
dâng tặng một con rùa thần, thần quy,
sống ngàn năm.
Điều đặc biệt là,
trên lưng con rùa ấy có khắc chữ.
Và đó là loại chữ gì?
Sách ghi
Khoa đầu chi văn.
Nghĩa là
chữ hình còn nòng nọc.
Tại sao lại là nòng nọc?
Hãy nhìn vào văn hóa lúa nước.
Con ếch, con nhái, con nòng nọc
là những biểu tượng của mưa,
của sự sinh sôi nảy nở.
Tiếng ếch kêu, báo hiệu mưa về.
Hình tượng người nhái
xuất hiện dày đặc trên trống đồng.
Phải chăng,
người Việt cổ đã lấy chính những hình ảnh
quen thuộc nhất trong đời sống tâm linh của mình
để các điệu thành chữ viết?
Chưa hết,
trong Hậu Hán Thư,
phần nói về các dân tộc ngoại bang
cũng có những dòng mô tả về người,
di, người Việt.
Họ có lối viết chữ như sâu đo,
như nòng nọc bơi.
Vậy, tại sao loại chữ này lại biến mất?
Hãy đến với câu chuyện
của một nhân vật lịch sử gây nhiều tranh cãi,
Sĩ Nhiếp.
Sĩ Nhiếp,
người được sử sách phong kiến tôn xưng là
Nam Bang học Tổ,
ông Tổ của việc học Phương Nam.
Ông làm thái thú giao chỉ
vào cuối thời Đông Hán.
Công lao của ông là truyền bá chữ Hán,
dạy người Việt thi thư, lễ nghĩa
theo kiểu Trung Hoa.
Nhưng,
dưới một góc nhìn khác,
công cuộc truyền bá ấy
cũng chính là công cuộc
Để đọc tôn chữ Hán,
để dễ bề cai trị,
các di sản văn tự cũ,
thứ mà người ta gọi khinh miệt là
chữ nòng nọc,
chữ run dế
đã bị cấm lưu hành.
Những người biết chữ này
già đi và chết.
Lớp trẻ lớn lên
chỉ biết chữ Hán là con đường duy nhất
để tiến thân.
Chữ khoa đầu
dần rút lui khỏi các đô thị,
lùi sâu vào các bản làng hẻo lánh,
khắc lên đá, lên đồng.
Và cuối cùng,
trở thành những hoa văn trang trí vô nghĩa
trong mắt hậu thế.
Nhưng, lưới trời lồng lộng
tuy thưa mà khó lọt.
Sĩ nhiếp có thể đốt sách,
nhưng không thể đốt được đá,
không thể nung chảy hết đồng.
Sách vở có thể bị đốt,
bia miệng có thể bị tam sao thất bản.
Nhưng đá và đồng
thì không biết nói dối.
Chúng ta quay lại với Thung lũng Mưởng Hoa.
Năm 1925,
một nhà học giả người Pháp
tên là Victor Golubev
đã đến đây.
Ông xứng sờ trước những tảng đá
sen-stone khổng lồ,
khắc chẳng chịt những hình thù kỳ dị.
Có những hình vẽ ta dễ dàng nhận ra,
hình người, hình ruộng bậc thang,
hình nhà sàn.
Nhưng sen lẫn vào đó
là những ký hiệu vô cùng chiều tượng.
Chúng không giống hình vẽ tả thực.
Chúng có quy luật,
có sự lập lại,
có cấu trúc dòng, hàng.
Giáo sư Lê Trọng Khánh,
một trong những cây đại thụ
của ngành sự học Việt Nam,
sau nhiều năm nghiên cứu
đã đưa ra một giả thuyết chấn động.
Đó không phải là hoa văn trang trí.
Đó là chữ viết.
Ông cho rằng,
những cư dân Việt cổ
đã dùng đá
để ghi chép lại những sự kiện quan trọng,
hoặc đánh dấu lãnh thổ,
hoặc ghi lại các hiện tượng thiên văn.
