VIỆT NAM SẼ TRỞ THÀNH NHẬT BẢN THỨ 2?
Blog Hoa Mai
965 người theo dõi
#BlvHaiThanh #BLVHảiThanh #BLVhaiThanhStory
Đăng ký kênh tại đây các bạn nhé!
https://bit.ly/blvhaithanh
#ThếGioi #ĐịaLý #QuốcGia #ViệtNam #Dântộc #VănHóa #DuLịch #VănHóaViệtNam #XemGìHômNay #Thếgiớiquanhta #topđấtnước
Nhật Bản từ lâu đã là một tấm gương trói sáng về sự phát triển.
Một đất nước không phải là quá lớn, tài nguyên thì lại khiêm tốn,
bước ra khỏi chiến tranh với hai thành phố bị ném bom nguyên tử.
Vậy mà chỉ sau vài thập kỷ,
họ đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế hùng mạnh nhất trên thế giới.
Người Nhật đã chứng minh rằng với diện tích vừa phải và dân số đông,
hoàn toàn họ có thể tạo ra kỳ tích.
Việt Nam ngày hôm nay cũng có hơn 100 triệu dân,
diện tích có thể nói là tương đương với Nhật Bản.
Vậy thì câu hỏi đặt ra là
liệu chúng ta có thể trở thành Nhật Bản thứ hai được hay không?
Đâu là những sự tương đồng giữa Việt Nam và Nhật Bản?
Nói về mặt địa lý, nếu đặt bản đồ hai nước cạnh nhau,
chúng ta sẽ thấy một sự tương đồng rất rõ.
Ngay từ hình dáng thì Nhật Bản cũng đã khá giống với Việt Nam rồi.
Nhật Bản có diện tích khoảng 377.000 km2,
còn Việt Nam là hơn 330.000 km2, diện tích tranh lệch không đáng kể.
Cả hai đều là những quốc gia tầm chung về diện tích.
Tất nhiên, chúng ta không nhỏ bé như Singapore,
nhưng cũng không quá rộng lớn, không quá khó quản lý như Trung Quốc, Ấn Độ hay Nga.
Một diện tích như vậy là đủ để xây dựng một nền kinh tế đa ngành đa nghề,
từ nông nghiệp, công nghiệp đến dịch vụ,
đồng thời dễ dàng triển khai hạ tầng và quản lý xã hội.
Nhật Bản đã từng tận dụng diện tích này để phát triển hài hòa,
vừa có nông thôn, vừa có công nghiệp, vừa có thành phố hiện đại,
và Việt Nam hoàn toàn có thể làm điều tương tự.
Và nếu chỉ nhìn bằng mắt thường, bản đồ Nhật Bản và bản đồ Việt Nam
giống như hai người anh em xa xôi.
Một bên là quần đảo ngoài khơi Thái Bình Dương,
một bên là đất liền ven Biển Đông.
Nhưng cả hai đều cong cong hình chữ S, đều dài hẹp theo chiều từ Bắc đến Nam.
Hồi bé mình xem bản đồ Việt Nam và bản đồ Nhật Bản cứ thấy giống giống nhau.
Cả hai quốc gia đều dựa vào biển để sinh tồn và phát triển.
Chính những sự tương đồng này đã khiến người ta dễ tin rằng
nếu mà Nhật Bản làm được thì Việt Nam cũng có thể.
Rõ ràng về mặt địa lý, cả Nhật Bản và Việt Nam đều có vị trí hướng biển.
Nhật Bản nằm ở rìa phía đông của Châu Á, nhìn ra Thái Bình Dương.
Việt Nam cũng nằm ở rìa phía đông của bán đảo Đông Dương
với đường bờ biển dài hơn 3.200 km và nhìn ra Biển Đông.
Vị trí ấy cho phép cả hai nước trở thành cửa ngõ giao thương quốc tế,
nơi hàng hóa và ý tưởng từ khắp nơi trên thế giới có thể sẽ đi qua.
Nhật Bản đã tận dụng lợi thế cảng biển để xuất khẩu hàng hóa ra toàn cầu,
biến mình trở thành một trung tâm thương mại và công nghiệp.
