DU LỊCH KHÁM PHÁ - Từ Châu Á Đến Châu Âu XÔN XAO Nói Về Cuộc Diễu Binh 2/9 Của Việt Nam – Ai Nghe Cũng SỐC NẶNG

Du lịch Khám phá
484 người theo dõi
Ngày Quốc Khánh mùng 2 tháng 9 năm nay đánh dấu cổn mốc đặc biệt 80 năm từ ngày ra đời nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Để kỷ niệm sự kiện trong đại này, một cuộc diễu binh quy mô lớn sẽ được tổ chức tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội.
Đây không đơn thuần là lễ nghi kỷ niệm mà còn là dịp để Việt Nam khẳng định sức mạnh quốc phòng, sự trường thanh của quân đội,
đồng thời thể hiện vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.
Hình ảnh hàng ngũ chỉnh tề, khí tài hiện đại, màn trình diễn của không quân, hải quân,
cũng như sự hiện diện của các lực lượng từ Nga, Trung Quốc, Lào, Campuchia và Belarus đã khiến thế giới đặc biệt chú ý.
Không ít chuyên gia ví sự kiện này như một bản giao hưởng ngoại giao quốc phòng,
nơi các nước quan sát cùng một hình ảnh nhưng lại rút ra những thông điệp khác nhau.
Ở Hà Nội, các đơn vị quân đội đang khẩn trương luyện tập từng bước đi đều, từng động tác nghiêm cẩn.
Trong khi đó, tại những thủ đô lớn, giới phân tích quốc tế lại dõi theo từng
chi tiết để giải mã thông điệp chiến lược mà Việt Nam sắp gửi tới.
Phần đồng các bình luận ban đầu trên báo chí quốc tế mang màu sắc tích cực.
Nhiều nước cho rằng đây không phải là biểu hiện hiếu chiến,
mà là sự tự tin của một quốc gia tầm trung đã trưởng thành sau nhiều thử thách lịch sử.
Đối với những người bạn truyền thống như Nga, sự kiện này còn có ý nghĩa ngoại giao lớn lao.
Trong bối cảnh Moscow bị phương Tây cô lập sau cuộc chiến ở Ukraine,
việc được mời tham dự một lễ kỷ niệm tầm vóc tại Hà Nội chẳng khác nào một lời
khẳng định về tình bạn Thủy Trung. Sputnik nhận định sự hiện diện của quân đội Nga
là bằng chứng cho quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, không gì lai chuyển nổi.
Chuyên gia Dmitry Mosiyakov từ Viện Đồng Phương Học Nga phân tích, Việt Nam mời Nga không chỉ
để truyền quá khứ, mà còn để gửi đi thông điệp củng cố niềm tin chiến lược rằng Hà Nội
sẽ không bao giờ quay lưng lại với một đồng minh từng giúp mình trong những giai đoạn gian khó.
Với Trung Quốc, truyền thông chính thức cũng đánh giá cao. Global Times gọi đây là một dấu
mốc quan trọng trong quan hệ Việt-Trung, và nhấn mạnh rằng hình ảnh quân đội hai nước cùng
xuất hiện tại Ba Đình giúp Bắc Kinh chừng ra bộ mặt của một cường quốc có trách nhiệm,
sẵn sàng hợp tác vì hòa bình khu vực, trái ngược với hình ảnh cứng rắn ở Biển Đông.
Đối với Lào và Campuchia, hai người bạn láng giềng thân thiết,
việc tham gia sự kiện cũng mang tính biểu tượng về tình đoàn kết đông dương,
nhất là trong bối cảnh khu vực đang đối mặt với nhiều thách thức an ninh phi truyền thống.
Bên cạnh những lời khen từ bạn bè truyền thống, nhiều học giả phương Tây lại nhìn lễ giữa bình này
ở một góc độ khác. Họ coi đây là minh chứng điển hình cho ngoại giao cây trè,
vừa mềm dẻo vừa kiên định của Việt Nam. Việc có thể mời cả Nga lẫn Trung Quốc,
hai cường quốc vốn cạnh tranh gây gắt cùng tham dự trong hòa bình là một nước cờ ngoại giao
tưởng chứng không thể, theo Reuters. Nhiều tờ báo phương Tây bình luận rằng sự kiện này gửi đi
thông điệp kép. Một mặt, Việt Nam khẳng định khả năng tự vệ bằng cách phổ diễn khí tài hiện đại
như tên lửa bờ Bastion P hay tiêm kích Su-30MK2. Mặt khác, bằng việc mời cả Bắc Kinh tham dự,
Hà Nội cho thấy thiện trí hòa bình và mong muốn duy trì ổn định.
