DU LỊCH KHÁM PHÁ - Con Gà Có Trước Hay Quả Trứng Có Trước - Trạng Quỳnh Khiến Vua Tàu Câm Lặng!

Du lịch Khám phá
484 người theo dõi
Ngày ấy trời nam đang vào độ xuân sang, cỏ cây xanh mướt, người người vui tươi, mà trong lòng vua lê lại chẳng được yên.
Không phải vì giặc ngoài, cũng chẳng phải chuyện chiều chính dối ghen, mà là một phong thư đến từ phương Bắc,
có triện đỏ của Hoàng đế nước Tàu, mang theo một câu hỏi tưởng như vô thưởng vô phạt,
nhưng lại ngấm ngầm trĩa mũi nhọn vào lòng tự tôn dân Việt.
Trên tờ giấy vàng ống, dòng chữ Hán nắn nót như diễu cợt.
Con gà có trước, hay quả trứng có trước?
Nếu không trả lời được, thì tự nhận nước nam còn non nớt, chưa xứng sánh vai cùng thiên triều.
Câu hỏi đơn giản đến kỳ lạ, một đứa trẻ lên năm cũng từng hỏi mẹ như thế.
Ấy vậy mà, trong chốn triều đình, từ quan văn tới quan võ, không một ai dám gắt lời.
Bởi họ hiểu, ẩn sau câu hỏi ấy là một cây bẫy trí tuệ, đáp sai là tự làm nhục quốc thể.
Đáp đúng, liệu có đúng không, khi chính thiên hạ vẫn tranh cãi ngàn đời.
Nhà vua cho mày, dâu rung nhẹ trong gió.
Rồi người phất tay áo, chuyển lệnh, truy gọi Trạng Quỳnh vào triều.
Thế là dân kinh kỳ lại được phen râm gian.
Ai nấy đều biết, khi cả triều đình bó tay,
thì chỉ còn một người, kẻ có thể xoay chuyển càng khôn bằng đôi ba lời nói.
Và sáng hôm ấy, giữa sân rồng, bóng Trạng Quỳnh hiện lên, áo nâu đơn sơ,
tay cầm quạt mò, miệng cười nhét mép, dáng đi vừa ung dung vừa thách thức.
Dân gian đồn rằng, mỗi lần Trạng Quỳnh cười như thế,
hoặc kẻ thù phải quỳ, hoặc vua tàu sắp bất mặt.
Nắng sớm vừa nhô khỏi dặn tre cuối làng,
gió xuân phơ phất mơn man qua mái đình cổ kính,
thì tại một góc sân trong phủ, Trạng Quỳnh đang, thong thả nhai trái mận.
Áo nâu bạc màu, chân sỏ gốc mộc, dáng điềm nhiên như chẳng bằng thế sự.
Tay trái cầm quạt mò phe phẩy, tay phải đưa lên cắn nhẹ quả mận vừa chua vừa ngọt.
Vẻ mặt ung dung đến lạ, nhất là trong lúc cả triều đình như đang ngồi trên đống lửa.
Một viên quan hất hải chạy vào, mồ hôi nhỏ tong tong trên vảnh ngũ cánh chuồn.
Ông ta vừa thấy Quỳnh đã dơ tay lên trời than vãn.
Cụ Trạng ơi là Cụ Trạng, ngài còn ngồi ăn mận được sao?
Quỳnh không vội đáp, chỉ nuốt nót miếng cuối rồi đưa tay chùi nhẹ vào ống tay áo,
đoạn hỏi tỉnh bơ.
Có chuyện gì mà ngài như bị chó đổi thế kia?
Chuyện to bằng cái đình, viên quan trận mắt, hạ giọng khẩn thiết, vua truyền gọi ngài vào chiều gấp.
Có thư từ phương Bắc gửi sang, trong đó là một câu hỏi hiểm hóc, chẳng ai dám mở miệng trả lời.
Hỏi gì mà rùng rợn dữ vậy? Quỳnh hờ hững phe phẩy quạt mò.
Hỏi rằng con gà có trước hay quả trứng có trước?
Nghe xong, Quỳnh ngẩn người, đúng một giây, rồi phì cười.
Miệng nhai mận, lòng lại như đang nhai, cho đùa của thiên hạ.
Uối rào, cứ tưởng gì ghê gớm lắm, thế mà cả đám quan văn cũng bó tay.
