BO BO LÀ HẠT GÌ? VÌ SAO NGÀY XƯA PHẢI ĂN HẠT BO BO?

Tin Tức Bình Minh
543 Người theo dõi
#BlvHaiThanhplus #BLVHảiThanh #BLVhaiThanhStory
“Bo bo là gì và vì sao người Việt từng phải ăn loại hạt dùng cho… chăn nuôi? Một câu chuyện chân thật về thời bao cấp, về những bữa cơm độn bo bo và hành trình sinh tồn của cả một thế hệ. Video giải thích nguồn gốc, lý do bo bo xuất hiện trong mâm cơm người Việt và ý nghĩa lịch sử phía sau loại hạt từng cứu đói hàng triệu người.”
Ngày xưa khổ lắm phải ăn hạt bobo, bây giờ thì thấy bobo bán cả trong siêu thị.
Quả thật, mình không biết bobo là gì nên làm video này
bằng cách tổng hợp những thông tin từ các nguồn trên mạng.
Với thế hệ đã đi qua thời bao cấp, cái tên bobo không chỉ là một loại hạt
mà gần như là một biểu tượng của thiếu thốn.
Nó gắn với những bữa cơm với bếp lửa đượm khói, những nồi cơm độn,
những buổi tối cả gia đình quây quần quanh mâm cơm đơn sơ và các đèn dầu nho nhỏ.
Nói về bobo là nói về một thời kỳ mà lương thực mỗi ngày cũng là một nỗi lo mỗi ngày
và mỗi hạt bobo gần như là minh chứng cho khả năng chịu đựng và thích nghi của người Việt.
Hạt bobo là gì? Nó đến từ đâu?
Và vì sao lại xuất hiện trong mâm cơm của hàng triệu gia đình Việt Nam?
Bởi trong lịch sử Việt Nam, nói một cách sang thì lịch sử ẩm thực Việt Nam,
bobo là một trường hợp rất đặc biệt.
Một loại hạt lẽ ra dùng làm thức ăn chăn nuôi, thức ăn cho gia súc,
cuối cùng lại trở thành lương thực cứu đói cả một dân tộc đang trong lúc khó khăn.
Thực chất, bobo chính là cao lương, loại cây mà nông nghiệp thế giới xếp vào nhóm siêu triệu hạn.
Nhưng chắc không phải là cao lương trong cụm, cao lương mỹ vị của vua chúa ngày xưa.
Khác với lúa gạo chúng ta hay ăn, vốn cần nhiều nước, cao lương có thể sống tốt ở nhiều vùng đất khô cằn.
Điều đó khiến nó trở thành cây trồng chiến lược ở những nước như Liên Xô, Trung Quốc,
Ấn Độ, Ethiopia, nơi có nhiều vùng bán hoang mạc.
Nó không đẹp, không sang, không thơm như gạo, lúa mì hay yến mạch,
nhưng nó âm thầm tồn tại và nuôi sống hàng triệu con người trong hoàn cảnh mà các loại cây khác bỏ cuộc.
Nhìn bên ngoài, theo quan sát thì cây bobo trông khá giống cây ngô, thân cao, lá dài và xanh đậm.
Nhưng thay vì kết bắp, nó trổ ngọn thành một chùm hạt ly ti, mỗi hạt chỉ lớn hơn hạt đậu một tí.
Vỏ hạt cứng đến mức nếu rang lên rồi đập bằng chai gỗ, nhiều hạt vẫn còn y nguyên như xưa.
Chính điều này là lý do khiến bobo cực kỳ khó nấu chín
và hầu như không thể trở thành thức ăn dễ tiêu nếu không qua xử lý.
Trên thế giới, người ta chỉ ăn bobo sau khi đã xay nát,
thải bỏ lớp vỏ cứng, nghiền thành bột hoặc lên men để làm mềm.
Nhưng trong thời bao cấp ở Việt Nam, phần lớn bobo về đến tay người dân là hạt thô,
nguyên vỏ, đúng nghĩa là hạt nguyên bản.
Vậy hạt này đến Việt Nam bằng đường nào?
Câu chuyện bắt đầu từ bối cảnh sau năm 1975, đất nước thống nhất nhưng kinh tế khó khăn,
hạ tầng sản xuất bị tàn phá, ruộng đồng thiếu sức kéo, phân bón khăn hiếm, thiên tài liên tiếp,
cộng thêm quản lý theo mô hình bao cấp càng làm năng suất nông nghiệp suy giảm,
lương thực thiếu trầm trọng và để giải quyết nạn đói,
Việt Nam phải dựa nhiều vào viện trợ từ Liên Xô và các nước anh em.
