Sở hữu YouTube Premium sau vài phút với hàng loạt tính năng độc quyền sau: 👉 Loại bỏ hoàn toàn quảng cáo 👉 Phát trong nền: tắt màn hình vẫn nghe nhạc, phát video được. 👉 Chế độ Pic-in-Pic, vừa xem Youtube vừa dùng ứng dụng khác. 👉 Youtube Music Premium với kho nhạc khổng lồ. 👉 Tải nhạc, video chất lượng cao về để nghe khi không có mạng. 👉 Đăng nhập sử dụng cùng lúc 10 thiết bị: nhiều điện thoại, laptop, tivi, màn hình ô tô, smart watch, và các thiết bị hỗ trợ Youtube khác. • Nâng cấp từ tài khoản chính chủ từ các quốc gia trên toàn thế giới, hoàn thành mới thanh toán. • Đừng quên đọc mã CD Media để được giảm 50k cho gói 1 năm. 👉 Liên hệ nhanh nhất qua Zalo CSKH: 038.330.8487 - 037.923.1805 https://shoptkpremium.com
----------------------------- 📋 ""CDMedia - Quân sự"" là một nền tảng chuyên sâu kết nối những kiến thức và thông tin xoay quanh lĩnh vực quân sự. Dựa trên các nguồn đáng tin cậy từ nhiều phía, kênh mang đến cho khán giả một cái nhìn đa chiều về các chiến lược quân sự, công nghệ quốc phòng từ quá khứ tới hiện đại.
Mọi sự ủng hộ cho kênh mời các bạn donate qua: - STK: 0393331668 - Ngân hàng BIDV - Nguyễn Việt Cường - Momo: 0393331668"
Đám cháy gây ra bởi bom napalm, chất độc da càm rút xuống từ bầu trời, hay tính súng đạn vàng linh không ngớt.
Đó chính là cơn ác bộng diễn ra ở Việt Nam vào những năm 60-70 của thế kỷ trước.
Sự tàn khốc ấy đã ám ảnh không chỉ người dân ở đây, mà cả chính các binh sĩ Mỹ.
Để rồi họ mất niềm tin vào cái trinh nghĩa được Nhà Trắng rào ràng và nhận ra,
bản thân phải đứng lên đấu tranh chống lại cuộc chiến phỉ nghĩa này.
Vậy, lính Mỹ đã làm điều đó như thế nào?
Nếu bạn tự tìm kiếm trên mạng về danh sách những xúc đột gây ra nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử,
chắc chắn sẽ luôn có sự xuất hiện của một cái tên.
Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam
Sự kiện này không chỉ để lại tổn thương to lớn cho người dân Việt Nam,
mà còn gây ra dạ nứt sâu sắc trong chính nội bộ Hoa Kỳ.
Quốc gia đã châm ngòi cho cuộc chiến.
Đặc biệt trong giai đoạn leo thang từ dưới những năm 1960,
làn sóng phản đối chính phủ của cộng chúng nước này đã bùng đổ mạnh mẽ,
bởi họ phấn nộ trước những hành động mà quân đội đang thực hiện tại một quốc gia xa xôi bên kia bán cầu.
Thậm chí, ngay cả một bộ phận binh lính trực tiếp tham chiến trên đất Việt
cũng bắt đầu thể hiện sự bất mãn và phản kháng.
Vì sao là như vậy?
Để lý giải cho điều đó,
hãy quay về thời điểm mà Ngô Đình Diệm tìm mọi cách để phá hoại Hiệp định Geneva
và lập nên chính quyền Việt Nam Cộng Hòa nhờ sự giúp đỡ của người Mỹ.
Washington muốn sử dụng Diệm để chặn chúng những công sản lan ra toàn bộ Đông Nam Á.
Ban đầu, Mỹ chỉ tham gia hỗ trợ với quy mô nhỏ,
chủ yếu là cố vấn quân sự cho lực lượng Việt Nam Cộng Hòa.
Tuy nhiên, từ năm 1965, với quyết định của Tổng thống Lyndon B. Johnson,
Hoa Kỳ đã tiến hành chiến dịch ném bom ác liệt xuống miền Bắc Việt Nam
và triển khai hàng trăm nghìn lính đội bộ vào miền Nam, đánh dấu sự can thiệp trực tiếp.
