Pháo binh Việt Nam đang trên đà lột xác mạnh mẽ. Từ pháo tự hành hiện đại, đạn dẫn đường thông minh đến hệ thống MLRS tầm xa, tất cả đang góp phần tái định hình lực lượng này thành mũi nhọn cơ động, chính xác và cực kỳ linh hoạt. Liệu Việt Nam có thể sở hữu một lực lượng pháo binh đủ sức răn đe trong chiến tranh công nghệ cao thế kỷ 21? ----------------------------- 📋 ""CDMedia - Quân sự"" là một nền tảng chuyên sâu kết nối những kiến thức và thông tin xoay quanh lĩnh vực quân sự. Dựa trên các nguồn đáng tin cậy từ nhiều phía, kênh mang đến cho khán giả một cái nhìn đa chiều về các chiến lược quân sự, công nghệ quốc phòng từ quá khứ tới hiện đại.
Mọi sự ủng hộ cho kênh mời các bạn donate qua: - STK: 0393331668 - Ngân hàng BIDV - Nguyễn Việt Cường - Momo: 0393331668"
Đã 50 năm trôi qua, kể từ ngay những lọt pháo của quân giải phóng dền vang tại phi trường Tân Sơn Nhất, mở đường cho đại thắng mùa xuân năm 1975.
Lịch sử đã gọi tên pháo binh Việt Nam như một lực lượng mũi nhọn đầy tự hào.
Xong, mũi trang sử vàng cũng đồng thời đặt ra một thách thức mới.
Làm sao để lực lượng pháo binh tiếp tục trưởng thành, phát triển và đủ sức bước phá giữa những chuyển động khó lường của thời đại.
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, mô hình chiến tranh tổng lực, nơi các bên chủ yếu gian đe nhau bằng sức mạnh hủy diệt của tên lửa đạn đạo và vũ khí hạt nhân, dần mất đi vai trò trung tâm.
Thay vào đó, thế giới chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của hình thái chiến tranh tiêu hào, quê phá kéo dài.
Xung đột hiện tại không còn đơn thuần diễn ra giữa các quân đội chính quy, mà ngày càng xuất hiện nhiều lực lượng phi truyền thống, bao gồm cả những nhóm vũ trang phi nhà nước.
Sự thay đổi này khiến cho chiến thuật tấn công quy mô lớn theo phương thức truyền thống trở nên kém hiệu quả,
buộc các bên tham chiến phải thích ứng bằng cách ưu tiên lối đánh phân tán, linh hoạt và kéo dài thời gian.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu cấp thiết đạt ra là cần có những loại vũ khí cấp chiến dịch, chiến thuật hiệu quả, đủ sức duy trì áp lực lên đối phương trong thời gian dài,
vừa gây tiêu hào sinh lực địch, vừa duy trì khả năng đảm bảo hậu cân.
Những cuộc xung đột gần đây như Nga-Ukraine hay Israel-Hamas là minh chứng rõ nét cho xu thế này.
Tại chiến trường Ukraine, dù sở hữu kho vũ khí chiến lược đồ sộ,
Nga vẫn buộc phải dựa chủ yếu vào lực lượng pháo binh để duy trì sức ép lên các tuyến phòng thủ của đối phương.
Mỗi ngày, hàng chục ngàn viên đạ pháo được bán ra, biên pháo binh trở thành vua chiến trường một lần nữa trong thời hiện đại.
Trong khi đó, tại giải Gaza, Israel cũng sử dụng các tổ hợp pháo tự hành và pháo phan lực
nhằm pháo hủy các vị trí ẩn ấp kho vũ khí và công sự của Hamas
nhằm giảm thiểu rủi ro cho bộ binh khi tiến hành các chiến dịch mặt đất.
Điểm chung của các chiến trường này là vũ khí chiến lược như tên lửa tầm xa hay máy bay ném bom hạng nặng
không thể thay thế vai trò của pháo binh trong các chiến dịch tiêu hào liên tục và có kiểm soát.
Pháo binh, với ưu điểm là hỏa lực mạnh, tốc độ phản ứng nhanh
và chi phí thấp hơn nhiều so với vũ khí chiến lược,
đang ngày càng khẳng định vai trò then chốt trong tác chiến hiện đại.