Giáo sư Karen Taylor, chuyên gia hàng đầu nghiên cứu về Việt Nam nhận định lễ giữa bình lần này
phản ánh do triết lý quốc phòng 4-0. Việt Nam thể hiện sức mạnh để khẳng định quyết tâm bảo vệ
chủ quyền, đồng thời chứng minh lập trường không tham gia liên minh quân sự nhằm chống lại bất kỳ ai.
Theo bà, Hà Nội đã khéo léo biến một sự kiện quân sự dễ gây căng thẳng thành một sân khấu
ngoại giao đa phương, nơi mọi cường quốc đều có chỗ đứng và đều cảm thấy được tôn trọng.
Tuy nhiên, sự kiện lớn luôn mang theo cả khen lẫn chê. Một số chuyên gia cảnh báo rằng trong
mọi nước cờ ngoại giao đều ẩn chứa rủi ro. Lo ngại đầu tiên lại xuất phát chính từ Trung Quốc.
Dù truyền thông Bắc Kinh đưa tin theo hướng hữu nghị, nhưng South China Morning Post dẫn lời
ông Lý Minh Trang, chuyên gia quân sự tại Singapore, cho rằng việc Việt Nam phô diễn các loại
vũ khí tấn công hiện đại có thể bị phe diều hâu ở Bắc Kinh diễn giải là hành động khiêu khích.
Khi những quả tên lửa chống hạm siêu thanh Bastion P, vốn được mệnh danh là sát thủ tàu sân bay,
xuất hiện trên quảng trường Ba Đình, một số người Trung Quốc có thể cho rằng chúng được thiết kế
để nhắm thẳng vào hạn đội ở Biển Đông. Ông Lý cảnh báo, danh giới giữa gian đe và khiêu khích
cực kỳ mong manh, việc phô trương có thể phản tác dụng, làm căng thẳng thêm gia tăng.
Song song đó, phương Tây cũng bày tỏ sự hoài nghi. The The Diplomat cảnh báo rằng việc Việt Nam
mời Nga và Trung Quốc tham gia có thể khiến Washington và Brussels cảm thấy khó xử.
Tedros Adhani, nhà phân tích của Rand Corporation, nhấn mạnh sự nghịch lý.
Mỹ vừa nâng cấp quan hệ với Hà Nội lên mức cao nhất và thúc đẩy hợp tác quốc phòng,
thì nay lại thấy Việt Nam tay trong tay với hai đối thủ chiến lược lớn nhất của họ.
Sự hiện diện của quân đội Nga, một quốc gia đang bị trừng phạt vì chiến tranh Ukraine,
càng khiến nhiều người ở phương Tây đặt câu hỏi, rốt cuộc Việt Nam đang đứng về phía nào?
Mặc cho Việt Nam luôn khẳng định tính trung lập, thì trong chính trị quốc tế,
hành động nhiều khi có sức nặng hơn lời nói. Việc ưu ái Nga và Trung Quốc trong một sự kiện
mang tính biểu tương có thể làm phức tạp hóa nỗ lực hợp tác quốc phòng và chuyển giao công nghệ
với phương Tây trong tương lai. Ngoài ra, các nước ASEAN cũng có sự rè rặt.
The Star của Malaysia và Jakarta Post của Indonesia đều phân tích rằng một màn phố diễn quá
hoành tráng từ Việt Nam có thể vô tình kích hoạt làn sóng chạy đua vũ trang trong khu vực.
Các nhà hoạch định chính sách ở Kuala Lumpur, Jakarta hay Manila khi thấy ràng T-90S và Su-30MK2
xuất hiện rầm rộ, chắc chắn sẽ phải cân nhắc báo cáo với chính phủ rằng chúng ta cũng cần
nâng cấp khó vũ khí. Điều này nếu xảy ra, có thể tạo ra vòng phái tiêu hao ngân sách mà không quốc
gia Đông Nam Á nào mong muốn. Nhìn tổng thể, phản ứng quốc tế với lễ dựa bình mùng 2 tháng 9
sắp tới là một bức tranh đa chiều, vừa thán phục vừa lo âu, vừa khét ngợi vừa re trừng.