Trước đó, trong quá trình tranh cử Tổng thống,
để giành được sự ủng hộ, chính Johnson đã từng phát biểu rằng
Chúng ta sẽ không đưa những thanh niên Mỹ vượt 9.000 hay 10.000 dặm khỏi quê hương
để làm thay những việc mà chính các chàng trai châu Á nên tự làm cho mình.
Tuy nhiên, những gì diễn ra sau đó lại tránh ngược hoàn toàn.
Để phục vụ cho cuộc chiến, chính phủ Mỹ đã tiến hành huy động một lượng lớn thanh niên nhập ngũ.
Theo ước tính, từ năm 1964 đến 1973,
quốc đội Hoa Kỳ đã tuyển bộ 2,2 triệu đàn ông trên cả nước.
Trong số đó, có những chàng trai hào hức được chiến đấu vì danh dự,
vì quốc gia, vì lý tưởng cao đẹp mà họ bị nhồi sọ.
Nhưng cũng có không ít người xem đây như là bản án tử
khi phải mạo hiểm mạng sống ở một vùng đất xa lạ.
Họ đã không sai, bởi vì môi trường chiến đấu tại Việt Nam không khác gì cần ác mộng.
Đề hình chắc trở, khí hậu khắc nghiệt,
cùng với việc phải chiến đấu với đối thủ thoát ẩn, thoát hiện
đã khiến nhiều binh sĩ Mỹ luôn trong tình trạng căng thẳng, mệt mỏng.
Bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu,
họ cũng có thể bị mất mạng bởi những cuộc phục kích hay cảm bấy.
Người còn sống sót thì sẽ luôn bị ám ảnh.
Khâu quả là tinh thần vỡ vụn và tiếp sau đó là trứng rối loạn căng thẳng hậu trần thương.
Không chỉ vậy, nhiều binh lính Hoa Kỳ thời điểm đó còn chịu sự ám ảnh
khi thường xuyên phải xuống tay vì dân thượng.
Bởi vì đối với người Việt Nam, kháng trì chống Mỹ cứu nước là một cuộc chiến toàn dân,
nên bất cứ ai cũng có thể đứng lên chiến đấu, kể cả người già hay trẻ nhỏ.
Nhiều sĩ quan Mỹ vì vậy mà trở nên điên cuồng,
hoặc đơn giản là do bản chất tàn tạo,
đã đưa ra những mệnh lệnh dã man cho cấp dưới,
với phương trầm thả giết nhầm còn hơn bỏ sót.
Điều này đã dẫn đến nhiều tội ác đỡ máu.
Đề hình nhất là vụ thảm sát Mỹ Lai năm 1968.
Sự kiện này không chỉ làm dư luận Hoa Kỳ trấn động bởi tính chất quá sức khủng khiếp và ám ảnh của nó,
mà còn tạo ra lan sóng phản đối mạnh mẽ trong nơi bộ quân đội.
Nhiều lính Mỹ bắt đầu nghi ngờ tính trí nghĩa và mục tiêu của cuộc chiến,
cảm thấy bản thân bị ép buộc thực hiện các hành động vi phạm đạo đức và luật pháp quốc tế.
Không chỉ vậy, những báo cáo về việc sử dụng vũ khí hoa học như chất độc da cam
hay các cuộc tấn công bằng bom napalm gây thế đại nặng nề cho dân thượng
cũng làm dấy lên sự phản kháng ngày càng mạnh mẽ trong quân đội.
Một số binh sĩ đã từ chối tham gia các hoạt động mà họ cho là vô nhân đạo,
dẫn đến tình trạng từ chối chiến đấu và đảo ngũ.
Không chỉ đối mặt với cái chết và sự giàn vạt mỗi ngày,
nhiều lính Mỹ dao màu còn phải chịu đương sự bất công và phân biệt trung tộc ngay trong nội bộ quân đội.