Cụ đừng coi thường, viên quan khum núm, kể ra câu hỏi là doanh sĩ đất tàu tên Tề Đạo Huyền,
từng tranh biện ba năm giữa Kinh Đô không ai bẻ được.
Hắn nổi tiếng hiểm hóc, rồi dùng chữ để gài người vào thế kẹt.
À, hóa ra là Hắn. Quỳnh cười nhách mép, ta nhớ cái tên này từng lý sự rằng trăng dọa xuống ao là giả,
chỉ trăng trên trời mới là thật.
Nghe xong mà tức quá, ta suýt viết thơ, chửi.
Vậy, cụ nghĩ sao về câu này, viên quan hỏi nhỏ, dọc đầy hy vọng.
Quỳnh đưa mắt nhìn về rạng cao xa xa, chầm ngâm chóc lát rồi cười nhạt.
Đơn giản thôi, đây là một cái bẫy danh dự.
Hỏi thì như đùa, nhưng thực chất là khích bác, muốn làm ta bối rối mà tự làm nhục mình.
Nhưng mà, cái bẫy nào cũng có lỗ hổng, vấn đề là ta muốn trùi vào từ lỗ nào cho vừa khéo.
Viên quan vẫn chưa hết lo lắng.
Nhưng thưa cụ, câu hỏi này thiên hạ vẫn tranh cãi.
Người thì bảo gà có chức vì nó đè ra trứng.
Kẻ lại bảo trứng có chức vì gà nở ra từ trứng.
Ai cũng có lý cả.
Nếu cụ chọn bên nào, bên kia sẽ phản bác.
Nhỡ đâu thua thì, chẳng phải là mất mặt quốc thể sao.
Quỳnh bật cười to.
Mất mặt quốc thể là khi cả triều đình không ai dám nói.
Con kẻ dám nói, dù có thắng hay thua, cũng là người giữ lấy thể diện.
Mà, ta chưa hề nghĩ sẽ thua.
Viên quan rụt cổ.
Nhưng bên đó có cả trăm học sĩ, cả ngàn lý lẽ, cũng chỉ một mình.
Một mình, nhưng ta có đạo.
Quỳnh vỗ ngực, chỉ cần họ hỏi bằng miệng, ta sẽ đáp bằng lòng.
Chỉ cần họ gài chữ, ta sẽ xoay chữ.
Còn nếu họ dùng mẹo, ta có gậy, cười.
Viên quan toát mồ hôi, không biết là vì nắng hay vì... nể.
Vậy cụ định trả lời thế nào?
Gà có trước, hay trứng có trước?
Ta chưa trả lời vội đâu.
Quỳnh đứng dậy, phải quạt.
Nhưng khi nào trả lời, thì chắc chắn họ không cãi được.
Cụ có mang theo gì không?
Có.
Một cái lồng gà, một con gà mái đang ấp, vài quả trứng.
Viên quan ngẩn mặt.
Cụ định đem theo cả, thực tế.
Ừ.
Đối phó với lý lẽ rỗng toách, ta dùng sự thật đập vào mặt, nhét mép.
Rồi không chờ thêm, Quỳnh thong thả bước vào cổng chiều.
Sau lưng là ánh mắt của bao kẻ vừa lo, vừa hào hức, vừa...
không hiểu cụ trạng định giở cho gì lần này.
Nhưng ai cũng biết, khi Quỳnh cười nhét mép,
thì không kẻ nào còn dám chắc mình sẽ thắng.
Gió tháng 2 vẫn còn xe lạnh.
Sáng sớm hôm ấy, đất thăng lòng vang rội tiếng chống tiễn sứ.
Quan lại, bình lính, dân chúng kéo đến chật cả một góc thành.
Ai nấy đều muốn nhìn mặt người sẽ thay mặt nước Nam sang thiên triều đáp câu đố thiên hạ vô giải.
Người ấy không ai khác, chính là Trạng Quỳnh.
Khác với những đoàn xứ trước, đi xe kiệu uy nghi, Quỳnh rắt ngựa bằng tay.
Sau lưng là một chiếc lồng che úp kín, được bục chặt bằng dây lụa đỏ.
Ai hỏi mang gì theo, Quỳnh chỉ cười.
Mang chút lý sự sống để nói chuyện với đam lý sự chết bên kia núi.