Đối với Nga và Trung Quốc, đây là minh chứng cho tình bạn và quan hệ chiến lược. Với nhiều học
giả phương Tây, Việt Nam giống như một kỳ thủ bậc thầy trên bàn cờ quốc tế,
nhưng cũng có những ý kiến coi đây là hành động khiêu khích tiềm ẩn, một sự mập mờ khó đoán,
hay thậm chí nguy cơ khởi phát cuộc chạy đua vũ trang khu vực. Điều thú vị là chính hành động
mới Nga và Trung Quốc được ca ngợi như biểu tượng của sự cân bằng khéo léo,
lại đồng thời là nguyên nhân tạo ra lo ngại từ phương Tây.
Lễ dự binh, do đó trở thành bài kiểm tra đời thách thức trên dây căng ngoại giao,
thành công không chỉ được đo bằng hàng ngũ trình tể hay tiếng động cơ phản lực vang vọng,
mà quan trọng hơn là liệu Việt Nam có quản lý được phản ứng phức tạp từ các bên hay không.
Đây sẽ là lời tuyên bố táo bạo về bản sắc quốc gia. Việt Nam mạnh mẽ, độc lập,
là bạn của tất cả, nhưng không phải chư hầu của bất kỳ ai, và thế giới sẽ phải lựa
chọn cách họ đáp lại thông điệp đó. Trong bối cảnh thế giới liên tục biến động,
nhiều cuộc chiến nổ ra làm thay đổi cục diện chính trị kinh tế,
Việt Nam ngày càng coi trọng việc xây dựng một nền công nghiệp quốc phòng tự chủ.
Những năm gần đây, Hà Nội đã chủ động ký kết hàng loạt hợp đồng biên bản ghi nhớ với nhiều đối
tác để tăng cường khả năng nghiên cứu thiết kế, sản xuất và hiện đại hóa quân đội.
Và một trong những bước đi đáng chú ý nhất chính là việc thắt chặt hợp tác với Thổ Nhĩ Kỳ,
một quốc gia đang nổi lên như một cường quốc công nghiệp quốc phòng trong thập kỷ qua.
Sự kiện được chú ý nhất gần đây diễn ra tại triển lãm công nghiệp quốc phòng quốc tế IDEF
2025 ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Đây là một trong những triển lãm quốc phòng lớn và uy tín bậc nhất
thế giới, thu hút sự tham gia của hàng trăm tập đoàn vũ khí và có sự hiện diện của Tổng
thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan. Việt Nam cử đoàn đại biểu cấp cao do Thượng
Tướng Hoàng Xuân Chiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu. Việc một lãnh đạo quân sự cấp cao
trực tiếp tham dự đã cho thấy tầm quan trọng mà Việt Nam đặt vào hợp tác với Ankara.
Trong khuôn khổ triển lãm, Thượng Tướng Hoàng Xuân Chiến đã có cuộc hội kiến với ông Haluk Gogun,
người đứng đầu Cơ quan Công nghiệp Quốc phòng Thổ Nhĩ Kỳ SSB, cơ quan trực thuộc Tổng thống
Erdogan, nắm quyền quyết định toàn bộ ngành quốc phòng nước này. Phía Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố rằng
việc hợp tác với Việt Nam là một trong những ưu tiên trong chiến lược hướng đông thể hiện mong muốn
tìm kiếm đối tác ở khu vực châu Á. Nhưng đáng chú ý nhất không chỉ là những lời
sang giao ngoại giao mà là kết quả cụ thể. Dưới sự chứng kiến của hai bên,
Tập đoàn Việt Theo của Việt Nam và Công ty Repcon của Thổ Nhĩ Kỳ đã ký biên bản hợp tác,
cam kết trao đổi kỹ thuật và thúc đẩy hợp tác thực chất ngay trong năm 2025.
Đây không phải là một chuyến thăm mang tính chất thăm dõi mà là sự khởi đầu của một chương mới trong
hợp tác quốc phòng Việt Nam-Thổ Nhĩ Kỳ. Sự kiện này cho thấy Hà Nội đang chủ động tìm kiếm
hướng đi mới, lựa cho đối tác mới để từng bước thoát khỏi sự phụ thuộc vào các nguồn
cùng truyền thống, đồng thời đa dạng hóa nguồn lực phục vụ hiện đại hóa quân đội.