Việt Nam hiện nay cũng đang đi theo con đường đó,
với những cảng như Hải Phòng, Cái Mất Thị Vải ngày càng nhộn nhịp tàu bè ra vào.
Đó là địa lý, còn về mặt dân số, chúng ta đang nói đến cột mốc 100 triệu người.
Điểm tương đồng này rất quan trọng.
Nhật Bản khi bước vào giai đoạn cất cánh kinh tế trong thập niên 1960,
có khoảng 100 triệu dân.
Việt Nam ngày hôm nay cũng vượt mốc 100 triệu dân.
Đây là một con số mang tính biểu tượng.
Trong hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới,
chỉ có khoảng 15 nước đã tới mốc dân số từ 100 triệu người trở lên.
Đây là một cộng lợi bộ đặc biệt,
nơi chỉ có những quốc gia có quy mô dân số tốt mới lọt vào.
Và trong nhóm đó, chỉ có Nhật Bản thoát được 7 thu nhập trung bình để trở thành một quốc gia phát triển.
Nên nhắc lại một lần nữa đó là chỉ có Nhật Bản thoát được 7 thu nhập trung bình để trở thành quốc gia phát triển.
Và chính điều này khiến mốc 100 triệu dân trở thành một con số mang tính biểu tượng.
Nó không chỉ là một con số bình thường, không chỉ là số người bình thường,
mà còn là danh giới giữa một quốc gia vừa vừa và một quốc gia đủ lớn để có tiếng nói trọng lượng trên thế giới.
Một đất nước có 100 triệu dân nghĩa là tự thân đất nước này đã là một thị trường khổng lồ.
Chỉ cần người dân trong nước ăn, mặc, ở, đi, lại, giải trí thôi thì cũng để đủ nuôi sống rất nhiều những doanh nghiệp.
Nhật Bản chính là một ví dụ điển hình.
Toyota, Sony, Panasonic, Honda trước khi trở thành những thương hiệu toàn cầu
đều đã lớn lên nhờ việc chinh phục thị trường nội địa với hơn 100 triệu khách hàng.
Hãy thử hình dung bây giờ mà một doanh nghiệp ở một nước nhỏ như là Singapore hay là Thụy Sĩ
dù có phát triển nhưng mà nếu chỉ bán hàng cho dân trong nước đó,
chỉ dựa vào dân trong nước đó thì họ có làm được hay không?
Họ có phát triển được hay không?
Hay là họ bắt buộc phải hướng ra ngoài ngay từ đầu?
Còn ở những quốc gia cỡ 100 triệu dân,
thị trường nội địa đã là một bệ phóng cực kỳ chắc chắn trước khi hướng ra ngoài.
Không chỉ dừng lại ở thị trường, 100 triệu dân còn đồng nghĩa với một lực lượng lao động khổng lồ.
Công nghiệp hóa luôn đòi hỏi nhân công trẻ dồi dào, sẵn sàng làm việc trong các nhà máy công sự.
Nhật Bản những năm 1960 bùng nổ kinh tế cũng nhờ lực lượng lao động trẻ và kỷ luật cao.
Việt Nam hiện nay đang bước vào giai đoạn dân số vàng
và chúng ta có lẽ cũng nên học Nhật Bản về cách sử dụng nguồn lực lao động.
Đây là một cơ hội chỉ xuất hiện một lần trong lịch sử,
bởi vì nếu không cẩn thận thì dân số nước ta sắp già mất rồi.
Bên cạnh kinh tế, dân số trên 100 triệu cũng mang lại sức mạnh chính trị và vị thế của một quốc gia.
Một quốc gia đông dân luôn có tiếng nói lớn hơn trong các tổ chức quốc tế.
Indonesia với hơn 270 triệu dân đang trở thành một nhà lãnh đạo của ASEAN.
Brazil với hơn 200 triệu dân là một cường quốc tại Nam Mỹ.
Nigeria với hơn 220 triệu dân ngày càng có vai trò quan trọng ở châu Phi.
Nhật Bản với hơn 100 triệu dân là một nền kinh tế phát triển trở thành trụ cột ở châu Á.
Tất nhiên, đó là chúng ta đang tô hồng, đang chỉ nói về những điều tích cực,
còn cái gì cũng có hai mặt của nó.