Chính vì vậy, việc xây dựng một lực lượng pháo binh đủ mạnh, cơ động,
linh hoạt và sẵn sàng chiến đấu dài ngày trở thành yêu cầu bắt buộc
đối với bất kỳ quốc gia nào muốn đảm bảo an ninh quốc phòng trong thời đại mới.
Việt Nam, vốn có truyền thống lấy phòng thủ làm trọng,
cần phải đặc biệt chú ý đến việc duy trì và hiện đại hóa lực lượng pháo binh
nhằm đảm bảo khả năng gian đe và phản ứng nhanh trước mọi tình huống tiềm tảng.
Trên thực tế, pháo binh Việt Nam từ trước đến nay là một lực lượng không hề yếu.
Thậm chí, nếu xét riêng trong khu vực, chúng ta có thể được coi là một tay chơi sừng sỏ,
nếu không muốn nói là luôn giữ vị trí số 1 Đông Nam Á về năng lực pháo binh.
Từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đến chiến tranh bảo vệ biên giới,
pháo binh quân đội nhân dân Việt Nam luôn thể hiện sự xuất sắc
cả về kỹ thuật, chiến thuật và tinh thần chiến đấu.
Nếu chỉ xét trên bình diện khu vực, một số nước tuy có trong biên chế
các hệ thống pháo binh hiện đại hơn chúng ta về máu má,
nhưng số lượng lại hết sức hạn chế.
Thực tế, tổng số lượng những khẩu đội được coi là hiện đại của những quốc gia đó,
thậm chí còn chưa đủ để biên chế cho một trung đoàn tiêu chuẩn,
nên sẽ là rất khiên cưỡng khi đặt họ lên cùng bàn cân
và so sánh một cách nghiêm túc với pháo binh Việt Nam.
Mặt khác, một số nước tuy duy trì lực lượng pháo binh với quy mô không nhỏ,
nhưng xét về tổng thể, cả về số lượng, khả năng sẵn sàng chiến đấu
lẫn kinh nghiệm tác chiến thực tế vẫn còn thua sút rất xa so với lực lượng của ta.
Cũng cần nhấn mạnh rằng, trong nhiều trường hợp, số lượng cũng chính là một dạng chất lượng.
Một lực lượng pháo binh hùng hậu về quân số, phong phú về chủng loại,
tự chủ hoàn toàn về đạn dược và dày dạng trận mạc
là một lợi thế chiến lược mà không dễ gì san lấp được chỉ bằng vài chục hệ thống pháo mới,
vốn chỉ bằng số lẻ trong biên chế lực lượng pháo binh của ta.
Tuy nhiên, trong bối cảnh địa chính trị thế giới và khu vực đang có nhiều biến đổi,
việc ưu thế này được duy trì không còn là điều hiển nhiên.
Các quốc gia trong khu vực cũng đang chú trọng phát triển lực lượng pháo binh của riêng mình.
Campuchia, người làng riêng phía Nam,
thời gian gần đây đã có những bước tiến đáng kể cho việc tăng cường năng lực pháo binh.
Thông qua hợp tác quốc phòng với Trung Quốc, Phnom Penh đã tiếp nhận một số dòng pháo hiện đại
như pháo tự hành bánh lốt SH-1 cỡ 155 ly và hệ thống pháo phản lực PHL-81.
Đây là những trang bị có tính năng tốt,
giúp Campuchia, vốn trước đây có năng lực pháo binh hạn chế,
nay có thể tạo ra sức ép tương đối ở khu vực biên giới.
Trong khi đó, ở phía Bắc, Trung Quốc, một siêu cường quân sự với tham vọng khu vực rộng lớn,
sở hữu lực lượng pháo binh mà quy mô và chính độ công nghệ thuộc tốp đầu thế giới.
Các dòng pháo tự hành hiện đại như PLZ-05 hay hệ thống pháo phản lực phóng loạt PCL-191
với tầm bắn lên tới 500 km cho phép PLA có thể triển khai hỏa lực nhanh chóng
và chính xác trên quy mô lớn.