Đi được nửa tháng trời, xứ đoàn tới kinh thành Đức Tàu.
Cảnh vật bề thế, cung điện nguy nga, lính tráng chỉnh tề từng bước.
Trên tường thành răng đầy cờ hiệu vàng son, còn bên trong điện kim loan,
vua Tàu đang ung dung thưởng trà, đợi xứ phương Nam.
Tên vua này nổi tiếng kiêu ngạo.
Hắn cho rằng nước Nam chỉ là man di nhỏ bé,
nay lại càng muốn nhân dịp câu đố này để vùi dập thể diện của phương Nam một phen cho biết điều.
Đại triều được mở sớm, chống lệnh vang lên ba hồi chiên tiếng.
Quan văn võ xếp hàng nghiêm chỉnh hai bên.
Giữa chính điện là ngai rồng, nơi vua Tàu ngồi chém trệ,
tay cầm ngọc như ý, miệng nhách cười đầy ngạo mạn.
Trạng Quỳnh bước vào, dáng thong rong lạ thường.
Vẫn áo nâu sờn, hút mộc, quạt mò phe phẩy.
Cạnh ông là chiếc lồng gà được mang đến đặt giữa sân rồng.
Một tên quan lớn của triều đình Tàu cất giọng lạnh lùng.
Đại diện nước Nam đã có câu trả lời cho câu hỏi con gà có chức hay quả trứng có chức chưa.
Quỳnh cúi người vái trào, dọc ôn tồn.
Thần không mang lời, thần mang hình.
Vua Tàu nhớ mày, toàn thể triều đình xuân sao.
Trạng Quỳnh tiến lên, tháo dây buộc, từ từ nhắc chiếc lồng che lên.
Trước ánh mắt kinh ngạc của cả trăm cặp mắt trong điện,
hiện ra một con gà mái đang bình thàn ấp mấy quả trứng dưới bụng.
Không gian im bật, chỉ nghe tiếng gà cục cục khe khẽ.
Một vị học sĩ áo trắng nhú mày, hỏi vặn.
Đây là cho gì? Phải trăng các ngươi không có lời giải,
nên mượn vật để đánh cháo khái niệm.
Trạng Quỳnh ung dung trả lời.
Thần không đánh cháo gì cả.
Chẳng phải quý quốc hỏi gà hay trứng có chức sao.
Vậy thần xin đưa cả hai đến.
Các vị cứ nhìn mặt xét, rồi tự phân định.
Ngươi lẩn tránh vấn đề, học sĩ phản bác.
Ở đây chúng ta hỏi nguồn gốc.
Ý là, cái gì là khởi nguyên,
cái gì có chức trong vòng tuần hoàn sinh diệt.
Quỳnh gật đầu, cười.
À, ra vậy.
Vậy xin cho phép thần được hỏi lại.
Quý quốc nghĩ trời có chức hay đất có chức?
Cái đó, vị học sĩ lưỡng lự.
Hay là, hạt giống có chức hay cây có chức?
Hơi thở có chức hay sinh mệnh có chức?
Những điều ấy là lẽ vô hình,
không thể so sánh cụ thể.
Thế thì câu hỏi gà hay trứng có chức cũng vậy thôi.
Quỳnh nói rõ rạc.
Khi hai thứ cần nhau để tồn tại,
việc hỏi cái nào sinh trước là không đầy đủ.
Nó không phải bài toán logic.
Nó là cách con người tự thử lòng mình.
Liệu ta chọn nhìn vào kết quả hay nhìn vào căn nguyên?
Cả đại điện chấn động.
Một số quan tàu xì xào.
Một số nhìn nhau khó hiểu.
Có kẻ bím môi tức giận,
nhưng không tìm được lời phản bác ngay.
Vua tàu nhú mày.
Người đang lấp liếm bằng lời nói mơ hộ.
Ta muốn một câu trả lời rõ ràng.
Gà trước hay trứng trước?
Quỳnh mỉm cười, nghiêng mình.
Thưa Bệ Hạ, nếu Thần nói quả trứng có trước,
thì Hàn Quý Triều sẽ hỏi,
ai đẻ ra quả trứng ấy?
Nếu Thần nói con gà có trước,
thì sẽ có người hỏi,
con gà ấy từ đâu mà ra?
Vậy là ngươi không trả lời được.