Vì sao lại là Thổ Nhĩ Kỳ? Đáp án nằm ở những ưu thế đặc biệt khiến vũ khí Made in Turkey
được ưa chuộng toàn cầu. Trước hết, đó là chất lượng. Trong vòng một thập kỷ, công nghiệp quốc
phòng Thổ Nhĩ Kỳ đã có bước nhảy vào thần kỳ. Nếu như trước kia nước này chỉ sao chép công nghệ
từ phương Tây, thì nay đã phát triển được những sản phẩm mang thương hiệu riêng,
được thử nghiệm thực chiến ở nhiều chiến trường nóng bỏng như Syria, Libya, Nagorno-Karabakh
và thậm chí Ukraine. Biểu tượng thành công rõ ràng nhất chính là UAV Bayraktar TB2 được mệnh
danh là AK-47 của bầu trời thế kỷ 21. Loại máy bay không người lái này đã thay đổi cục diện nhiều
trận chiến, trở thành danh thiếp ấn tượng nhất của công nghiệp quốc phòng Thổ Nhĩ Kỳ.
Yếu tố thứ hai là giá thành. So với các loại vũ khí phương Tây có tính năng tương tự,
sản phẩm của Thổ Nhĩ Kỳ thường rẻ hơn đáng kể. Điều này cực kỳ phù hợp với những quốc gia
có ngân sách quốc phòng vừa phải nhưng vẫn cần công nghệ hiện đại. Và Việt Nam chính là trường hợp
điển hình. Hà Nội có thể sở hữu vũ khí chất lượng cao mà không phải đánh đổi bằng
việc cắt giảm các chương trình an sinh xã hội. Yếu tố thứ ba cũng là điểm khác biệt then chốt,
chính là việc Ankara không kèm theo các điều kiện chính trị. Dù là thành viên NATO,
nhưng Thổ Nhĩ Kỳ nổi tiếng với chính sách đối ngoại độc lập, thiên về thực dụng.
Khi bán vũ khí, họ không đặt ra những giang mua khắt khe về dân chủ, nhân quyền như Mỹ. Cũng
không đi kèm những toàn tính địa chính trị như Trung Quốc. Thay vào đó, họ sẵn sàng chuyển
giao công nghệ và hợp tác sản xuất chúng, điều mà Việt Nam đang đặc biệt tìm kiếm để từng bước
xây dựng công nghiệp quốc phòng tự chủ. Sự phù hợp này giải thích vì sao Hà Nội coi
Ankara là đối tác tiềm năng trong chiến lược quốc phòng 4.0. Việt Nam chủ trương đa dạng hóa
quan hệ quốc phòng, tránh phụ thuộc vào một nguồn cùng duy nhất, đồng thời ưu tiên nhận chuyển
giao công nghệ để tự chủ về lâu dài. Nếu xét cụ thể, tiềm năng hợp tác Việt-Thổ
có thể mở ra nhiều lĩnh vực. Đầu tiên, rõ ràng nhất là UAV. Ngoài TB2, Thổ Nhĩ Kỳ còn
phát triển cả một hệ sinh thái máy bay không người lái đa dạng, từ UAV trinh sát nhỏ gọn cho đến
UAV cảm tử, đạn tuần kích. Đây là khoảng trống mà quân đội Việt Nam vẫn đang tìm cách lấp đẩy.
Hợp tác để nhận chuyển giao công nghệ và tự sản xuất UAV sẽ là bước tiến mang tính cách mạng.
Thứ hai là lĩnh vực hải quân. Thổ Nhĩ Kỳ sở hữu ngành đóng tàu quân sự mạnh, với các lớp tàu
hộ vệ tăng hình như corvette, lớp ADA, đã được xuất khẩu cho Ukraine và Pakistan. Đối với hải
quân Việt Nam, vốn đang có nhu cầu hiện đại hóa, các thiết kế tàu chiến đáp chuẩn NATO với giá cả
hợp lý từ Ankara là một lựa chọn không thể bỏ qua.
Thứ ba là tác chiến điện tử. Các tập đoàn lớn của Thổ Nhĩ Kỳ, chẳng hạn như ASENSAN,
đang nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới về radar và hệ thống chỉ huy. Việt Nam hoàn toàn có thể
hợp tác để nâng cấp các vũ khí cũ có nguồn gốc liên xô, trang bị hệ thống ngắm bắn,
thông tin liên lạc và radar hiện đại, qua đó tăng cường sức mạnh chiến đấu với chi phí tối ưu.
Hãy thử hình dung những chiếc xe tăng T-54, T-55 hay pháo củ kỹ được trang bị bộ não mới
từ Ankara. Chúng sẽ trở thành lực lượng chiến đấu hiệu quả gấp nhiều lần.
Đặc biệt, cái bắt tay giữa Viettel và Rebcon hé lộ một bước đi chuyến lược khác.