Đồng thời, việc tích hợp pháo binh với các hệ thống trinh sát không người lái như UAV
và chỉ thị mục tiêu bằng AI càng khiến cho sức mạnh pháo binh của Trung Quốc
trở nên vượt trội trong các tình huống xung đột ở cơn độ cao.
Trong bối cảnh đó, việc duy trì và từng bước hiện đại hóa lực lượng pháo binh
là một yêu cầu khách quan đối với Việt Nam.
Việc này có thể hiểu là không nhắm vào bất kỳ quốc gia nào
mà chỉ đơn thuần là nhằm tăng cường năng lực quốc phòng,
đảm bảo khả năng tự vệ và bảo vệ vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ.
Hiện tại, có thể nhận thấy lực lượng pháo binh Việt Nam,
dù có truyền thông chiến đấu lâu dài và kinh nghiệm thực tiễn phong phú,
vẫn tồn tại một số điểm hạ chế nhất định.
Độ cơ động của các đơn vị pháo binh còn thấp,
việc phân bổ lực lượng chưa thực sự đồng đều giữa các hướng chiến lược
và trang bị vũ khí cơ bản đã dần bộc lộ sự lạc hậu
so với yêu cầu của chiến tranh hiện đại.
Đây là những yếu tố cần được lưu tâm,
đặc biệt khi Việt Nam kiên trì theo đuổi học thuyết phòng thủ toàn diện,
coi lực lượng lục quân nói chung và pháo binh nói riêng
là các trụ cột chiến lược bảo vệ tộc quốc.
Trong biên chế pháo binh chiến dịch của quân đội Việt Nam hiện nay,
xương sống vẫn là hai dòng pháo kéo là lựu pháo M46 và D20.
M46 là loại pháo dã chiến nòng dài, cỡ 130 ly, nổi bật với tầm bắn xa,
được ưu tiên trang bị cho các đơn vị ở khu vực phía Nam.
Trong khi đó, D20 là lựu pháo nòng 152 ly, có hỏa lực mạnh nhưng tầm bắn ngắn hơn,
thường được biên chế cho các đơn vị phía Bắc,
các dòng pháo tự hành như 2S1 Gvozdika hay 2S3 Akacia
vốn đem lại lợi thế lớn về khả năng cơ động và tác chiến linh hoạt,
hiện tại vẫn còn hạn chế về số lượng trong các đơn vị pháo binh chủ lực.
Điều này dẫn đến những khó khăn không tưởng trong trường hợp cần nhanh chóng cơ động
các trung đoàn pháo binh tới những địa bàn tác chiến trọng yếu
hoặc tham gia các chiến dịch quy mô lớn.
Dĩ nhiên, việc tổ chức, bố trí lực lượng đã được Bộ Quốc phòng tính toán
rất kỳ lương trên cơ sở tình hình thực tế,
và chúng ta không thể ngồi đây để hướng dẫn các chuyên gia
về những quyết sách đã qua quá trình cân nhắc chiến lược lâu dài.
Tuy nhiên, điểm yếu về hệ số kỹ thuật của các loại pháo
có tuổi đời gần 80 năm vẫn là một thực tế không thể phủ nhận.
Có thể sẽ có ý kiến cho rằng, chỉ con cân vận hành được,
pháo binh Việt Nam vẫn có thể phát huy hiệu quả
nhờ sự sáng tạo, mưu trí và kinh nghiệm chiến đấu dây dạng.
Quan điểm này có phần đúng, bởi con người luôn là yếu tố quyết định chiến thắng.
Thế nhưng, trong bối cảnh tác chiến hiện đại,
khi đối phương cũng là những lực lượng có trình độ tổ chức,
khả năng vận hành chiến thuật tương đương,
thì nền tảng trang bị kỹ thuật sẽ đóng vai trò rất lớn
trong việc quyết định cục diện chiến trường.
Giữa hai lực lượng có trình độ nhân lực tương đồng,
bên có trang bị hiện đại hơn, khả năng cơ động nhanh hơn,
tầm bàn xa và chính xác hơn sẽ là bên chiếm ưu thế.
Đó là điều tất yếu.
Vì vậy, không có gì phải bàn cãi,
hiện đại hóa pháo binh là yêu cầu mang tính thời đại
và cần được cấp thiết thực hiện.
Trong những năm qua,
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn trong công nghiệp quốc phòng.