Không, Thần đã trả lời rồi.
Con gà đang ấp trứng,
cả hai cùng tồn tại.
Cũng như đạo lý và lời nói,
thiếu một thứ thì lý lẽ chẳng thể đứng vững.
Câu hỏi này không phải để tìm đáp án đúng,
mà là để nhận ra,
có những điều không thể phân chia bằng thời gian,
mà chỉ có thể hiểu bằng sự thấu đáo.
Vạn vật khởi nguyên không nằm ở hình,
mà nằm ở ý.
Nếu Quý Quốc thật lòng muốn tìm cái đầu tiên,
xin hãy nhìn vào cách mình nghĩ.
Không gian trong điện như đông cứng lại,
vua tàu ngồi im,
ngón tay gõ nhẹ nhẹ vào tay ngai.
Phía sau,
vị học sĩ đầu bạc,
người từng tranh biện ba năm trời,
cũng chỉ còn biết, gật đầu khẽ.
Còn trạng quỳnh,
tay vẫn phe phẩy quạt mò,
miệng cười nhẹ nhẹ,
như thế chưa hề nói gì cao siêu.
Nhưng từ khoảnh khắc ấy,
ván cờ trí tuệ đã bắt đầu nghiêng cán.
Không khí trong đại điện như đặc quánh lại.
Tiếng gà mãi cục cục dưới chân trạng quỳnh
như chiều ngươi cả trăm vị học sĩ
đang nín lặng.
Vua tàu cho mày,
dọc trầm lạnh.
Một hành động không nói lên chân lý,
ngươi đưa con gà ra ấp trứng thì có ích gì.
Đây là nơi tranh biện,
không phải chợ quê.
Trạng quỳnh cười khẽ,
nhịp quạt mò vẫn đều đều
như nhịp tim người bình thản
giữa trốn bão rông.
Thưa Bệ hạ,
nếu hành động không mang theo tư tưởng,
thì chẳng phải quý triều
đã dựng bao nhiêu tượng khổng tử
để làm gì.
Còn nếu đã đòi chân lý,
vậy thần xin phép trình bày ba điều,
ngắn gọn thôi.
Một, nếu trứng có chức,
thì ai đã đẻ ra nó?
Hai, nếu gà có chức,
thì ai đã sinh ra gà?
Ba, nếu cả hai đều
cận nhau để sinh,
thì thứ có chức không phải gà
cũng chẳng phải trứng,
mà là quy luật sinh hóa từ hư vô,
là đạo lý sinh diệt tuần hoàn,
vượt khỏi danh giới vật thể.
Quần thần Tàu Sôn Sao,
một vị học sĩ cao niên đứng bật dậy,
sâu rung theo hơi thở.
Ngươi đang ngụy biện,
dùng lời lắt léo
để tránh trả lời câu hỏi thực chất.
Trạng không giận, lại càng không vội.
Ông gật đầu nhẹ,
như thể đã đoán trước phản ứng ấy từ lâu.
Nếu thần ngụy biện,
thì xin quý vị trả lời giúp thần một câu.
Thiên tử của Quý Quốc có chức,
hay là Quốc Pháp có chức?
Câu hỏi vừa rức,
cả đại điện lạng như tờ.
Ánh mắt vua tàu khựng lại,
bàn tay đang cầm ngọc như ý khẽ xiết chặt.
Một viên quan trẻ có non gan,
lắp bắp đáp.
Dĩ nhiên là thiên tử có chức,
vì có vua mới có luật.
Trạng nhớ mày, quay sang hỏi.
Vậy nếu thiên tử làm sai,
Quốc Pháp phải sửa theo người,
hay người phải chịu theo Pháp?
Không ai đáp.
Có kẻ mí môi, có kẻ cúi đầu.
Vì học sĩ cao niên toan phản bác,
nhưng rồi lại thôi, bởi càng nói,
càng dễ mắc kẹt trong chính lối cãi biện của mình.
Trạng chậm dãi nói tiếp,
giọng đều như nước nhỏ đá mòn.
Nếu quý quốc tin vào luật Pháp,
thì phải thừa nhận,
có những thứ vượt trên cả vua,
ấy là lẽ phải.
Nếu tin vào lẽ phải,
thì phải hiểu,
có những điều không thể xác định
bằng có trước hay có sau,
mà phải nhìn bằng bắt sáng suốt,
bằng tâm bình thàn.