Rebcon không phải là nhà sản xuất UAV hay tàu chiến, mà là chuyên gia trong công nghệ
flowforming, tạo hình kim loại áp lực cao. Nghe có vẻ kỹ thuật, nhưng đây chính là công nghệ
để sản xuất các chi tiết cực kỳ quan trọng như nòng pháo, nòng súng cối,
và đặc biệt là vỏ động cơ tên lửa. Nói cách khác, việc làm chủ công nghệ này đồng
nghĩa với việc Việt Nam có thể tự sản xuất ra những thành phần cốt lõi của vũ khí hiện đại.
Nếu Việt theo nắm vững được công nghệ flowforming, tương lai sẽ không còn dừng lại
ở việc lắp ráp hay nhập khẩu, mà có thể tự chế tạo pháo thế hệ mới.
Súng cối và đặc biệt là tên lửa made in Vietnam với chất lượng và độ tin cậy cao.
Đây không chỉ là một thỏa thuận mua bán đơn thuần, mà là hợp tác để xây dựng nền móng cho một nền
công nghiệp quốc phòng tự chủ thực sự. Chuyến đi của đoàn đại biểu Việt Nam tới
Istanbul vì thế không chỉ dừng ở cấp độ ngoại giao thông thường. Nó giống như một tuyên
ngôn, Việt Nam đã sẵn sàng chuyển mình từ người mua sang đối tác bình đẳng,
từ nhập khẩu sang hợp tác chuyển giao công nghệ. Hơn hết, nó khẳng định quyết tâm xây dựng một nền
công nghiệp quốc phòng độc lập, tạo ra những lá trắng thép và thanh gươm sắt để bảo vệ Tổ quốc.
Sự kết hợp giữa trí tuệ Việt Nam và công nghệ Thổ Nhĩ Kỳ hứa hẹn sẽ mang lại các
sản phẩm quốc phòng hiện đại, phù hợp với điều kiện và học thuyết quân sự của chúng ta.
Không loại trừ khả năng trong tương lai gần, tại những triển lãm quốc phòng quốc tế,
bên cạnh UAV Bayraktar TB2 nổi tiếng, sẽ xuất hiện các hệ thống UAV hoặc tên lửa mang thương
hiệu Việt Nam, khiến thế giới phải ngạc nhiên. Đó không phải là viễn cảnh xa vời,
mà là tương lai đang được định hình từ những cái bắt tay như tại IDF 2025.
Trong bối cảnh chiến tranh hiện đại, nơi các loại vũ khí ngày càng phức nạp
và được triển khai với tốc độ chóng mặt, khả năng cải tiến và độ chế để thích ứng trên chiến
trường đã trở thành một nghệ thuật sống còn. Từ cuộc xung đột Nga-Ukraine cho đến các điểm
nóng khát, người ta thấy rõ rằng quốc gia nào cũng linh hoạt trong việc điều chỉnh,
cải tiến vũ khí, quốc gia đó càng có lợi thế. Và Việt Nam, với truyền thống sáng tạo trong
kháng chiến, từ lâu đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận là một bậc thầy ứng biến.
Tinh thần cái khó lo cái khôn được rèn rũa từ những năm tháng đầy thử thách sau năm 1975,
khi ấy Việt Nam cùng lúc phải chống lại quân Khmer Đỏ ở biên giới Tây Nam và đối phó với
chiến tranh biên giới phía Bắc. Dù nhận được viện trợ từ Liên Xô, nhưng vũ khí trang bị vẫn
thiếu thốn, nhiều thiết bị không phù hợp khí hậu nhiệt đới hoặc đạn dừa khan hiếm.
Chính trong hoàn cảnh ấy, các kỹ sư quân sự và binh sĩ đã phạt hủy trí tuệ sáng tạo,
biến những thiết bị cũ kỹ, chiến lợi phẩm thậm chí hư hỏng thành những công cụ chiến đấu hiệu quả.
Một ví dụ điển hình là việc cải tiến tàu chiến sau năm 1975 khi tiếp quản Hải quân Sài Gòn. Việt
Nam thu được nhiều tàu chiến như HQ-15 Phạm Ngũ Lão, HQ-04 Trần Khánh Dư, HQ-09 Kỳ Hòa và HQ-13 Hà Hồi.
