#toiyeubinhduong#riviubinhduong Nông trại Yuzu Tuyệt Vời - Bạn đã từng nghe đến loại quả này chưa? - Loài Cây Mới Cho Nông Nghiệp
Chào mừng bạn đến với kênh: Nông Nghiệp Việt - kênh cung cấp thông tin với các nội dung Thu hoạch, chế biến, đóng gói, công nghệ nông nghiệp, chế biến thực phẩm và thông tin về các mô hình nông nghiệp hiện đại nhất sẽ được cập nhật thường xuyên trên kênh.
Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về những công nghệ tiên tiến, các phương pháp canh tác sáng tạo và những đổi mới mang tính đột phá trong việc nuôi trồng. Hãy cùng nhau bắt đầu hành trình khám phá với những công nghệ đỉnh cao và những phương pháp canh tác tiên tiến!
Các Bạn hãy đăng ký kênh và nhấn vào chuông thông báo để không bỏ lỡ videos hay nhé. Xin cảm ơn!
Comments are disabled for this video.
Nhật Bản, quốc gia vốn nổi tiếng với sự tỉ mỉ trong từng sản phẩm nông nghiệp,
đang sử dụng một loại trái cây khiến cả thế giới phải thêm khác, juju.
Dù vẻ ngoài không quá bắt mắt, nhưng juju lại là nguyên liệu đắt đỏ bậc nhất bởi giá trị in tế mà nó mang lại.
Chỉ riêng tại một vùng nhỏ của tỉnh Kochi, thủ phủ Juju của Nhật,
người dân có thể thu hoạch hơn 30 tấn juju mỗi năm,
đưa sản phẩm này trở thành con át chủ bài trong ngành nông nghiệp địa phương.
Vậy, điều gì khiến lợi quả này trở nên siêu đắt đỏ?
Vì do Nhật Bản có thể xuất khẩu juju sang nhiều quốc gia, nhưng riêng Mỹ lại không thể nhập khẩu chính ngạch.
Và các người dân Nhật chăm sóc, thu hoạch, chế biến juju có gì đặc biệt? Hãy cùng chúng tôi khám phá ngay bây giờ nhé!
Điều thú vị là juju không chỉ được trồng ở Nhật.
Tại Mỹ, một số bang như California hay Oregon cũng có trồng lợi quả này.
Tuy nhiên, juju Nhật Bản luôn được đánh giá cao hơn hẳn bởi hương thơ mạnh mẽ,
tinh dầu dè đặc và vị chua độc đáo mà những loại juju ở Mỹ chưa bao giờ đạt tới.
Thế nhưng hiện nay, luật pháp Mỹ lại cấm nhập khẩu juju tươi từ Nhật Bản.
Lý do là do lo ngại nguy cơ sâu bệnh có thể phá hoại các vườn cam khuyết trong nước.
Vì vậy, người dân Mỹ, kể cả những đầu bếp nổi tiếng,
chỉ có thể dùng juju được trồng tại Mỹ, vốn ít thơm hơn và khó sánh bằng phiên bản gốc từ Nhật.
Chính sự không thể sử dụng này đã góp phần biến juju Nhật thành một thứ hàng xa xỉm trên thị trường quốc tế.
Để có được loại quả quý giá ấy, người nông dân Nhật đã phải bỏ ra rất nhiều công sức.
Cây juju thường mất từ 10 đến 15 năm mới cho trái nếu trồng bằng hạt và khoảng 4 đến 5 năm nếu được ghép cành.
Họ chọn những sừa núi dốc, đất sâu khoáng chất, khí hậu mát mẻ để trồng,
đồng thời phải dựng lưới chán gió, che gốc vào mùa đông để cây không bị hương hại.
Khác với các loại trái cây khác, người Nhật không quá chú trọng ngoại hình của juju
bởi giá trị thực sự nằm ở lớp vỏ sừng xùi dây dặn, nơi chứa lượng tinh dầu và hương thơm mạnh mẽ nhất.
Một hectare juju có thể cho năng suất từ 8 đến 12 tấn mỗi năm.
Tuy nhiên, chất lượng luôn được đặt lên hàng đầu, thay vì chỉ quan tâm đến số lượng.
Mùa thu hoạch juju thường diễn ra vào tháng 11 đến tháng 12, thời điểm gió lạnh tràng về.
Nông dân dùng kéo chuyên dụng để cắt từng quả bởi chỉ mua vết chày nhỏ cũng có thể làm giảm đáng kể giá trị của juju.
Không khí thu hoạch rộn ràng với những giỏ che đầy áp juju vàng óng, mùi hương lan tỏa khắp vượt, chẳng khác nào một lễ hội nông nghiệp thử nghiên.
Trong bình một lao động có thể hái từ 200 đến 300 kg quả mỗi ngày.