Với năng lực tự chủ hoàn toàn các sản phẩm có giá trị côn lõi,
đồng thời mang tham vọng trở thành một tên tuổi uy tín
trên thị trường xuất khẩu vũ khí thế giới.
Công cuộc hiện đại hóa lực lượng pháo binh cũng đang được đẩy mạnh.
Việc làm chủ khả năng sản xuất đạn dược,
tự hành hóa các mẫu pháo 105 ly cũ
hay chế tạo một số mẫu pháo tự hành 122 ly,
130 ly từ nền tảng pháo kéo truyền thống
là những bước tiến đáng tự hào.
Hiện nay, việc tự hành hóa pháo dã chiến
theo hướng tận dụng nền tảng khung gầm xe tải quân sự nôi địa
như ZIL-131, CAM-AZ
hay các mẫu xe do Việt Nam tự chế tạo
là một hướng đi hợp lý trong điều kiện thực tế.
Bên cạnh đó,
việc tự chủ các dòng đạn pháo các cỡ
từ 105, 122, 130 cho đến 152 ly
không chỉ đảm bảo nguồn cung huấn luyện,
sẵn sàng chiến đấu,
mà còn là cơ sở để nghiên cứu,
phát triển các loại đạn pháo dẫn đường,
đạn pháo thông minh
vốn là xu thế tất yếu trong tương lai gần.
Một số mẫu đạn cải tiến
về tầm bắn và độ chính xác
cũng đã được xúc tiến thử nghiệm
cho thấy tiềm năng rất lớn
của nền công nghiệp quốc phòng trong nước.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng
quá trình hiện đại hóa pháo binh Việt Nam hiện nay
vẫn còn đang ở mức độ sơ cấp,
chưa thực sự đủ khả năng
để tạo nên một bước nhảy vọt
khoát lên mình lực lượng pháo binh
một diện mạng hoàn toàn mới.
Nguyên nhân sâu xa
có lẽ nằm ở bài toán về giải pháp kỹ thuật
cũng như nền tảng công nghệ lõi
là những yếu tố then chốt
để chế tạo thành công
một hệ thống pháo thế hệ mới.
Luyện kim đặc trùng
để sản xuất nòng pháo chịu áp suất cực cao,
công nghệ vật liệu mới cho khung thân,
động lực học của tổ hợp cơ giới,
cơ chế nạp đạn tự động,
hệ thống điều khiển hóa lực điện tử tích hợp
đều là những lĩnh vực phức tạp
đòi hỏi thời gian đầu tư
Việt Nam đã và đang đạt được những tiến bộ nhất định
ở một số khâu riêng lẻ
nhưng để có thể tự sản xuất hoàn toàn
một mẫu pháo hiện đại từ A tới Z
vẫn cần thêm những bước đi vững chắc hơn nữa
cả về nền tảng công nghệ,
trình độ kỹ sư,
cũng như khả năng phối hợp tổng thể
của nền công nghiệp quốc phòng.
Trong quá trình hẹn đại hóa,
Việt Nam đã xác định rõ một hướng đi khả thì
tìm kiếm và tiếp cận các giải pháp công nghệ tiên tiến từ nước ngoài
nhằm nhanh chóng thu hẹp khoảng cách
về kỹ thuật và đẩy mạnh tiến trình nội địa hóa
trong tương lai.
Đây là cách làm thực tế đã chứng minh hiệu quả
trong nhiều lĩnh vực công nghiệp quốc phòng trước đây.
Trong quá khứ, từng xuất hiện những thông tin cho rằng
Việt Nam đã bày tỏ sự quan tâm
và đề nghị đặt mua các mẫu pháo tự hành
hiện đại như CZ của Pháp,
MSTAS của Nga
hay gần đây là K9 Thunder của Hàn Quốc.
Việt Nam, vốn quen thuộc
với hệ thống pháo Nga Xô,
đã tự chủ khá tốt trong nguồn đạn dược tương ứng.
Tuy nhiên, với su thế phát triển
dòng đạn 152 Li
thế hệ Nga Xô,
vốn thực chất là phiên bản thu gọn của đạn pháo 155 Li,
đã chạm tới giới hạn kỹ thuật
do không còn dư địa để tích hợp các cải tiến mới
trong thiết kế đạn.