Tuy nhiên, chúng đều cũ kỹ, pháo hư hỏng, thiếu đạn. Trong bối cảnh căng thẳng ở vùng biển Tây Nam,
Bộ Tư lệnh Hải quân đã cùng các kỹ sư quyết định lắp pháo bờ biển 100mm PS-3 do Liên Xô Viện
trợ lên những con tàu này. Chỉ trong vòng 7 ngày cuối năm 1977, bản thiết kế đã hoàn tất,
và đến tháng 5 năm 1978, Sưởng Bason đã lắp thành công 4 khẩu pháo 100mm lên tàu Mỹ cũ.
Trong chiến dịch đổ bộ Tà-lơn năm 1979, những khẩu pháo cải tiến này đã phạt hủy sức mạnh,
khiến đối phương khiếp sợ, minh chứng cho khả năng ứng biến thân tốc của Việt Nam.
Không chỉ trên biển, không quân Việt Nam cũng để lại dấu ấn. Nhiều máy bay vận tải như C-130
đã được cải tiến thành pháo đài bay tương tự B-52. Mỗi chiếc có thể mang tới 32 quả bom MK-81,
tham gia không kích tại chiến trường Tây Nam. Ngoài ra, AC-119K cũng được độ chế để thả đạn cối,
hiểm trợ hỏa lực cho bộ binh. Trong chiến dịch phản công biên giới Tây Nam cuối năm 1978,
những chiếc pháo đài bay tự chế đã thực hiện 14 phi vụ, thả hàng trăm quả bom, góp phần
quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Đặc biệt, sáng kiến này cho thấy khả năng kết hợp độc đáo,
vũ khí Mỹ và Liên Xô, điều ít quốc gia có thể làm được. Bên cạnh tàu chiến và máy bay,
radar và đạn dược cũng được sáng tạo lại để đáp ứng yêu cầu chiến đấu.
Năm 1979, khi các radar cảnh giới 402 và 403 do Trung Quốc viện trợ trở nên lạc hậu,
thiếu phụ tùng, các kỹ sư Việt Nam đã cải tiến radar chỉ huy pháo cao xạ SON-4 thành radar
RB-79, sử dụng linh kiện từ nhiều nguồn khác nhau. Sau nhiều tháng nghiên cứu, RB-79 được thử nghiệm tại
Đồ Sơn, hoạt động liên tục 18 ngày mà không gặp trục chặt, góp phần bảo vệ vịnh Bắc Bộ trong
giai đoạn căng thẳng. Trong lĩnh vực đạn pháo, nhu cầu đạn 130mm cho biên giới phía Bắc năm
1979 là thách thức lớn. Việt Nam đã tận dụng ngòi nổ vô tuyến M514, M515B1 và M514A1 thu
được từ kho vũ khí Mỹ để lắp vào đạn pháo 130mm của Liên Xô. Sau nhiều thử nghiệm thành công,
loại đạn cải tiến này được sản xuất hàng loạt. 10.000 quả trong năm 1979 và 40.000 quả
năm 1980 đáp ứng kịp thời nhu cầu chiến trường. Một cải tiến khác là việc biến đạn pháo cao xạ
85mm thành đạn chống tăng để dùng cho pháo G-44 bắn mục tiêu mặt đất. Thử nghiệm cho thấy
chúng đạt sự tốc chuẩn, tầm bắn hơn 10km, ổn định và được sản xuất hàng loạt.
Trong lĩnh vực súng bộ bình, Việt Nam cũng để lại dấu ấn sáng tạo. Sau năm 1975,
quân đội thu được hàng trăm nghìn khẩu AR-15 nhưng thiếu đạn 5,56mm. Để tận dụng,
năm 1982 Viện Kỹ thuật Vũ khí triển khai đề tài cải tiến AR-15 thành súng liên thanh bắn đạn
7,62x39mm bằng cách sử dụng nòng RPK và hộp tiếp đạn AK. Hệ thống tự động, cơ cầu ngăn bắn
được cải tiến, kết quả cho ra đời mẫu súng có tính năng tương đương RPK với chi phí chỉ bằng một nửa
sản xuất mới. Trong lĩnh vực tên lửa, các kỹ sư đã sáng tạo ra hệ thống A-70 và C-24.