Chỉ riêng tại một số vùng trọng điểm ở tỉnh Kochi, sản lượng juju mỗi mùa có thể vượt 30 tấn.
Tuy nhiên, phần lớn juju Nhật Bản không xuất khẩu dưới dạng quả tươi mà chủ yếu được chế biến thành nước ép, tinh dầu hay gia vị để đưa ra thị trường quốc tế.
Sau khi thu hoạch, juju được đưa vào nhiều quy trình chế biến, nâng cầm giá trị từ một loại quả trở thành biểu tượng văn hóa.
Nước ép juju, vốn nổi tiếng trên toàn cầu, có giá bán lên đến 150 USD mỗi lít.
Tinh dầu juju trở thành nguyên liệu cao cấp trong ngành bị phẩm, nước hoa và spa.
Hay gia vị juju koso, hỗn hợp từ ớt xanh, muối và vỏ juju, được xem là bí quyết tạo nên hương vị đặc trưng trong ẩm thực Nhật Bản.
Không chỉ dừng lại ở đó, juju còn xuất hiện trong mì u đông, nước lẩu, các loại bánh ngọt, thậm chí là cocktail sang trọng ở châu Âu.
Và đặc biệt vào ngày Đông Chí, người Nhật có phong tục tắm juju.
Khi họ thả những quả juju vào bún nước nóng để thư giãn, với niềm tin rằng hương thơm của loại quả này sẽ mang lại sức khỏe và may mắn.
Nhìn vào con số 30 tấn juju được thu hoạch mỗi năm, nhiều người có thể nghĩ rằng đây là một sản lượng lớn.
Nhưng thực tế, so với nhu cầu khổng lồ từ thị trường toàn cầu, con số ấy chỉ như muối bỏ bể.
Sự khát hiếm, cộng thêm những rào cản thương mại khắt khe đã biến juju Nhật trở thành loại quả siêu đắt, không phải ai cũng có cơ hội thưởng thức đúng hương vị gốc.
Có thể thấy rằng, điều làm nên giá trị của juju không chỉ nằm ở trái quả mà còn ở chất lý nông nghiệp của người Nhật.
Sự kiên nhẫn, sự tỉ mỉ và niềm tự hào về văn hóa ẩm thực truyền thống.
Chính nhờ những yếu tố này, juju đã vượt ra khỏi phạm vi một nông sản để trở thành biểu tượng của sự tinh tế và khác biệt trong cách người Nhật chinh phục thế giới bằng hương vị.
Bạn có biết, nguyên liệu bí mật tạo nên hương vị đậm đà, quyến rũ trong mỗi ly bia mát lạnh mà chúng ta yêu thích là thứ gì không?
Đó chính là hoa bia, một loài hoa nhỏ bé nhưng sở hữu sức mạnh làm nên linh hồn của ngành công nghiệp bia toàn cầu.
Thế nhưng, điều bất ngờ hớt cả là ở nhiều quốc gia, hoa bia đang tạo nên một cuộc cách mạng nông nghiệp nơi những người nông dân không chỉ giữ gìn truyền thống trồng trọt mà còn kiếm được hàng tỷ đồng mỗi năm từ loài hoa này.
Điều gì khiến loài hoa này trở thành vang xanh của ngành nông nghiệp hiện đại, tất cả sẽ được hé lộ trong video hôm nay.
Hoa bia là một loài thực vật thuộc họ Canapecae.
Họ hàng gần với cây cần sa và gai dầu, nhưng đừng vội hoảng, hoa bia không chứa chất gây nghiện mà lại là thành phần không thể thiếu trong sản xuất bia, một trong những thức uống phổ biến nhất hiện nay.
Mỗi bông hoa bia khô bé xíu, chứa đầy nhựa lupulin, chất tạm nên hương vị đặc trưng, vị đắng, mùi thơm và khả năng bảo quản bia.
Càng đặc biệt hơn, mỗi giống hoa bia sẽ mang đến một cá tính riêng cho từng loại bia thủ công.
Chính điều này đã khiến hoa bia trở thành một mặt hàng nông nghiệp cao cấp với giá trị tăng vọt trong thập kỷ qua.
Trước kia, hoa bia chỉ được trông phổ biến tại một số quốc gia châu Âu như Đức và Anh, nhưng kể từ khi làn sóng bia thủ công Craft Beer bùng nổ khắp thế giới vào đầu những năm 2010, nhu cầu về hoa bia tăng chóng mặt.
Theo Hiệp hội Bia Mỹ Brewers Association, dưới nước Mỹ đã có hơn 9.500 nhà máy bia hoạt động tính đến năm 2024 và hầu hết đều ưu tiên sử dụng hoa bia tươi chất lượng cao trông tại địa phương.