Còn nếu chỉ chăm chăm hỏi cái gì sinh trước,
thì e rằng,
chính quý vị đang đi lùi
trên con đường tìm hiểu chân lý.
Một vị quan khắc,
cố phản công.
Nhưng gà và trứng là vật thể,
không thể so với pháp luật hay đạo lý.
Trạng phì cười.
Vậy thì xin hỏi,
nếu không có luật lệ nào cấm,
thì ai cũng có thể tự xưng là vua sao?
Không thể.
Vậy là quý quốc cũng tin rằng có thứ vô hình
nhưng quyết định sự tồn tại của hữu hình.
Giống như,
không ai thấy được quy luật sinh hóa,
nhưng ai cũng sinh ra và chết đi theo nó.
Gà hay trứng chỉ là cái vỏ,
thứ cần hiểu là cái lực
đẩy phía sau vỏ ấy.
Một làn gió nhẹ thoảng qua,
trong khoảnh khắc ấy,
tiếng gà mái cục cục lại vang lên,
như điểm nhấn kết cho lời biện luận vừa rồi.
Vua tàu ngả người ra sau,
ánh mắt sâu thầm.
Ông ta không nói, cũng không phản bác.
Nhưng cái im lặng ấy,
lại chính là sự công nhận nặng nề nhất.
Cả trăm cặp mắt trong đại điện
nhìn về phía trạng quỳnh,
người đã không chỉ trả lời được câu hỏi,
mà còn lật ngược thế trận,
buộc đối phương phải soi lại chính mình.
Chẳng ai ngờ,
một người nước Nam, áo vải,
chân quốc lại có thể khiến đế quốc
ngàn năm văn hiến phải nghẹn lời trước một
con gà mái đang ấp trứng.
Điện kim loan lặng như tờ
sau câu chất vấn của trạng quỳnh.
Câu hỏi tưởng như đơn giản,
gà có trước hay trứng có trước,
đã hóa thành một ván cờ xoắn óc,
không ai dám bước thêm nước nào.
Trạng quỳnh ung dung bước lên một bước,
rộng trầm nhưng rõ ràng
như chuông ngõ giữa sân đình.
Nếu các vị cho rằng thiên tử là tối thượng,
là nguồn cội của mọi lẽ phải,
thì thử hỏi, các vị đang thờ người
hay thờ đạo?
Một câu nói, mà như nhát dao sắc lẹm,
rạch toạc lớp vải hảo nhoáng
che phủ lối nghĩ độc tôn của triều đình phương Bắc.
Mấy viên quan trẻ ngồi dưới
khe như mày, nhìn nhau.
Một số học sĩ cao niên nhắm mắt,
thở dài.
Trạng vẫn chưa dừng.
Ông bước tới gần trước lồng gà,
chỉ vào con gà mái đang ấp trứng,
mỉm cười.
Gà và trứng là vật sống,
có sinh, có diệt, có tuần hoàn.
Còn đạo lý, nếu thật là chân lý,
thì chẳng cần kẻ hỏi đúng mới đúng
hay kẻ trả lời khéo mới hay.
Lý lẽ phải tự nó đứng vững,
không cần dựa vào quyền uy của kẻ nào cả.
Một viên học sĩ trẻ,
mặt đỏ bừng, không chịu nổi,
đứng phát dậy phản bác.
Lẽ nào đạo lại tách khỏi người thi hành đạo?
Nếu không có thiên tử,
thì lấy ai giữ quốc Pháp?
Trạng Quỳnh nhìn anh ta,
không giận, cũng chẳng cười,
chỉ đáp nhẹ như gió mát.
Nếu Pháp phải chờ người giữ,
thì đó là phép tuy tiện.
Nếu đạo phải chờ người nói,
thì đó là đạo nguyện tạo.
Đạo là đạo, không phụ thuộc kẻ cầm gươm
hay kẻ đội mũ vàng.
Mà Pháp là Pháp,
không sinh ra từ miệng vua,
mà là từ lòng dân biết phân mình.
Ngươi, ngươi quá lời,
một viên đại thần đập tay lên long án.
Trạng không hề nao núng,
ông bước lên một bước nữa,
chắp tay vái dài trước vua tàu.
Nếu thần nói sai,
xin thiên tử chỉ cho,
hôm nay ngài phán một câu,
thiên hạ nghe theo.