Hiện nay, xu hướng chuyển dịch
sang đạn pháo 155 Li
đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.
Ngay cả Trung Quốc,
một cương quốc quân sự có lợi thế đi sau,
có thể chắt lọc và áp dụng các công nghệ tối ưu nhất,
cũng đang ưu tiên phát triển
và trang bị pháo tự hành 155 Li
cho lực lượng lục quân.
Các mẫu pháo tự hành hiện đại nhất của Trung Quốc
như PLZ-05, PLZ-52
hay PLC-181
đều sử dụng đạn 155 Li
nhằm đạt được tầm bắn xa hơn,
độ chính xác cao hơn
và khả năng tích hợp công nghệ dẫn đường tiên tiến.
Có thể thấy, đạn 155 Li
không chỉ giúp gia tăng tầm bắn
và hiệu suất tác chiến,
mà còn mở ra khả năng áp dụng các công nghệ
đạn dẫn đường, đạn thông minh thế hệ mới.
Điều mà chuẩn 152 Li cũ
Trên thực tế, pháo binh Nga dù thể hiện
sự áp đảo tại chiến trường Ukraine,
nhưng phần lớn là nhờ ưu thế về số lượng
và khả năng hậu cần đạn dược.
Còn khi xét về thông số kỹ chiến thuật,
các dòng pháo Nga hiện tại vẫn tỏ ra
thua kém so với những hệ thống pháo
cùng phân hạng của phương Tây,
cả về tầm bắn, tốc độ tác xạ cho tới độ chính xác.
Thêm vào đó,
việc Nga đang mắc kẹt trong cuộc xung đột Ukraine
cũng khiến khả năng sản xuất,
bàn giao và đặc biệt là
chuyển giao công nghệ gặp nhiều hạn chế,
ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi
của các dự án hợp tác quốc phòng.
Chính vì vậy, việc Việt Nam quan tâm
đến những hệ thống pháo hiện đại,
chuẩn NATO như K9 Thunder của Hàn Quốc
là hoàn toàn dễ hiểu.
Hàn Quốc đã từ lâu trở thành đối tác
chiến lược toàn diện với Việt Nam,
và K9 cũng là một trong những sản phẩm
mà Seoul sẵn sàng chuyển giao công nghệ
cho các quốc gia đối tác.
Đây là một lợi thế then chốt,
tạo điều kiện thuận lợi cho việc nôi địa hóa
và tiến tới sản xuất trong nước.
Mặc dù chưa có khẳng định chính thức,
nhưng nếu thương vụ này thành công,
chúng ta hoàn toàn có cơ sở
để xây dựng một hệ sinh thái pháo tự hành hiện đại,
tự lắp ra ban đầu,
tiến tới nội địa hóa sâu rộng
và xa hơn là phát triển các mẫu pháo tự hành
do chính Việt Nam thiết kế.
Tương tự cách chúng ta đã thành công
với dây chuyển sản xuất súng trường
Gali ACE của Israel trước đây.
Thực tế đã cho thấy,
nhiều quốc gia mua K9 đã thành công
trong việc tiếp nhận công nghệ
và phát triển các mẫu pháo tự hành hiện đại cho riêng mình,
như Thổ Nhĩ Kỳ
với T155 Fitina,
Ấn Độ với K9 Vajra
hay Australia với AS9 Huntsman.
Những ví dụ trên sẽ là kinh nghiệm quý báu
để Việt Nam tham khảo
trong quá trình hiện đại hóa lực lượng pháo binh của mình,
tạo nền tảng để lực lượng pháo binh nói riêng
hay lục quân Việt Nam nói chung
có thể vươn tới chuẩn hiện đại hóa cao hơn,
đáp ứng tình hình mới.
Tuy nhiên,
trong bối cảnh chiến tranh hiện đại,
bản thân nhiệm vụ tự hành hóa
và tự động hóa pháo binh thôi là chưa đủ.
Việt Nam là quốc gia đi sau,
vì vậy buộc phải đi tắt đón đầu,
hướng tới việc phát triển
và tích hợp các dòng đạn pháo thông minh thế hệ mới.