Theo báo cáo của Ủy ban Cố vấn Quốc gia Hoa Kỳ vào năm 1966,
dù tỷ lệ người Mỹ gốc Phi lúc bấy giờ chỉ là 11% dân số,
nhưng họ lại chiếm tới 23% trong tổng số lực lượng trực tiếp tham chiến tại Việt Nam.
Họ thường bị đối sự bất công khi sinh hoạt và chiến đấu,
cũng như trong việc thăng tiến và nhận lương bộc.
Chính điều đó đã tạo ra những căng thẳng nội bộ nghiêm trọng.
Ngoài ra, nhiều binh sĩ cũng cho rằng cách mà chính phục tuyển quân không công bằng,
khi người nghèo bị gọi nhập ngũ nhiều hơn so với tầng lớp thượng lương.
Điều đó cho thấy rằng những mâu thuẫn xã hội của nước Mỹ có thể len lỏi vào môi trường quân đội.
Trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ của phong trò phản chiến.
Thời nữa, làn sóng biểu tình ngày càng lan rộng tại quê nhà,
cũng khiến nhiều binh lính phải nhìn nhận lại bản chất của cuộc chiến.
Những thông tin hình ảnh về tội ác chiến tranh được truyền thông đưa tin
đã giúp họ có nhận thức đúng đán hơn về những hành động mà mình đang gây ra ở Việt Nam.
Các cuộc biểu tình nổi tiếng như tại Đại học Kent State năm 1970
là minh chứng rõ ràng cho sự phản đối ngày một lan rộng trong giới trẻ Mỹ,
đặc biệt là những người có thân nhân hoặc bạn bè đang tham chiến.
Chính điều đó đã tạo ra ảnh sâu sắc đến binh sĩ tại Việt Nam.
Nhiều người được đả thông tư tưởng qua thư tử, báo chí và bắt đầu thiện tiếng nói quan điểm của mình,
thậm chí là bất tuân mệnh lệnh.
Và đây chính là mở đầu cho một phong trò phản chiến mạnh mẽ ngay trong hàng quốc của đội Mỹ,
điều yếm thấy trong lịch sử quốc gia này.
Một trong những bình luận rõ nét và gây chú ý nhất của điều đó là việc từ chối đi lính.
Trước khi cuộc chiến tranh xâm lực Việt Nam bùng nổ,
việc được phục vụ trong quân đội từng là niềm tự hào lớn là lợi ước mơ của biết bao thành niên Mỹ.
Color Man bốc quân phục không chỉ đồng nghĩa về danh dự và trách nhiệm,
mà còn mở ra nhiều cơ hội nghề nghiệp sau khi rời quần ngũ,
một tầm vé danh giá để có được sự kính trọng từ xã hội.
Thế nhưng khi cuộc chiến tại Việt Nam ngày càng lộ rõ bản chất phi nghĩa,
niềm vinh dự ấy bắt đầu vụn vỡ khiến nhiều người từ chối đi lính kể cả khi được gọi.
Người mở đầu trong việc đó chính là một thành niên có tên là David O'Brien
đến từ Boston khi anh ta đã đốt thẻ quân dịch của mình.
Thời gian đầu, những ai thực hiện hành vi này sẽ bị tỏa liên bang truy tố.
Nhưng về sau, số lượng người hưởng ứng quá nhiều khiến các nhà tù không còn đủ chỗ để giam giữ.
Nổi bật nhất trong làn sóng phản đối đi lính chắc chắn là trường hợp của tay đấm huyền thoại Muhammad Ali.
Ông kiên quyết từ chối nhập ngũ và ngay lập tức bị tước danh hiệu nhà vô địch hạng nạn,
đồng thời phải nhận án phạt là 5 năm tù.
Khi được hỏi về lý do tại sao không muốn sang Việt Nam, Ali đã nói
Tôi không có xích mích gì với những người Việt cộng đó.
Bên cạnh việc từ chối nhập ngũ,
một hình thức phản chiến khác cũng tạo ra được sức ảnh hưởng rất lớn trong đội bộ quân đội Mỹ.
Đó là các ấn phẩm địch tránh binh lính bí mật biên soạn và phát hành.