Nhưng mười năm sau, nếu có một thiên tử khác,
phán một câu trái ngược,
thì dân theo ai?
Theo ngài hay theo người mới?
Vua tàu hơi giật mình,
đôi mắt già nua hiện lên
tia suy nghĩ, một khoảng im lặng
nặng nề bao trùm.
Trạng cười nhạt, nói tiếp,
nếu dân theo ai có quyền
thì lẽ phải chẳng còn cố định.
Hôm nay đúng, mai sai,
mốt lại đúng, thế thì còn gì
gọi là đạo lý?
Gà đè trứng, trứng nở gà,
đó là vòng luân hồi.
Nhưng nếu các ngài đem vòng luân hồi làm công cụ
để xỉ nhục một dân tộc,
thì các ngài đã biến lẽ đời
thành trò đố mẹo trẻ con.
Tiếng trò đố mẹo trẻ con vang lên giữa điện vàng,
khiến bao khuôn mặt đỏ dần.
Nước Nam không tự xưng mạnh,
cũng chẳng khoe mình giỏi.
Nhưng nước Nam có một điều
mà người nào cũng mang trong máu,
biết khiêm, biết nhẫn,
và biết tôn trọng lẽ phải hơn cả chính mình.
Một vị quan lớn định đứng lên phản bác,
nhưng chưa kịp mở miệng, trạng đã nhẹ nhàng.
Nếu các ngài không còn đạo
để hỏi, thì còn gì để nói?
Chẳng lẽ hôm nay
triều đình phương Bắc lại muốn lấy tiếng mà hơn lẽ?
Không khí như đông cứng.
Trên điện,
vua tàu ngả nhẹ lưng ra ghế,
tay vút dâu, ánh mắt nhìn trạng không còn
diễu cợt như trước.
Một vị lão học sĩ lặng lẽ cuối đầu,
mấy viên quan trẻ cũng khẽ chắp tay,
không phải cúi mình trước trạng quỳnh,
mà cúi mình trước một thứ khí chất khác,
sự tự tại trước quyền lực
và bản lĩnh đứng về phía đạo lý,
dù đang ở giữa đất người.
Chiếc lồng gà vẫn úp trên chiếu,
con gà mái vẫn rúc trong ổ dơm.
Nhưng cả điện kim loan như
vừa tỉnh khỏi một giấc bộng ảo tường,
nơi lẽ phải từng bị bóp méo
bởi danh vọng và ngai vàng.
Trạng quay đầu bước xuống,
gió từ ngoài điện thổi vào,
nhẹ lướt qua tà áo nâu sòng,
mang theo một tiếng thở dài, không rõ của ai.
Giữa chính điện nhà tống,
sau lời phản biện sắc bén của trạng quỳnh,
một sự im lặng chữ nặng
tràn ngập khắp đại điện.
Vua tàu nhìn quanh quần thần,
không ai dám lên tiếng.
Bao ánh mắt từng hàn học,
diễu cợt nay lặng như tờ, cuối gầm.
Ngài trầm rộng,
chấm chưa từng thấy một người phương Nam nào
dám nói đạo lý trước điện vàng như thế.
Trạng quỳnh đứng thẳng lưng,
tay khẽ vuốt chiếc nón quai thao,
đáp tỉnh rụi.
Người Nam không nói để làm vua,
chỉ nói để giữ nghĩa.
Còn ai nói đúng hơn,
dân Nam sẵn lòng nghe.
Lời ấy vang lên,
như tắt thẳng vào thói kêu ngạo
cô hữu của triều đình phương Bắc.
Nhà vua trầm mặc,
rồi bất ngờ buông quạt, đứng dậy,
thở dài một tiếng đảo nề.
Chấm, truyền lui triều.
Cả triều sửng sốt,
lệnh bãi triều trước giờ chưa từng có khi
đang nghị án quốc gia,
lại càng không với một sứ giả ngoại bang.
Nhưng mệnh lệnh đã bàn, chẳng ai dám trái.
Các qua đồng loạt quỳ xuống,
vua lặng lẽ lui vào hậu điện.
Trạng Quỳnh không nói gì thêm,
chỉ cúi nhẹ đầu, rồi quay lưng bước đi,
dáng ung dung,
như người đã hiểu sẵn hoạn nguồn chân lý.