Trong đó,
các công nghệ đạn dẫn đường bằng GPS,
INS, dẫn đường bằng radar,
cảm biến hồng ngoại hay laser bán chủ động
cũng cần được tính tới ngay từ giai đoạn ban đầu.
Trong số này,
đạn pháo dẫn đường bằng GPS
được xem là xu thế chủ đạo trên thế giới
nhờ khả năng tấn công chính xác
ở cửa ly rất xa,
giảm mạnh số lượng đạn cần thiết để tiêu diệt mục tiêu.
Tuy nhiên,
việc phát triển một hệ thống đạn GPS nội địa
đòi hỏi phải xây dựng mạng lưới vệ tinh riêng,
kéo theo yêu cầu đầu tư cực lớn
vào công nghệ vũ trụ,
hạ tầng định vị và thông tin liên lạc an toàn.
Dù Việt Nam hiện cũng đã xúc tiến
các chương trình phát triển vệ tinh viễn thám
và viễn thông,
phục vụ cả mục tiêu dân sự lẫn quốc phòng.
Xong, đây vẫn là một lộ trình dài hạn
chưa thể đáp ứng ngay nhu cầu pháo binh trong tương lai gần.
Một giải pháp tình thế
là tận dụng các dịch vụ vệ tinh thương mại,
tương tự như cách Ukraine
khai thăng mạng Stalin trong chiến tranh
cũng là một hướng đi khả dĩ.
Tuy nhiên, với một quốc gia đề cao tính
tự chủ quốc phòng và hạn chế phụ thuộc
vào các nền tảng bên ngoài như Việt Nam,
thì giải pháp này cũng tiêm ẩn không ít rủi ro
về an ninh chiến lược.
Trong khi đó, các công nghệ đạn pháo dẫn đường
bằng radar chủ động hoặc cảm biến hông ngoại
lại yêu cầu trình độ công nghệ chế tạo cực kỳ cao,
hệ thống điện tử
và chi phí đầu tương nghiên cứu sản xuất
vô cùng lớn,
vượt quá sức chịu đựng cao về tài chính
lẫn năng lực hiện nay của công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Chính vì vậy, công nghệ đạn thông minh
dẫn đường bằng laser bán chủ động
được đánh giá là giải pháp phù hợp
và khả thi nhất trong giai đoạn tới.
Với nguyên lý hoạt động tương đối đơn giản
nhưng hiệu quả cao,
loài đạn này có thể tự tìm tới mục tiêu
được chiếu xạ nhờ nguồn laser ngoài,
như trinh sát pháo binh mặt đất
hoặc từ các loại UAV do thám
chỉ thị mục tiêu,
một lĩnh vực mà Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể
trong thiết kế, chế tạo và vận hành
trong suốt thời gian qua.
Nếu kết hợp tốt giữa hệ thống pháo binh hiện đại
với đạn pháo dẫn đường bằng laser bán chủ động,
Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra
một lực lượng pháo binh thế hệ mới
có khả năng tác chiến chính xác, cơ động
và hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu
chiến tranh công nghệ cao trong tương lai.
Bên cạnh đạn pháo thông minh,
một hướng đi tiềm năng khác cho tham vọng hiện đại hóa
pháo binh Việt Nam là mở rộng khả năng
tác chiến tầm xa và tập kích
quy mô lớn thông qua việc phát triển
các hệ thống pháo phản lực phóng loạt
MLRS. Hiện tại,
chúng ta đã có những nền tảng thuận lợi
cho bước tiến này, thành công với
tên lửa đối hạng VSM-01A
đã chứng minh năng lực làm chủ
công nghệ động cơ tên lửa nhiên liệu rắn.
Dù chỉ là dùng cho pha khởi tốc,
yếu tố cốt lói để phát triển đạn tên lửa
MLRS có độ ổn định và tầm án xa.
Sau trong đó,
việc Việt Nam cũng có nhiều năm kinh nghiệm khai thác,
vận hành và bảo trí các hệ thống
đạn dẫn đường là Astra
và Acura của Israel,
cũng giúp lực lượng pháo binh có cơ hội
từng bước tiếp cận, học hỏi và
mồ sẻ chất sám tới những sản phẩm
Từ những nềm mong vương trắc này,
Việt Nam hoàn toàn có khả năng phát triển
một dòng MLRS dẫn đường hiện đại
thay thế cho các tổ hợp BM-21G đã lạc hậu.