Chúng có thể là sách, báo hay những tờ truyền đơn
Nhưng tất cả đều có cùng một nội dung là thẳng kháng lên án cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam
Tố cáo những hành vi tan bạo, vạch trần bất công
và kêu gọi sự chấm dứt can thiệp quân sự tại mảnh đất hình chữ S.
Giảm ngay 50k với gói YouTube Premium 1 năm khi đồng bá CDMedia
Cục quảng cáo không chờ đợi
Tận hưởng YouTube một cách tròn vẹn nhất khi nâng cấp lên bảng Premium
Ngoàn loạt tính năng độc quyền chỉ có ở YouTube Premium
Nâng cấp thành công mới thanh toán
YouTube Premium nâng tâm trải nghiệm của bạn
Theo thống kê của nhà nghiên cứu David Cotri
trong quân Soldiers in Revolt
Vào thời kỳ cao điểm, đã có hơn 300 tờ báo
mạng thường điệp phản chiến được phát hành tại các đơn vị quân đội Mỹ
Cả trong nước, lớn ở chiến trường Việt Nam
Những ơn phẩm như vậy đã đóng vai trò quan trọng
trong việc kết nối và khơi dậy tinh thần đấu tranh
vì hòa bình trong quân bú
Sòng sòng với việc lan truyền các ơn phẩm phản chiến
Nhiều tổ chức trong quân đội Mỹ cũng được thành lập với mục tiêu
là phản đối chính sách can thiệp quân sự của chính phủ
Tiêu bình nhất trong số đó là
Vietnam Veterans Against the War
Việc tắt là VVAW
Được thành lập năm 1967 bởi 6 cựu bình lính Mỹ
Trong đó có John Kerry
Ngày sau này trở thành Thượng nghị sĩ và Ngoại trưởng Hoa Kỳ
Tổ chức này nhanh chóng phát triển
Và đến năm 1971
đã có hơn 25.000 thành viên
Chủ yếu là những người trực tiếp tham chiến tại Việt Nam
vì lý tưởng và họ cho rằng là cao đẹp
Được rồi, sau đó vỡ mộng trước hiện thực tàn khốc
Cùng như sự phi nghĩa của chiến tranh
VVAW đã tổ chức nhiều sự kiện mang tính biểu tượng
và có sức lan tỏa lớn
Điển hình như cuộc biểu tình Delway Canyon 3
vào tháng 4 năm 1971 tại Washington DC
Trong sự kiện này
Hàng trăm cựu bình đã ném trả huân
Huy Trương xuống bực thềm trước tòa nhà quốc hội
Như một hành động liên an chiến tranh
và chính sách lừa dối của chính phủ
Khi được gọi, có người đã bày tỏ
Tôi cầu nguyên rằng
Thời gian sẽ tha thứ cho tôi và những người anh em
Vì những gì chúng tôi gây ra
Không chỉ biểu tình
Các thành viên VVAW còn sẵn sàng ra điều trần trước quốc hội
Để làm chứng cho những tội ác chiến tranh
Mà họ chứng kiến, hoặc bị buộc phải tham gia
Từ đó các phần làm lộ rõ
Bản chất phi nhân đạo của cuộc chiến
Mà chính quyền Mỹ cố tịch cháy giấu
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry
Một trong những người sáng lập những tổ chức
Đã từng phát biểu trong một buổi điều trần như sau
Chúng tôi
Những người lính Mỹ tại Việt Nam
Nhận ra rằng đây không đơn thuần chỉ là một cuộc nội chiến
Mà là nỗ lực của một dân tộc
Từ lâu đã đấu tranh dành độc lập
Thoát khỏi mọi hình thức áp bức thuộc địa
Chúng tôi thấy rằng phần lớn người dân Việt Nam
Thậm chí không phân biệt được chủ nhất cộng sản
Và dân chủ
Họ chỉ mong được yên ồn làm việc trên những cánh đồng lúa