Nếu so sánh những ký tự
trên bại đa Sapa
với những ký tự tìm thấy
trên dìu đá, bôn đá
của văn hóa Đông Sơn,
ta thấy có những sự trùng hợp
đến dùng mình.
Một hệ thống ký hiệu thống nhất
đã tồn tại,
trải dài từ vùng núi cao
Và bằng chứng hùng hồn nhất,
tinh xảo nhất
chính là đây,
trống đồng.
Người ta vẫn thường bảo nhau,
hoa văn trống đồng là để làm đẹp.
Nhưng hãy nhìn kỹ xem,
tại sao đàn chim lạc
luôn bay ngược chiều Kim Đồng Hồ?
Tại sao số lượng tia sáng mặt trời
ở tâm trống
lại thường là 8,
10,
12,
hoặc 14,
những con số tương ứng
với các chu kỳ vận động của thời gian,
của tháng,
của năm?
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng,
trống đồng không chỉ là nhạc khí,
nó là một cuốn bách khoa toàn thư bằng hình ảnh,
nó là bộ lịch của người Việt cổ.
Và những vòng tròn đồng tâm,
những hình người cách điệu kia,
rất có thể là một dạng văn tự thắt nút,
hoặc văn tự hình vẽ,
pictogram,
ở trình độ rất cao.
Ví dụ,
hình ảnh hai người dã gạo chảy đôi,
đó là tả thực,
hay đó là ký hiệu biểu trưng cho sự sinh sôi,
cho cặp phạm trù âm dương giao hòa.
Khi ghép các ký hiệu trên trống đồng lại với nhau,
các nhà nghiên cứu nhận thấy chúng có cấu trúc ngữ pháp,
giống như cách người Ai Cập cổ đại dùng chữ tượng hình
để ghi lại lịch sử các Pharaon.
Phải chăng,
chúng ta đã nhìn thấy chữ của tổ tiên suốt hàng ngàn năm qua,
sơ vào nó,
đánh vào nó,
nhưng lại không nhận ra nó?
Nếu những bằng chứng trên,
đá và đồng còn là những giả thuyết bỏ ngỏ,
thì hành trình của nhà giáo Đỗ Văn Xuyền
lại mang đến cho chúng ta những bằng chứng cụ thể,
Ông không phải là một giáo sư viện Hàn Lâm,
ông là một nhà giáo về hiu,
nhưng mang trong mình nỗi chăn trở cháy bỏng của cả một đời người.
Chẳng lẽ tổ tiên ta lại mù chữ?
Hơn nửa thế kỷ,
đôi chân của người thầy giáo ấy đã đi mòn vẹt những con đường mòn Tây Bắc.
Ông tìm đến những bảng mường hẻo lánh,
những vùng người Thái Đen, Thái Trắng sinh sống.
Tại sao lại là Tây Bắc?
Bởi vì khi quân xâm lược phương Bắc tràn súng đồng bằng,
đốt sách, cấm chữ,
thì những tàn dư cuối cùng của văn hóa Việt cổ
đã dạt về nơi rừng thiêng nước độc để lần trốn.
Và...
ông đã tìm thấy.
Trong những ngôi nhà sàn am khói,
các già làng đã cho ông xem những cuốn sách cổ.
Chữ trong đó không phải chữ Hán,
không phải chữ Nôm,
cũng không giống hoàn toàn chữ Thái hay chữ Lào hiện đại.
Người dân tộc gọi đó là chữ của tổ tiên,
là hỏa tự,
chữ hình ngọn lửa,
hay chữ phượng múa rồng bay.
Nhìn hình dáng của nó,
nghét cong, nét móc,
đầu to, đuôi nhỏ.
Trong nó giống hệt như những con nòng nọc đang bơi.
Đó chính là hình dáng của chữ khoa đầu
được miêu tả trong Sử sách Trung Hoa.