Khi đi ngang ngai vàng,
trạng đặt nhẹ một vật xuống đền đá
sang bóng, chiếc lồng gà cũ kĩ
cùng một mảnh giấy gấp gọn,
bên trên chỉ viết vỏn vẹn.
Trứng sinh ra đời để ngứt,
gà sinh ra để gáy.
Nhưng chân lý sinh ra không để bắt bẻ,
mà để người sáng soi.
Lời ấy,
đơn sơ như lời ru đồng quê,
mà xoáy sâu như đinh đóng vào lòng kẻ trí.
Sau buổi chiều hôm đó,
khắp Kinh Châu bắt đầu lan truyền
một câu chuyện kỳ lạ.
Có một người nước Nam,
nói ba câu mà làm cả triều đình ta câm như hến.
Người dân thì thầm,
kẻ bán hàng rong nhắc lại,
cả đám học sĩ cắm cúi chép từng chữ xuống giấy,
tranh nhau lý giải.
Vua Tàu nghe được, chỉ im lặng.
Có người thỉnh tấu trừng trị sứ Nam
vì tội xúc phạm Long Nhan,
nhưng nhà vua lắc đầu.
Không phải hán thắng bằng miệng,
mà là bằng đảo.
Một người như vậy, sự sao cũng là thất lễ.
Nghe chạn quỳnh rời khỏi biên cương,
có người dân Trung Hoa âm thầm ra tiễn.
Không cờ hoa,
không lễ nhạc,
chỉ là những ánh mắt đề phục
cuối đầu chào một người lại đến từ phương Nam.
Về tới nước Việt,
vua Lê Thánh Tông mở đại yến,
thưởng lớn, truyền ghi lại câu chuyện vào sử sách.
Một người, một lời,
mà khiến thiên triều cúi đầu,
ấy là quốc sĩ.
Và từ đó, tên Chạng Quỳnh không chỉ vang trong nước Việt,
mà còn âm thầm len lỏi vào từng câu chuyện
truyền miệng nơi đất Tàu,
như một biểu tượng bất khuất của trí tuệ,
đạo lý và khí phách người Việt.
Câu hỏi con gà có chức hay quả trứng,
tưởng chừng đơn giản,
lại là thử thách mà bao thế hệ trí giả đông,
Tây chưa từng ngã ngũ.
Thế mà Chạng Quỳnh,
với cái cười nửa miệng và ánh mắt ung dung,
chỉ cần một lời,
đã khiến cả triều đình nước bạn chết lặng.
Không phải bằng nguyện biện,
càng không phải mẹo mực,
mà bằng cái đạo lý thâm đẫm khí chất của người Việt.
Thắng không phải để hơn người,
mà để người hiểu lẽ phải.
Một câu trả lời làm vua Tàu nghẹn họng,
khiến quan Tàu cúi mặt,
và làm bao kẻ kiêu ngạo phương Bắc phải dè chừng.
Câu chuyện hôm nay
không chỉ là một màn đấu trí,
mà còn là bài học ngàn đời.
Đối với kẻ thích thử thách bằng mẹo,
thì người trí dùng đạo lý để phản đọn.
Đối với kẻ muốn lấy danh hạ nhục người,
thì người hiền lại lấy lý
rửa danh cho dân tộc.
Nếu bạn thấy Trạng Quỳnh không chỉ hài hước,
mà còn đầy trí tuệ.
Nếu bạn yêu mến cách mà người xưa dùng lời
để giữ nước, giữ lòng tự tôn dân tộc.
Và nếu bạn muốn đồng hành
cùng loạt chuyện Trạng Quỳnh đấu trí khắp bốn phương,
thì đừng quên nhấn đăng ký kênh,
bật chuông thông báo
để không bỏ lỡ bất kỳ tập nào
của hành trình đấu trí lịch sử,
dũng khí, trí tuệ.
Hãy để mỗi lượt chia sẻ,
mỗi lượt đăng ký
là một lời nhắc.
Người Việt mình, nhỏ mà không yếu,
hiền mà không nhu nhược,
nói ít mà thấm sâu.
Hẹn gặp lại ở tập tiếp theo
khi Trạng Quỳnh tiếp tục chạm trán
một thử thách mới còn oái oam hơn
và lời đáp trà có thể khiến cả thế giới nề phục.