Và không bị trực thăng bắn phá
Không bị bom Napan thiêu rụi làng mạc
Và xé nát quê hương của họ
Những lời này đã tất động mạnh đến dư luận
Tại Hoa Kỳ
Báo chí, đài truyền hình và nhiều tổ chức
Không ngừng đưa tin về các hành động phản chiến
Của binh lính và cựu chiến binh
Khiến công chúng ngày càng mất lòng tin
Và những lời hứa của chính phủ
Theo một khảo sát năm 1971
Có tới 61% người dân Mỹ tin rằng
Quân đội nước họ tham chiến
Ở Việt Nam là một sai lầm
Và nhiều người lính cũng tin như vậy
Tiêu biệt nhất trong số đó là
Tiến sĩ Howard Levy
Bác sĩ quân y của lục quân Hoa Kỳ
Ông đã từ chối huấn luyện nhân viên y tế
Thuộc lực lượng Mũ Nồi Xanh
Với lý do hành động đó sẽ tiếp tay
Cho các tội ác chiến tranh tại Việt Nam
Năm 1967
Levy bị tòa án binh kết án 3 năm tù
Vì bất tuân mệnh lệnh
Trong lời bị hậu đánh thép
Ông khẳng định
Tôi không thể tham gia vào một cuộc chiến
Mà tôi tin là phi đạo đức
Và vi phạm luật pháp quốc tế
Vụ án của Levy trở thành tâm điểm trên truyền thông
Ông được ca ngợi như một minh chứng sống động
Trong lương tâm giữa thời chiến
Một ví dụ khác
Thể hiện rõ sự phản kháng công khai
Trong nội bộ quân đội
Là việc một nhóm 27 binh sĩ
Đang thu án tại trại giam quân sự
Đã nổi loạn vào tháng 10 năm 1968
Sau cái chết đáng ngờ của Richard Bunch
Người từng từ chối chiến đấu ở Việt Nam
Họ đã tổ chức biểu tình
Ngay trong nhà tù
Từ chối lao động và đưa ra một bản yêu sách
Trong đó có đề nghị chấm dứt bạo lực
Ở mảnh đất hình chữ S
Mặc dù phía quân đội Mỹ xem hành vi này là nổi loạn
Một tội danh có thể bị kết án tù từ 5 năm đến trung thân
Nhưng trong mắt công chúng
Đó lại là hành động can đảm
Thể hiện lương trí
Nhiều sinh viên, trí thức
Và các tổ chức dân quyền
Đã coi nhóm binh sĩ phản chiến là người hùng
Sẵn sàng hy sinh tự do cá nhân để phản đối
Một cuộc chiến phị nghĩa
Truyền thông Mỹ lúc ấy giờ
Đặc biệt là các tờ báo như The New York Times
Washington Post
Và Rampart Magazine
Đã đưa tin rộng rãi về vụ việc
Góp phần đẩy phong trào phản chiến lên một tầm cao mới
4 cư người trong nhóm đó
Sau đó đã bị kết án tới 16 năm tù
Nhưng sức ép từ dư luận
Và các tổ chức dân sự
Buộc tòa án phải giảm nhẹ hình phạt
Không riêng gì Presidio 27
Mà trong quân đội Mỹ lúc bấy giờ
Được bất tuân nổi loạn thập thể
Đã trở thành chuyện xảy ra gần như hàng ngày
Năm 1970
Chỉ tính riêng Sư đoàn kỳ binh số 1 Hoa Kỳ
Đơn vị vốn luôn coi là hiện thân
Của các phong quân nhân chuyên nghiệp
Đã ghi nhận đến 35 vụ kháng lệnh
Không chỉ trong lục quân
Phong trào phản chiến còn lan rộng sang cả hải quân
Năm 1971
Trên tàu sân bay USS Constellation
Đóng tại San Diego
Nhiều thủ thủ đã phối hợp tổ chức
Một cuộc bỏ phiếu nhau phản đối
Kế hoạch triển khai con tàu đến Việt Nam
Hàng nghìn binh sĩ trong khu vực
Thử nghiệm hoạt động này
Yêu cầu giữ con tàu ở lại trên đất Mỹ
Cùng năm đó vào tháng 11
Tại vùng vịnh San Francisco