Nhưng điều kỳ diệu nhất không chỉ nằm ở hình dáng.
Sau hàng chục năm đối chiếu, so sánh,
nhà giáo Đỗ Văn Xuyền đã giải mã được quy luật của loại chữ này.
Ông phát hiện ra rằng
đây là một hệ thống chữ cái ghi âm,
chứ không phải chữ tượng hình như chữ Hán.
Nó có bộ chữ cái gồm 18 đến 20 ký tự cơ bản.
Có phụ âm, có nguyên âm.
Và đặc biệt, nó dùng để ghi lại tiếng Việt cổ,
thư tiếng nói đơn âm tiết,
rào thanh điệu của người Việt.
Thầy Xuyền đã làm một việc táo bảo.
Ông dùng bộ chữ cái mà ông phục dựng được
để đọc lại các văn bia cổ chưa ai giải mã được.
Và nó khớp.
Ông dùng nó để viết lại truyện kiều,
viết lại thơ lục bát.
Những vần thơ của Nguyễn Du
khi được viết bằng thứ chữ nòng nọc này
bỗng trở nên mềm mại,
tuyển chuyển như dòng bay phượng múa,
khác hẳn sự vung vức, khô cứng của chữ Hán.
Công trình của ông,
dù vẫn còn gây tranh cãi trong giới học thuật,
nhưng đã thắp lên một ngọn đuốc sáng dực
trong đêm tối của lịch sử.
Nó chứng minh một khả năng rất lớn.
Người Việt đã từng có chữ viết.
Loại chữ ấy không hề vai mượn của Hán tộc.
Nó được xây dựng dựa trên tư duy,
tiếng nói và tâm hồn của người Việt.
Một thứ chữ viết ghi âm tiên tiến hơn rất nhiều
so với chữ tượng hình rắc rối của phương Bắc thời bấy giờ.
Nếu chúng ta thực sự có chữ viết,
tại sao ngày nay không còn một văn bản hoàn trình nào
được lưu hành rộng rãi?
Tại sao nó trở thành bí ẩn?
Câu trả lời nằm ở hai chữ.
Đồng hóa.
Lịch sử dân tộc ta không chỉ là lịch sử
của những cuộc chiến chống ngoại xâm bảo vệ lãnh thổ,
mà còn là cuộc chiến âm thầm nhưng khốc liệt hơn gấp bội,
cuộc chiến bảo vệ văn hóa.
Suốt một nghìn năm Bắc thuộc,
các chiều đại phong kiến phương Bắc từ Hán, Đường đến Tống
đều thực hiện chính sách Hán hóa.
Nhưng đỉnh điểm của sự tàn khốc
phải kể đến sắc lệnh của Minh Thành Tổ
khi quân Minh xâm lược nước ta vào thế kỷ 15.
Sắc lệnh ghi rõ,
một mảnh giấy, một ngửa chữ, một tấm bia
của nước Nam đều phải thiêu hủy hết,
phải làm cho dân ấy không còn nhớ mình là ai.
Đây là một cuộc diệt chủng văn hóa có hệ thống.
Tất cả những gì ghi chép bằng chữ bản địa, khoa đầu,
bị coi là tà thư, bị tịch thu và đốt sạch.
Những người chí thức nắm giữ chữ viết
bị bắt về Trung Quốc hoặc bị sát hại.
Hệ thống giáo dục, thi cử hoàn toàn dùng chữ Hán.
Muốn làm quan, muốn vinh thân phì ra,
người Việt buộc phải học chữ Hán,
làm thơ đường, viết phù Hán.
Chữ khoa đầu, thứ chữ của Tổ tiên
dần trở nên vô dụng trong quủng máy chính trị
và hành chính đương thời.