100 triệu dân cũng sẽ là một áp lực khổng lồ.
Nếu một đất nước dân mà giàu thì đó là sức mạnh,
nhưng nếu đông dân mà nghèo thì đó sẽ là gánh nặng với hàng trăm triệu miệng ăn,
hàng trăm triệu nhu cầu y tế, giáo dục và việc làm.
Đây chính là lý do nhiều nước đông dân như Indonesia, Brazil, Mexico hay Nigeria
mãi loay hoay trong bẫy thu nhập trung bình.
Họ có dẫn số đông nhưng năng suất lao động không cao, cơ cấu kinh tế kém đa dạng,
cải cách thiếu triệt để, khiến nguồn lực lượng lao động đông đảo
lại không thể biến thành sức mạnh mà lại trở thành một áp lực ngược với xã hội.
Quá đông dân, quá nhiều vấn đề để phải lo.
Nhật Bản đặc biệt ở chỗ, họ là quốc gia duy nhất trong nhóm 15 nước đông dân
vượt bẫy thu nhập trung bình một cách thành công.
Điều này chứng minh rằng, dân số 100 triệu không phải là gánh nặng tất yếu.
Ngược lại, nếu một quốc gia biết cách khai thác, biết cách biến dân đông thành lợi thế,
thì 100 triệu dân có thể trở thành một động cơ khổng lồ cho phát triển.
Nhật đã làm được điều đó nhờ kỷ luật lao động, giáo dục, công nghiệp hóa
và sự hỗ trợ từ những đồng minh của mình, đặc biệt là Mỹ.
Và đó cũng sẽ là bài học của những nước đang phát triển như Việt Nam có thể rút ra cho mình.
Như vậy, chúng ta đã thấy những tương đồng về địa lý,
những tương đồng về dân số giữa Nhật Bản và Việt Nam.
Ngoài ra, hai nước còn có tương đồng về lịch sử.
Nhìn vào góc độ lịch sử, Việt Nam và Nhật Bản đều từng trải qua chiến tranh,
từng đối mặt với nghèo đói và tàn phá.
Nhưng chính nghịch cảnh ấy lại dàn luyện ý chí vươn lên.
Người Nhật sau thế chiến thứ hai đã biến đổ nát trở thành cơ hội,
họ lao vào học tập và làm việc để vực dậy đất nước.
Người Việt Nam sau chiến tranh, sau khi thống nhất đất nước và sau đổi mới cũng làm điều tương tự.
Từ một quốc gia nghèo đói, thiếu ăn, trở thành một nước có thu nhập trung bình
với tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc hàng cao nhất trên thế giới trong nhiều thầm kỳ qua.
Chính sự kiên cường và tinh thần vượt khó này là điểm chung lớn giữa hai dân tộc.
Nhưng bạn có biết được không?
Nếu đặt Nhật Bản và Việt Nam lên bản cân, nhiều người sẽ thấy bất ngờ
khi Việt Nam thậm chí còn có vài lợi thế về tự nhiên mà Nhật Bản không có.
Đầu tiên phải kể đến chính là tài nguyên thiên nhiên.
Nhật Bản gần như không có gì trong tay, dầu mỏ không có,
than đá ít ỏi, quạng kim loại cũng thiếu thốn.
Chính vì thế sau thế chiến thứ hai, họ buộc phải nhập khẩu gần như là toàn bộ nguyên liệu
từ nước ngoài để nuôi ngành công nghiệp của mình.
Còn Việt Nam thì khác.
Dọc giả đất hình chữ S đã có than đá ở Quảng Ninh,
dầu khí ở thềm lung địa phía nam, bô xít ở Tây Nguyên, sát thép ở Thái Nguyên.
Chưa kể rừng, sông ngòi, thủy điện.
Việt Nam giàu tài nguyên thiên nhiên hơn Nhật Bản rất nhiều.
Nếu biết khai thác hợp lý thì quả thật là rừng vàng biển bạc
chứ không như những gì mà người ta vẫn nghĩ tiêu cực.
Không chỉ có tài nguyên, Việt Nam còn may mắn hơn Nhật Bản ở một khía cạnh khác
đó là thiên tai, thảm họa tự nhiên.