Mà Liên Xô lại là một trong những vùng trồng bobo lớn nhất trên thế giới.
Trong những chuyến hàng gửi đến Việt Nam, bên cạnh sữa bột, thuốc men và lúa mạch,
những thứ rất quý, bobo là thứ được gửi nhiều nhất.
Các nước bạn trồng bobo ở quy mô lớn, giữ hàng triệu tấn để làm dự phòng chiến lược,
vì vậy khi Việt Nam thiếu, họ sẵn sàng chia sẻ.
Nhưng đây chính là điểm tạo ra giai thoại bobo Việt Nam.
Bobo viện trợ phần lớn là hạt thô chưa qua xử lý,
và đôi khi được đóng chung với lô hàng dành cho chăn nuôi.
Và thế là người Việt, trong hoàn cảnh không có lựa chọn nào tốt hơn,
bắt đầu làm quen với hạt bobo như một dạng lương thực bất đắc dĩ.
Những người từng sống ở miền Bắc, những năm 70, những năm 80,
chắc chắn không xa lạ gì những hạt bobo màu vàng xịn lẫn cả hạt lép,
hạt đen, đôi khi còn lẫn cả cọng dơm hay là mảnh bao đai.
Đó không phải là nguyên nhân do cô ý, mà do khâu vận chuyển và đóng gói thời đó còn hạn chế.
Nhưng điều quan trọng là hạt bobo có thể ăn được.
Quan trọng hơn nữa, nó giúp no bụng trong những tháng ngày rất khó khăn.
Việc chế biến bobo lại là một câu chuyện khác.
Do không được xay tách vỏ, hạt bobo nguyên bản cực kỳ khó nấu.
Mà ngày xưa thì làm gì có máy xay sát như bây giờ.
Người dân phải ngâm thật lâu, có nhà ngâm từ sáng đến chiều tối,
rồi nấu liên tục ở trên bếp củi.
Nhưng khi mở nồi ra, phần lớn hạt vẫn chỉ ở mức gọi là nứt nhẹ ở lớp vỏ,
bên trong vẫn cứng gần như đá.
Những gia đình may mắn còn chút gạo sẽ trộn với bobo vào nồi cơm
theo tỷ lệ 1 phần gạo, 1 phần bobo.
Hoặc tệ hơn nữa là 1 phần gạo và 3 phần bobo.
Khi nhai, hạt gạo mềm tạo cảm giác dễ chịu,
còn bobo thì lạo xạo vào trong miệng, âm thanh quen thuộc của cả một thế hệ.
Nhiều người lớn kể lại rằng, khi ăn cơm độn bobo,
cảm giác giống như ăn cơm trộn với hạt xoài.
Dù vậy lúc đó chẳng ai than phiền nhiều,
bởi vì đơn giản có cái để ăn đã là may lắm rồi,
đã là tốt lắm rồi.
Một số gia đình dã bobo thành bột để làm bánh,
nhưng do vỏ bobo quá cứng, dã một buổi có khi chỉ được một cái bát nhỏ.
Có người đem rang rồi nấu lên như cháo, nhưng mà nó vẫn cứng và dai.
Thế là cuối cùng, cách phổ biến nhất vẫn là độn với cơm,
thứ giúp làm trôi cái vị ngai ngái của bobo và tạo ra một cảm giác dễ nuốt.
Còn sản phẩm cuối cùng của quá trình tiêu hóa thì có lẽ không biết tả như thế nào.
Tuy bobo khó ăn thật, nhưng vai trò của nó trong giai đoạn đó không nhỏ chút nào.
Nó cung cấp năng lượng, tinh bột,
giúp người dân duy trì sức khỏe trong lúc sản lượng gạo không đủ đáp ứng nhu cầu toàn dân.
Đối với nhiều gia đình, bobo thực sự là một thứ cứu đói.
Nhờ có bobo cùng với khoai, sắn, ngô,
hàng triệu gia đình mới vượt qua được những năm tháng ăn theo tem phiểu.
Bobo, do chữ lượng dội giàu từ viện chợ, trở thành thứ được phân phối nhiều nhất.
Gọi là dội giàu, nhưng dội giàu trong cái khó khăn.
Và vì được phân phối nhiều, bobo trở thành một phần của đời sống.
Bản thân cái từ độn ở trong cơm độn bobo cũng là từ khóa của cả thời bao cấp.
Thời mà bất cứ thứ gì cũng có thể độn.