Nó bị đẩy ra khỏi các kinh thành,
lùi dần về các vùng biên viễn,
nừng náo trong các nghi lễ cúng bái của Thầy Mo,
Thầy Cúng người Mường, người Thái,
để rồi dần dần tam sao thất bản
và trở thành những ký tự bí hiểm
mà con cháu đời sau nhìn vào không còn hiểu gì nữa.
Bên thành đó cũng phải nhìn nhận một thực tế khách quan.
Chữ Hán thời bấy giờ là văn tự của một đế chế hùng mạnh,
có hệ thống tinh điển đồ sộ.
Sự áp đảo của văn minh Hán đã khiến chữ bản địa,
vốn có thể còn sơ khai, chưa được chuẩn hóa cao,
bị lép vế và tự đào thải
Sự biến bất của chữ Khoa Đậu không phải vì nó không tồn tại,
mà vì nó là nạn nhân của một bi kịch lịch sử
kéo dài hàng thiên niên kỷ.
Chúng ta đã đi một hành trình dài,
tới những hoài nghi,
đến những manh mối trong sử sách,
những vết khắc trên đá
và những nỗ lực phục dựng của các nhà nghiên cứu tâm huyết.
Có thể chúng ta chưa tìm lại được trọn vẹn hình hài của chữ Khoa Đậu
như nó đã từng tồn tại huy hoàng thời Hương Vương.
Có thể, những tranh cãi học thuật sẽ còn kéo dài mãi.
Nhưng, có một điều không ai có thể chối cãi,
dân tộc Việt Nam là một dân tộc có văn hiến.
Dù chữ viết có thể bị mất,
bia đá có thể bị mòn,
nhưng tiếng Việt,
tiếng nói của cha ông thì vẫn còn đó.
Kẻ thù có thể bắt ta viết chữ Hán,
nhưng không thể bắt ta nói tiếng Hán.
Người Việt vẫn dùng cái vỏ chữ Hán để đọc theo âm Việt,
rồi sáng tạo ra chữ Nôm
và sau này là chữ quốc ngữ
để ghi lại tiếng nói của chính mình.
Việc đi tìm chữ Khoa Đậu hôm nay
không đơn thuần là công việc của khảo của học.
Đó là hành trình tìm lại lòng tự tôn dân tộc,
để chúng ta ngởng cao đầu mà nói với thế giới rằng
chúng tôi không phải là những kẻ man di,
chúng tôi là chủ nhân của một nền văn minh lúa nước rực rỡ,
có chữ viết,
có tri thức
và có bản sắc riêng biệt.
Những ký tự nòng nọc ấy,
dù đang nằm im lìm trên vách đá Sapa
hay ẩn hiện trong hoa văn chống đồng,
chúng vẫn đang âm thầm kể câu chuyện
về sức sống mãnh liệt của nói dống tiên dòng,
một sức sống không gì có thể hủy diệt được.
Hãy trân trọng tinh nói và chữ viết
mà chúng ta đang có hôm nay,
bởi đó là kết tinh của ngàn năm
giữ gìn bằng máu và nước mắt.
Cảm ơn các bạn đã cùng chúng tôi ngược dòng lịch sử
trong suốt 60 phút vừa qua
để giải mã bí ẩn lớn nhất của sự viết.
Bạn nghĩ sao về giả thuyết chữ Khoa Đậu?
Liệu những hình vẽ trên bãi đá cổ Sapa
có thực sự là chữ viết?
Hay bạn có thông tin nào khác về vấn đề này?
Đừng ngần ngại để lại quan điểm của bạn dưới phần bình luận.
Những tranh luận văn minh của các bạn
sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm lịch sử nước nhà.
Nếu thấy video này mang lại giá trị kiến thức bổ ích,
hãy dành tặng chúng tôi một nút like
và bấm đăng ký kênh.
Đừng quên nhấn chuông thông báo
để không bỏ lỡ những tập phim tài liệu công phu tiếp theo
về huyền sự Việt Nam.
Xin chào và hẹn gặp lại trong những hành trình khám phá tiếp theo.