Một phong trào tương tự cúp bùng nổ
Nhằm ngăn chặn việc tàu sân bay USS
Coral Sea rời căn cứ hải quân
Alameda để đến tham chiến
Tại Việt Nam
Khoảng 1.200 thủ thủ đã công khai ký
Vào bản kiến nghị phản đối lệnh điều động
Sự chống đối trong hàng ngũ hải quân
Mỹ ngày càng trở nên căng thẳng hơn
Khi nhiều người lính thậm chí còn phá hoại
Chính những con tàu mà họ phục vụ
Theo số liệu do Ủy ban an ninh nội bộ
Hạ viện công bố
Chỉ tính riêng trong năm 1971
Hải quân đã ghi nhận tới 488 vụ việc
Bị phân loại là gây thiệt hại
Và cố ý gây thiệt hại
Tiểu ban, quân vụ hạ viện
Cũng phải cảnh báo về tần suất
Đáng báo động của các hành vi phá hoại
Thành công trên nhiều loại tàu chiến
Và căn cứ hải quân khác nhau
Tuy nhiên bất chấp những cảnh báo đó
Nhiều vụ việc gây thiệt hại nghiêm trọng vẫn diễn ra
Điển hình như trường hợp của tàu sân bay
USS Forrestal
Đóng tại Norfolk khi nó đã bị phóng hỏa
Khiến hệ thống radar hư hại
Và tồn đến 7 triệu đô la chi phí sơ chữa
Trước dừng lại ở đó
Tình trạng bất mãn và phản đối chiến tranh
Cũng lan sang lực lượng không quân
Nếu đầu năm 1971
Mới chỉ có khoảng 10 tờ báo phản chiến
Do binh sĩ tự phát hành tại các căn cứ không quân
Thì đến cuối năm 1972
Con số này đã tăng cấp bả
Tình điểm của sự phản đối
Là vào tháng 12 năm 1972
Khi các cuộc ném bom dữ dội vào Hà Nội diễn ra
Nhiều phi công B-52 bắt đầu nghi ngờ
Tính chính đáng của nhiệm vụ mà họ được giảm
Hai người trong số đó
Thậm chí đã cùng nước nghị sĩ Elizabeth Homan
Đề đơn kiện
Nhằm thách thức tính hợp hiến
Của các lực ném bom tại Campuchia
Một việc chưa từng có trước đây
Không chỉ dừng lại ở những hoạt động
Như phát hành ấn phẩm hay biểu tình
Khoảng trào phạn chiến trong quân đội Mỹ
Tại Việt Nam thậm chí còn dẫn đến những vụ việc đỡ máu
Bởi một bộ phận binh sĩ đã trồng đối
Bằng những hành động cực đoan hơn rất nhiều
Trong số đó
Kiện tụng fracking
Tức việc lính giới quyền cố tình giết hoặc làm bị thương
Các sĩ quan chỉ huy
Là một trong những biểu hiện
Nhiêm trọng và ám ảnh nhất
Theo dữ liệu được Lầu Năm Góc công bố sau chiến tranh
Từ năm 1969
Đến năm 1971
Đã có ít nhất 730 vụ fracking bị điều tra chính thức
Trong đó khoảng 86 sĩ quan
Và hạ sĩ quan thiệt mạng
Cùng hàng trăm người khác bị thương
Các nhà nghiên cứu ước tính
Con số thực tế có thể còn cao hơn
Do nhiều trường hợp bị che giấu hoặc không thể xác mình
Sự gia tăng của tình trạng này
Đã khiến nhiều sĩ quan phải tự trang bị thêm vũ khí
Khi đi ngục
Một minh chứng rõ ràng cho sự mất kiểm soát
Và khung hoảng niềm tin trong biểu bộ quân đội
Đáng ngại hơn cả những việc như chồng đối mệnh
Lệnh cấp trên hay phá hoại
Thông trọng phản chiến trong binh sĩ Mỹ
Có được thể hiện qua hiện tượng đảo ngũ
Theo Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ
Từ ngày 1 tháng 7 năm 1966
Đến ngày 31 tháng 12 năm 1973
Đã có tập cộng hơn nửa triệu vụ
Binh sĩ bỏ trốn khỏi hạng ngũ