A-70 cải tiến từ rocket Hydra 70mm của Mỹ có tầm bắn 1,6-7,3km được bàn giao cho quân
Q-2 và sử dụng hiệu quả tại Vị Xuyên. C-24 sử dụng rocket S-24 của Liên Xô đã tầm bắn
11,5km, triển khai cho lữ đoàn pháo binh 168. Ngoài ra, còn có thử nghiệm gắn bom MK-81 lên tên lửa
K-5 dù chưa sản xuất hàng loạt nhưng vẫn chứng tỏ tiềm năng sáng tạo. Những cải tiến này khiến
cộng đồng quốc tế phải ngả mũ thán phục. Nhiều chuyên gia so sánh khả năng cải tiến vũ khí
của Việt Nam trong thập niên 1970-1980 với tình hình hiện nay ở Ukraine đều dựa vào sáng tạo
để khắc phục hạn chế. Giáo sư Ken Taylor, công tác tại Đại học New South Wales, Úc, nhận định Việt
Nam có lợi thế độc đáo nhờ kinh nghiệm chiến tranh và tư duy lấy ít địch nhiều. Ông nhấn mạnh rằng
Việt Nam không chỉ cải tiến để sử dụng mà còn tạo ra giải pháp kiết kiệm, hiệu quả, điều mà nhiều
quốc gia khác khó đạt được. Nhà phân tích quân sự David Asher của Forbes ca ngợi việc kết hợp
vũ khí Đông Tây như lắp pháo liên xô lên tảo Mỹ hay cải tiến radar SON-4, coi đó là kỳ tích
kỹ thuật trong hoàn cảnh khắc nghiệt. Ngày nay, tinh thần ấy vẫn được duy trì. Công nghiệp quốc phòng
Việt Nam đã bước sang giai đoạn mới, từ nhận viện trợ và lắp giáp này chuyển sang tự chủ nghiên cứu,
thiết kế, sản xuất. Chỉ trong 10 năm qua, 80% vũ khí trang bị đưa vào sử dụng đều là kết quả
nghiên cứu trong nước. Đây là bước tiến lớn khẳng định khả năng tự lực không còn phụ thuộc vào nguồn
cung từ bên ngoài. Di sản sáng tạo ấy không chỉ là câu chuyện của quá khứ mà còn là hành trang cho hiện
tại. Trong khi thế giới quan sát xung đột ở Ukraine và trầm trô trước những giáp lồng chống drone
hay UAV cảm tử, nhiều chuyên gia nhớ rằng Việt Nam đã làm điều tương tự từ hàng chục năm trước,
khi điều kiện còn khó khăn gấp bội. Chính tinh thần đó giúp Việt Nam hôm nay xây dựng được nền công nghiệp
quốc phòng ngày càng hiện đại. Hiện tại, Việt Nam đã cơ bản bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang,
trong đó nhiều loại vũ khí có tính năng hiện đại đã được giới thiệu tại các triển lãm quốc phòng
quốc tế. Sự thay đổi này phản ánh một hành trình dài, từ chỗ phụ thuộc vào viện trợ,
nhập khẩu sang giai đoạn tự chủ trong nghiên cứu và sản xuất. Trong vòng một thập kỷ, khoảng 80%
vũ khí trang bị mới đưa vào sử dụng đều là sản phẩm của các đề tài nghiên cứu trong nước,
minh chứng rõ ràng cho bước tiến mạnh mẽ của công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Tinh thần, cái khó lo cái khôn từng giúp đất nước vượt qua thiếu thốn thời chiến,
vẫn là nền tảng cho bước tiến ngày nay. Những cải tiến từ tàu chiến, máy bay, radar,
súng bộ binh cho tới tên lửa không chỉ giải quyết khó khăn tức thời mà còn để lại di sản
về trí tuệ và bản lĩnh. Thế giới thừa nhận, Việt Nam không chỉ là một quốc gia biết chiến đấu,
mà còn là bậc thầy trong nghệ thuật biến giới hạn thành thành tựu. Đó chính là điều kiện để hôm nay,
khi hội nhập sâu rộng, chúng ta có thể đối thoại bình đẳng với các đối tác lớn trên bàn cờ quốc tế.
Trong bức tranh toàn cầu đầy phức tạp, nơi các cuộc xung đột kéo dài,
sự kiện giữa binh mùng 2 tháng 9 không chỉ là dịp vô chừng sức mạnh,
mà còn là lời khẳng định về con đường ngoại giao độc lập.
Thế giới nhìn vào Việt Nam với những cách diễn giải khác nhau. Nga và Trung Quốc thấy một người bạn
trung thành. Phương Tây thấy một kỳ thủ khéo léo trên bàn cờ. ASEAN thấy dấu hiệu có thể gây ra
chạy đua vũ trang, còn các học giả thì vừa thán phục vừa rè trừng. Nhưng tất cả đều không thể
phủ nhận Việt Nam đang chứng minh mình là một nhân tố quan trọng, biết cân bằng giữa sức mạnh và sự
mềm dẻo. Điểm đặc biệt nằm ở chỗ, chính những hành động từng được khen ngợi như mời Nga và Trung
Quốc tham dự lại đồng thời là nguyên nhân gây lo ngại. Điều này phản ánh sự phức tạp trong
quan hệ quốc tế. Một hành động có thể được diễn giải theo nhiều cách khác nhau,
tùy góc nhìn và lợi ích của từng quốc gia. Với Hà Nội, đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội.