Nhật Bản nằm trên vành đai lửa Thái Bình Dương,
nơi thường xuyên xảy ra động đất và núi lửa phun trào.
Gần như năm nào, Nhật cũng hứng chịu những trận động đất lớn nhỏ khác nhau,
nhiều khi gây thiệt hại khủng khiếp về người và của.
Không chỉ vậy, Nhật còn thường xuyên hứng bão từ Thái Bình Dương kết hợp với sóng thần,
khiến những thành phố ven biển luôn sống trong nỗi sợ hãi.
Thảm họa Fukushima năm 2011 là một ví dụ.
Động đất và sóng thần đã gây ra khủng hoảng hạt nhân nghiêm trọng.
Trong khi đó, Việt Nam tuy cũng hay bão lũ, đặc biệt là miền Trung mỗi năm
phải chịu trận vài đợt bão lớn, nhưng so với Nhật Bản thì vẫn đỡ hơn nhiều.
Việt Nam không có núi lửa hoạt động lớn.
Việt Nam không có động đất mạnh, cũng không đối diện với sóng thần quy mô khủng khiếp.
Nói một cách dân dã, ta khổ vì bão lũ,
nhưng ta lại tránh được cảnh sáng ngủ dậy đất trời rung lắc như ở Nhật Bản.
Đây là một điều kiện tự nhiên thuận lợi cho giúp việc xây dựng cơ sở hạ tầng,
đô thị, nhà máy ít rủi ro hơn.
Thêm một yếu tố nữa là đất nông nghiệp.
Nhật Bản có địa hình đồi đuối chiếm tới hơn 70% diện tích,
đồng bằng nhỏ hẹp, ít đất canh tác.
Chính vì vậy họ phải nhập khẩu tới hơn 60% lương thực,
phụ thuộc nặng vào nguồn cung từ bên ngoài.
Việt Nam thì khác, dài đồng bằng sông Hồng ở phía Bắc
và đồng bằng sông Cửu Long ở phía Nam đều phi nhiêu, rộng lớn,
biến nước ta trở thành một trong những cường quốc xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Nghĩa là, nếu Nhật Bản phải lo ăn, phải chạy ăn từ sớm,
thì Việt Nam lại có thừa lương thực để nuôi dân, thậm chí còn bán cho thiên hạ.
Chính vì vậy, có thể nói, Việt Nam bước vào cuộc chơi công nghiệp hóa
với một bàn tay có nhiều lá bài hơn so với Nhật Bản ngày xưa.
Nhật đi lên từ bàn tay trắng, tài nguyên ít, thiên tài nhiều,
nhưng họ vẫn vươn lên tới vị trí cường quốc.
Việt Nam ngày hôm nay, với tài nguyên đa dạng, đất đai màu mỡ,
ít hạm họa lớn, thực sự có điều kiện tự nhiên thuận lợi.
Vấn đề còn lại chỉ là, ta có biết cách để tận dụng những lợi thế ấy để vứt phá,
hay lại để chúng trở thành cây bẫy giữa rẫm và tài nguyên giống như nhiều nước khác.
Tất cả những mong muốn tươi đẹp đều có thể trở thành hiện thực,
nếu Việt Nam biết cách tận dụng lợi thế hiện nay.
Diện tích và dân số là nền tảng,
nhưng để vươn lên, chúng ta cần công nghiệp hóa thông minh,
giáo dục nhân tài và thay đổi một cách mạnh mẽ.
Nhật Bản đã chứng minh điều đó là khả thi,
và Việt Nam với sự tương đồng với diện tích, dân số và ý chí,
hoàn toàn có thể viết nên câu chuyện thần kỳ thứ 2 của châu Á.
Việt Nam có thể trở thành Nhật Bản thứ 2.
Cảm ơn vì đã quan tâm theo dõi câu chuyện này.
Nếu cảm thấy thú vị, bạn có thể nhấn nút đăng ký kênh,
bật chuông thông báo và chia sẻ.
Còn bây giờ thì xin được nói lời chào tạm biệt.
Cảm ơn các bạn đã dành sự đồng hành cùng Hải Thanh Story
đi qua những vùng đất, khám phá những điều mới.
Đừng ngân ngại hãy để lại những góp ý và xin được hẹn gặp lại.