Đây là loại pháo phản lực huyền thoại
do Liên Xô sản xuất,
được Việt Nam sử dụng rộng rãi từ thầm niên 1970.
Tuy nhiên,
với thích kế 40 nòng, 122 ly,
BM-21 chủ yếu phù hợp
với lối đánh áp chế diện rộng
hơn là tấn công chính xác.
Và trong một cuộc chiến mang tính cục bộ,
nơi các lực lượng đối địch sẽ phân tán
thay vì tập trung đông,
thì kiểu hóa lực như vậy không phát huy được quá nhiều hiệu quả.
Xa hơn,
việc làm chủ công nghệ động cơ nhiên liệu rắn
và dẫn đường hiện đại sẽ mở ra
cơ hội phát triển những hệ thống tên lửa đạn đạo
chiến thuật tầm ngắn thế hệ mới,
phục vụ thay thế cho các tổ hợp Skud, Kuki
từng biết khép lại giai đoạn phù thuộc
và khí tài lạc hậu,
và mở ra chương mới cho lực lượng pháo binh.
Tuy nhiên, khoảng cách công nghệ giữa
việc chế tạo tên lửa cận âm như VSM-01
và các loại tên lửa đạn đạo
hay siêu thanh là không hề nhỏ,
đặc biệt là trong khâu thiết kế vỏ.
Các tên lửa tốc độ cao
đòi hỏi vật liệu có khả năng chịu được
nhiệt độ lên tới vài nghìn độ C,
trong khi các dòng bay dưới Mach 1
chỉ cần chịu nhiệt khoảng 600 độ C.
Dẫu vậy, đây cũng không phải là
rào cản không thể vượt qua.
Thực tế cho thấy Việt Nam đã từng bước tích lưu
năng lực thông qua quá trình nội địa hóa vật liệu,
hợp tác kỹ thuật với đối tác nước ngoài
và tận dụng các công nghệ lưỡng dụng
từ ngành hàng không vũ trụ.
Những bước đi này thể hiện một hướng phát triển bái bản
có cơ sở và đầy triển vọng
trong việc tiến tới làm chủ công nghệ tên lửa hiện đại hơn.
Qua trọng hơn cả,
việc biên chế các hệ thống MLRS tầm xa
và tên lửa đạn đạo chiến thuật
vào lực lượng pháo binh
không chỉ là nhu cầu trang bị thuần túy
mà còn phù hợp với đặc điểm tác chiến của Việt Nam,
cần những phương tiện hỏa lực
có khả năng triển khai nhanh, cơ động linh hoạt
tập kích sâu và chính xác
vào trung tâm chỉ huy, kho tàng
sân bay chuyến thuật của đối phương.
Những yếu tố này vừa đảm bảo yêu cầu phóng ngự khu vực
vừa tạo ra sức tấn công đáng kể
có phần nâng cao vị thế
gian đe tổng thể
và khả năng chủ động chiến lược
trong một tình huống đối đầu có thể xảy ra.
Nếu đồng bộ hóa cách nỗ lực hiện đại hóa này
từ pháo tự hành tiên tiến
đạn pháo dẫn đường thông minh
đến các hệ thống MLRS
tầm xa chính xác cao
Việt Nam hoàn toàn có thể tái định hình lực lượng pháo binh
thành một múi nhọn đa năng, cơ động
chính xác và linh hoạt
đủ sức đáp ứng trọn vẹn yêu cầu tác chiến
trong môi trường chiến tranh công nghệ cao
thế kỷ 21.
Và rõ ràng, dựa trên nền tảng vững chắc
mà công nghiệp quốc phòng đã dày công xây dựng
trong thời gian qua, chúng ta có đầy đủ
căn cứ để tin tưởng rằng
trong tương lai không xa, pháo binh Việt Nam
sẽ tiến thẳng lên hiện đại
trở thành một lực lượng đáng gơm
và luôn sẵn sàng dáng những đòn sâm xét
lên bất kỳ kẻ thù nào
dám đe dọa chủ quyền thiên liêng của Tổng quốc.