Nào là khoai độn, sắn độn, bobo độn, thậm chí có nơi độn cả bí.
Một câu hỏi thú vị đặt ra.
Vì sao ngày nay bobo lại bị ghét đến như vậy?
Câu trả lời vừa đơn giản vừa sâu sắc.
Bởi bobo không gắn với cảm giác ngon miệng.
Với nhiều người nó rất đáng sợ, nó gắn với ký ức của thời thiếu thốn và bất đắc dĩ.
Một món ăn, nếu mà phân tích ra, dù bổ dưỡng đến mấy,
nhưng nếu được ăn trong lúc nghèo khó, nếu bị ép phải ăn, thì ký ức về nó không thể đẹp.
Nó giống như việc nhiều người lớn tuổi không còn muốn ăn khoai lang hay là ăn sắn.
Dù bây giờ, khoai sắn là những thứ được ngợi ca là tốt cho sức khỏe.
Không phải vì nó không ngon, mà vì họ đã quá no nề ký ức về nó.
Ngày nay, ở các siêu thị lớn, bobo được bán như một loại ngũ cốc tốt cho tim mạch,
giàu chất sơ, nhiều protein thực vật.
Nhưng bobo của thế kỷ 21 đã được xử lý đúng cách.
Xay vỏ, tách cám, xấy, đóng gói sạch sẽ.
Còn bobo của thời bao cấp thì thô, cứng, nhiều tạp chất và gần như không thể nấu mềm.
Tuy vậy, để công bằng mà nói,
bobo đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam.
Nó xuất hiện đúng lúc đất nước thiếu,
đúng lúc con người cần một thứ gì đó để ăn,
để chống đỡ cơn đói và nó hoàn thành nhiệm vụ đó một cách lạc lẽ.
Dù không ngon, không mềm, lấy đâu ra thơm,
bobo đã giúp duy trì sinh lực trong thời kỳ mà người dân không có lựa chọn tốt hơn.
Nó không còn trong mâm cơm người Việt,
nhưng mỗi khi nhắc đến thời bao cấp, cái tên bobo lại xuất hiện ngay lập tức.
Nó gợi ra một thời kỳ gian khó, một giai đoạn mà người dân phải sáng tạo,
phải kiên trì và đôi khi là nhẫn nại để tiếp tục cuộc sống.
Chính nhờ sự nhẫn nại đó,
thế hệ hôm nay được ăn những bát cơm mềm dẻo mà không phải độn bất kỳ một thứ gì.
Nếu ngày nay chúng ta ăn gạo ST25, gạo nhật, cơm dẻo thơm,
thì hàng chục năm trước, ông bà, cha mẹ của chúng ta đã phải ăn bobo để no bụng.
Sự thay đổi này cho thấy một hành trình phát triển dài của đất nước.
Từ thiếu ăn đến đủ ăn, rồi từ đủ ăn đến ăn ngon.
Trong hành trình đó, bobo là một dấu mốc không thể thiếu.
Có thể nói, bobo là minh chứng cho thấy con người có thể thích nghi với bất kỳ một hoàn cảnh nào.
Một loại hạt cứng như đá, vốn được chồng chủ yếu làm thức ăn chắt nuôi,
đã trở thành lương thực cứu đói cho hàng triệu người.
Một thứ từng bị coi là dở nhất trên hành tinh trong mắt nhiều người,
lại mang trên mình câu chuyện sâu sắc về nỗ lực phát triển của cả một dân tộc.
Vì vậy, khi ai đó hỏi, hạt bobo là gì? Hay vì sao ngày xưa phải ăn hạt bobo?
Câu trả lời không chỉ là một định nghĩa về một loại cây,
một loại hạt, hay là một trang sử thời bao cấp.
Câu trả lời là câu chuyện dài về kinh tế, về nông nghiệp,
về viện trợ và đặc biệt nhất, về khả năng chịu đựng, kiên cường và thích nghi của người Việt Nam.
Bobo nó không ngon, nhưng nó nhắc chúng ta rằng,
đã có một thời người Việt sống rất giản dị mà vẫn bước tiếp.
Một thời khó khăn với cái bụng đói,
nhưng cũng là một thời kỳ đáng nhớ, đáng trân trọng trong dòng chảy lịch sử Việt Nam.
Cảm ơn vì đã quan tâm theo dõi câu chuyện này.
Nếu cảm thấy thú vị, bạn có thể nhấn nút đăng ký kênh, bật chút thông báo và chia sẻ.
Còn bây giờ thì xin được nói lời chào, tạm biệt.