Điều này đã khiến những cánh đồng hoa bia ở các bang như Oregon, Washington hay Idaho trở thành mỏ vàng cho nông dân.
Thế nhưng, hoa bia không phải là loại cây có thể trông tùy tiện hay thu hoạch một cách đơn giản.
Đây là loại cây đòi hỏi kỹ thuật trồng và chăm sóc cao, sự đầu tư bài bản và kiến thức chuyên sâu để đảm bảo chất lượng và giá trị thương phẩm.
Tùy vào khí hậu địa phương và mục tiêu sản xuất, người nông dân sẽ lựa chọn những giống hoa bia phù hợp.
Sau đó, người trông phải dựng những dàn leo cao từ 6 đến 8 mét vì đặc điểm sinh học của hoa bia là phát triển theo chiều thẳng đứng, thậm chí có thể cao tới 10 mét.
Đây không chỉ là một công đoạn kỹ thuật mà còn là một khoản đầu tư đáng kể về vật liệu và công sức.
Tiếp theo là kỹ thuật tưới tiêu hiện đại, thường sử dụng phương pháp tưới nhỏ giọt, kết hợp với việc bón phân hụ cơ để đảm bảo cây có đủ dưỡng chất mà không gây lãng phí hay u nhiệm đất.
Trong suốt quá trình sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn hình thành, người trông phải theo dõi sắt sao độ ẩm, nhiệt độ và phòng trừ sâu bệnh.
Hoa bia rất dễ bị tấn công bởi nấm và dẹp, những kẻ thu không đội chơi chung nếu muốn thu được vụ mùa chất lượng cao.
Vào khoảng tháng 8 đến tháng 9, khi nhựa lupulin trong hoa đạp mức cao nhất, hoa bia có thể được hái bằng tay hoặc máy móc chuyên dụng.
Ngay sau đó, hoa được đưa vào các nhà máy để tiến hành sơ chế rồi sấy khô nhanh ở nhiệt độ thấp, khoảng 60 độ C.
Đây là câu cực kỳ quan trọng, vì nếu sấy qua nóng hoặc quá lâu, tinh dầu thơm và chất lupulin quý giá trong hoa sẽ bay hơi, làm mất đến 70% hương vị và giá trị thương mại vốn có của chúng.
Ngay sau đó, hoa bia sấy khô sẽ được nến thành dạng viên hoặc giữ nguyên dạng bông, chuẩn bị sẵn sàng cho quy trình chế biến.
Trong quá trình nấu bia, hoa bia được thêm vào và ở nhiều giai đoạn khác nhau. Đầu tiên là nấu lên để tạo vị đắng, sau đó tạo hương thơm.
Sau giai đoạn đun sôi, hỗn hợp bia được lên men như men bia, chuyển hóa đường thành cồn và khí CO2 rồi được lọc, đóng chai và phân phối.
Chính sự hiện diện của hoa bia trong từng công đoạn này tạo nên sự khác biệt giữa các loại bia.
Nhờ đó, hoa bia không chỉ là cây trồng mà còn là chất xúc tác, mang lại hàng tỷ đô la Mỹ, tương đương hàng chục nghìn tỷ Việt Nam đồng trong ngành sản xuất bia toàn cầu
và là nguồn thu nhập bền vững cho hàng ngàn nông dân trên khắp thế giới.
Nông dân ở một số khu vực đã thu về khoảng 250 tỷ đồng mỗi năm từ loại hoa này.
Không chỉ phục vụ ngành sản xuất bia, đây còn là nguyên liệu quý trong các ngành như mỹ phẩm, thực phẩm chất năng và dược liệu hay tran nuôi hữu cơ.
Vì thế, thị trường trong hoa bia ngày càng mở rộng và giá trị không còn bị bó hệp trong ngành bia truyền thống.
Bạn có biết mỗi năm có bao nhiêu tấn chất thải từ trang trại chôm dứa trên khắp thế giới không?
Con số khủng khiếp chắc hẳn sẽ khiến bất cứ ai đều phải ngạc nhiên.
Với lượng chất thải khổng lồ như vậy, nó gây ra những nguy cơ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Để giải quyết tình trạng này, con người đã nghiên cứu ra các phương pháp tái chế nhằm xử lý chất thải từ trang trại dứa.
Nào, ngay bây giờ hãy cùng chúng tôi khám phá cách nông dân biến vỏ dứa thành tiền như thế nào nhé!
Theo báo cáo, sản lượng dứa toàn cầu đạt gần 32 triệu tấn.
Trong đó, khu vực châu Á-Thái Bình Dương là nơi sản xuất dứa lớn nhất, trên 41% sản lượng toàn cầu với 13 triệu tấn.
Để đạt sản lượng cao như vậy, nông dân đã áp dụng các biện pháp canh tác kết hợp giữa truyền thống và hiện đại.