Con số đó đã biến chiến trường
Tại Việt Nam trở thành nơi có nhiều vụ
Đảo ngũ nhất trong lịch sử quân sự Mỹ
Tất cả những biểu hiện tiêu cực ấy
Phần nào cho thấy sự đi xuống
Nhiêm trọng của kỷ luật quân đội Hoa Kỳ
Vào những năm diễn ra cuộc chiến
Để rồi trở thành một phần nguyên nhân
Khiến Washington phải giúp quân quân Việt Nam
Điểm đặc biệt của phong trào phản chiến
Trong quân đội Mỹ là ở chỗ
Nó hình thành từ những trải nghiệm trực tiếp
Của người lính ngoài chiến trường
Hoặc phải đối mặt với cái chết
Và sự ri đổi đạo đức mỗi ngày khi xuống tay
Với những người dân vô tội
Sau đó tự chất vấn rằng
Ý nghĩa của cuộc chiến này là gì
Chính điều đó đã làm lung lay
Niềm tạc kỷ luật trong quân đội Mỹ
Bởi vì người lính không còn tin tưởng
Và trình nghĩa của cuộc chiến
Thì sức chiến đấu của cả đơn vị sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Không còn sự phối hợp chặt chẽ
Không còn tinh thần song pha
Và trên hết
Là không còn ý chí chiến thắng
Điều này khiến chính phủ Hoa Kỳ đối mặt
Với một nghịch lý cay đáng rằng
Tuy họ sở hữu một lực lượng quân sự vượt trội
Nhưng lại không thể phát huy hiệu quả
Vì lòng quân đã giã rời
Bằng chứng cho điều này là có số
98.000 trường hợp bỏ trốn khỏi hàng ngũ
Chỉ tính trong năm 1971
Khiến cho tướng Creighton Abrams
Phải thốt lên
Đây là một đội quân
Hay một bệnh viên tâm thần
Các sĩ quan sợ dẫn lính ra trận
Còn lính thì từ chối theo lệnh
Chuyện gì đang xảy ra vậy
Điều đó đã tạo thêm
Một tầng áp lực mới lên Washington
Bởi vì khi người dân thấy rằng
Ngay cả những người lính
Cũng không muốn tiếp tục cuộc chiến
Thì lòng kiên nhẫn của họ đối với chính phủ
Càng trở nên mong mạnh
Những bản tin, lời kể, bức thư
Hay hình ảnh do gì từ chiến trường
Có nguyên dung phê phán
Hoặc chất vấn chính sách
Đã khiến sự ủng hộ dành cho cuộc chiến rơi xuống mức thấp nhất
Áp lực đó khiến tí trinh đàm phán
Hòa bình trở nên cấp bách hơn
Kết quả cuối cùng như chúng ta đều đã biết
Là việc kỳ kết Hiệp định Paris
Vào tháng 1 năm 1973
Một thất bại cay đắng của Hoa Kỳ
Và chính sức phản ối từ những người lính Mỹ
Đã đóng góp một phần không nhỏ
Vào sự kiện này
Tụi chúng lại phong trào phản chiến
Trong nội bộ của đội Mỹ là một khía cạnh
Ít được nhắc đến
Nhưng lại mang ý nghĩa sâu sắc nhất
Cuộc chiến tranh tại Việt Nam
Từ những lá thư bày tỏ sự dây dứt
Và ám ảnh gửi về quê nhà
Các buổi biểu tình nghe trong danh trại
Đến hành động công khai từ chối mệnh lệnh
Tất cả đã tạo nên một làn sông đấu tranh bền bỉ
Góc phần đầy nhanh tiến trình rút quân
Và chấm dứt cuộc chiến
Họ, những người lính
Từng được huấn luyện để phục tụng tuyệt đối
Đã lựa chọn liên tiếng
Không phải vì yếu đuối hay phản bội
Mà vì không thể tiếp tục nhắm mắt làm ngờ
Trước những gì mà họ tin là sai trái
Điều đó cho thấy rằng
Dù giữa khói lửa chiến tranh
Con người vẫn hoàn toàn
Có thể nghe theo lương tâm của mình