Quản lý thành công sự phức tạp ấy sẽ khẳng định vị thế và bản lĩnh ngoại giao của Việt Nam.
Thành công cuối cùng của Lê Dự Bình không nằm ở sự đồng đều của hàng hũ hay tiếng động cơ
phản lực vang dội, mà ở việc Việt Nam có điều tiết được những phản ứng đa chiều từ cộng đồng
quốc tế hay không. Nếu làm được, Lê Dự Bình sẽ trở thành một lời tuyên bố mạnh mẽ Việt Nam là quốc
gia độc lập, tự chủ, là bạn của tất cả nhưng không phải là trư hầu của bất kỳ ai.
Đó là thông điệp quan trọng nhất mà Hà Nội muốn gửi tới thế giới trong dịp kỷ niệm 80 năm
Quốc khánh. Song song với sự kiện Dự Bình, Việt Nam cũng đang đẩy mạnh các thỏa thuận quốc
phòng mới. Cái bắt tay giữa Viettel và Repcon tại Thổ Nhĩ Kỳ không chỉ là bước đi chiến lược mà
còn cho thấy tầm nhìn dài hạn, không chỉ mua vũ khí mà phải nắm công nghệ cốt lõi.
Nếu làm chủ được công nghệ sản xuất vỏ động cơ tên lửa, nòng pháo, nòng súng cối,
Việt Nam sẽ tiến tới giai đoạn có thể tự sản xuất những loại vũ khí tình vi nhất.
Đó là mục tiêu dài hạn của công nghiệp quốc phòng tự chủ.
Viễn cảnh trong tương lai, không loại trừ khả năng các triển lãm quốc phòng quốc tế sẽ chứng
kiến sự xuất hiện của những UAV, hệ thống radar, tên lửa mang thương hiệu Made in Vietnam,
xanh ngang với các sản phẩm từ những cường quốc quốc phòng khác. Đây không phải là giấc mơ
xa vời mà là kết quả tất yếu của một chiến lược kiền định đa dạng hóa đối tác,
tự chủ công nghệ, xây dựng nền công nghiệp quốc phòng độc lập.
Nhìn lại chặng đường, có thể thấy rõ rằng Việt Nam đã đi từ thiếu thốn,
bị bảo vầy cấm vận đến tự chủ, chủ động hội nhập. Những sáng kiến trong thời chiến như việc
cải tiến tàu chiến, biến máy bay vận tải thành pháo đải bay, chế tạo radar mới từ
linh kiện cũ không chỉ mang tính tình huống mà đã trở thành nền tảng tinh thần cho công
nghiệp quốc phòng hiện nay. Chính vì thế, nhiều chuyên gia quân sự quốc tế vẫn coi Việt Nam là
hình mẫu đặc biệt về khả năng sáng tạo trong điều kiện khắc nghiệt.
Lễ Dự bình 2 tháng 9 với tất cả những tranh luận đi kèm sẽ là cột mốc đánh dấu bước chuyển
mình mới. Nó không chỉ là dịp để tường nhớ lịch sử mà còn là dịp để Việt Nam khẳng định
trước thế giới đất nước này đủ mạnh mẽ để bảo vệ độc lập, đủ khôn khéo để duy trì hòa bình
và đủ bản lĩnh để theo đuổi con đường riêng. Trong một thế giới nhiều bất ổn,
đó là thông điệp không chỉ dành cho bạn bè mà còn cho những thế lực có ý định thử thách
chủ quyền Việt Nam. Khi khói màu của những màn trình diễn tan đi, điều còn lại sẽ không chỉ
là ấn tượng thị giác mà là cơ hội lớn cho cộng đồng quốc tế. Họ sẽ đối xử với Việt Nam như
thế nào sau thông điệp mạnh mẽ ấy? Bởi lẽ, một khi đã chứng minh được sức mạnh nội lực,
khả năng sáng tạo và bản lĩnh ngoại giao, Việt Nam sẽ không còn là người quan sát thụ động,
mà sẽ là một nhân tố có tiếng nói, có sức nặng trên bàn cờ quốc tế.