Nông dân đã kết hợp các kỹ thuật canh tác tin tiến, tối yêu hóa mật độ trồng,
lựa chọn các giống năng suất cao và quản lý hiệu quả các quyết trình sau thu hoạch để tăng sản lượng dứa.
Những người nông dân cho biết, trồng dứa theo phương pháp truyền thống cho năng suất khoảng 50-60 tấn trên 1 hectare.
Nhưng với phương pháp trồng mật độ cao, năng suất có thể đạt tới 80-100 tấn trên 1 hectare,
mang lại những lợi ích lớn cho những người nông dân trồng dứa.
Đặc biệt, nông dân chỉ cần trồng dứa một lần nhưng có thể thu hoạch liên tiếp trong 3 năm.
Sau thu hoạch lứa đầu tiên, cứ khoảng 4 tháng là có thể thu hoạch tiếp.
Nông dân thu hoạch dứa thường bằng phương pháp thủ công và khi trái đã đạt độ chín phù hợp.
Việc xác định thời điểm thu hoạch dựa trên màu sắc, kích thước và hương thơm của quả,
nông dân sử dụng dao sắc để cắt cuốn quả, giữ lại một phần lá trên quả để bảo vệ trong quá trình vận chuyển.
Việc thu hoạch thường được thực hiện vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát để tránh nhiệt độ cao, giúp bảo quản chất lượng quả tốt hơn.
Sau khi thu hoạch, dứa được phân loại theo kích cỡ và chất lượng,
quả đạt tiêu chuẩn sẽ được làm sạch và đóng gói cẩn thận để vận chuyển đến thị trường tiêu thụ hoặc nhà máy chế biến.
Vậy, bà có biết những nhà máy chế biến dứa thải ra bao nhiêu tấn vỏ mỗi năm không?
Quá trình chế biến dứa tạo ra chất thải chiếm khoảng 60% trọng lượng của quả dứa ban đầu,
dưới dạng vỏ, lõi, đầu ngọn và bã.
Do đó, hàng năm có hàng tấn rắc thải từ dứa được thải ra môi trường,
trông có thể phân hủy thành phân hữu cơ nhưng thực tế nếu không được chế biến sẽ gây nhiều vấn đề về môi trường.
Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã biến vỏ dứa từ rắc thải chuyển đổi
thành các nguồn năng lượng sinh học như bio-ethanol cùng với thức ăn chăn nuôi và phân dun.
Vỏ dứa dầu chất sơ và chất dinh dưỡng là nguồn bổ sung tuyệt vời cho thức ăn chăn nuôi.
Chúng thường được dùng làm thức ăn cho lợn, da súc và da cầm sau khi được băm nhỏ,
đôi khi cũng được lên men để cải thiện tiêu hóa cho vật nuôi.
Ở một số nơi, chất thải từ dứa được trộn với các sản phẩm phụ nông nghiệp khác
để tạo ra thức ăn chăn nuôi tiết kiệm chi phí.
Có lẽ bạn chưa biết, vỏ dứa chống một lượng lớn chất hủ cơ có thể lên men để sản xuất khí sinh học,
có thể được sử dụng làm nguồn năng lượng tái tạo.
Một số ngành công nghiệp chất xuất ethanol từ chất thải dứa
thông qua quá trình lên men sử dụng làm nhiên liệu sinh học.
Sản xuất ethanol từ vỏ dứa không chỉ giúp tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp
mà còn mang lại nhiều lợi ích kinh tế, môi trường và năng lượng.
Nó giúp giảm sự phụ thuộc vào nguyên liệu hóa thạch phù hợp với chiến lược phát triển bền vững của nhiều quốc gia,
đặc biệt ở các nước đang phát triển và các nước nông nghiệp.
Hiện nay, nhiều nước đang khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học để giảm khí thải và bảo vệ môi trường.
Ngoài ra, ngoài có vai trò trong sản xuất ethanol, vỏ cây dứa còn phân hủy nhanh và dầu cali.
Phosphor và acid hữu cơ khiến chúng trở thành loại phân bón tự nhiên tuyệt vời.
Một số nông dân trộn chất thải từ dứa với các chất hữu cơ khác để tạo thành phân trộn
giúp cải thiện sức khỏe đất và thúc đẩy cây trồng phát triển.
Vỏ dứa được lên men để làm dấm dứa,
một sản phẩm dâu lệ quẩn được sử dụng trong nấu ăn và đủ uống tốt cho sức khỏe.
Ở một số vùng, chúng được dùng để sản xuất rượu dứa hoặc kombucha.
Một số công ty chế biến vỏ dứa để tạo ra sản phẩm thay thế da thuần chay,
chẳng hạn như Pinatech, một loại da thay thế thân thiện với môi trường.