NGUỒN GỐC NGƯỜI DAO Ở VIỆT NAM | HỌ TỪ ĐÂU TỚI MẢNH ĐẤT NÀY
Blog Hoa Mai
965 người theo dõi
#tintuc #khampha #bando
NGUỒN GỐC NGƯỜI DAO Ở VIỆT NAM | HỌ TỪ ĐÂU TỚI MẢNH ĐẤT NÀY
© Bản quyền thuộc về Những Vấn Đề Địa Lý Shorts
© Copyright by Những Vấn Đề Địa Lý Shorts Production ☞ Do not Reup
Xin chào các bạn!
Trong bức tranh văn hóa đa dạng và rực rỡ của các dân tộc Việt Nam,
người Dao hiện lên như một gam màu huyền bí,
vừa gần gũi lại vừa ẩn chứa nhiều điều chưa kể hết.
Họ sống dài rác tại các vùng núi cao phía Bắc,
với những bộ trang phục theo tay rực rỡ,
những lễ tục kỳ công và ngôn ngữ riêng biệt,
như thể mang theo cả một kho tàng cổ tích đi từ ngàn xưa.
Nhưng người Dao từ đâu đến?
Họ đã vượt qua những chặng đường nào để rồi bén rễ,
sinh sống và góp phần làm nên bản sắc văn hóa miền Sơn Cước Việt Nam.
Dân tộc Dao còn được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau,
như người Mán, người Đông, người Trại, người Diệu Miền,
người Kim Miền hay người Sơn Đầu, v.v.
Đây là một trong số những cộng đồng cư dân thiểu số
có lịch sử lâu đời và phạm vi cư trú rộng lớn,
trải dài từ miền Nam Trung Quốc đến một số quốc gia Đông Nam Á
như Việt Nam, Lào, Myanmar và Thái Lan.
Tại Trung Quốc, họ được xếp trong số 56 dân tộc chính thức,
với dân số khoảng 2,8 triệu người.
Còn ở Việt Nam, người Dao không chỉ hiện lên như một bộ phận dân cư thiểu số đơn thuần,
mà còn giữ vai trò quan trọng trong bức tranh văn hóa và xã hội
của các tỉnh miền núi phía Bắc.
Theo cuộc tổng điều tra dân số năm 2019,
dân tộc này được thứ 8 trong số 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam,
với dân số là 891.151 người.
Họ sống dài rác ở khắp các tỉnh thành trên cả nước,
nhưng tập trung đông nhất là ở tỉnh Hà Giang, tỉnh Tuyên Quang,
tỉnh Lào Cai, tỉnh Yên Bái và tỉnh Hoàng Linh.
Mặc dù có dân số không quá đông, nhưng đồng bào Dao lại nổi bật
bởi bề dày lịch sử và phong tục tập quán lâu đời,
cũng như nhiều nét văn hóa mang bản sắc riêng miền.
Tương tự như nhiều dân tộc thiểu số khác,
họ cũng có tiếng nói của riêng mình,
đó là tiếng Dao, hay còn gọi là tiếng miền, thuộc ứa hệ hơ mông miền.
Đây là phương tiện giao tiếp chính trong đời sống cộng đồng
và cũng là cầu nối quan trọng gìn giữ bản sắc dân tộc.
Ngày nay, bên cạnh việc duy trì tiếng Dao trong sinh hoạt thường ngày,
người Dao còn sử dụng tiếng Việt và một số ngôn ngữ phổ biến khác như là tiếng Anh
nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển trong xã hội hiện đại.
Nguồn gốc của dân tộc Dao ở Việt Nam
Trên những sườn núi treo leo, nơi sương mù răng kỳ lối
và tiếng khèn gọi bạn vang vọng khắp bản làng,
người Dao vẫn sống hòa hợp cùng thiên nhiên và gìn giữ nét cũ của Tổ tiên.
Nhưng ít ai biết rằng, để có được trốn rừng chân ngày hôm nay,
họ đã trải qua một hành trình thiên di kéo dài hàng thế kỷ.
Ban đầu người Dao được cho là cư trú ở lưu vực sông Hoàng Hà,
cái nôi của nhiều nền văn minh cổ đại Trung Hoa.
Nhưng do sức ảnh hưởng của người Hán nên họ đã tỏa xuống phương Nam,
dọc theo sông Dương Tử.
Đến đời Chu, từ năm 770 đến năm 403 trước công nguyên,
thì người Hán đã đến tỉnh Hồ Nam, tỉnh Chết Giang
và tản rộng ra các miền đất đai phỉ nhiều của các dân tộc khác ở miền Nam sông Dương Tử.
Người Dao khi đó đã phải lùi dần trước sức ảnh hưởng của người Hán.
Một số thì lùi về phía tây nam Trung Quốc,
thuộc các tỉnh Hồ Nam, tỉnh Quý Châu, tỉnh Vân Nam
và khu tự trị dân tộc troang Quảng Tây ngày nay.
Một số khác thì chọn lùi về phía Đông Nam,
khu vực ngày nay thuộc các tỉnh Chết Giang, tỉnh Phúc Kiến và tỉnh Quảng Đông.
Theo ra phả chuyển lại trong cộng đồng người Dao,
họ đã di cư vào Việt Nam qua nhiều đợt,
bắt đầu từ thời Lý Trần ở khu vực Tây Bắc
và tiếp tục dưới triều Hậu Lê ở vùng Đông Bắc.
Cuộc di cư diễn ra theo hai con đường,
đó là đường bộ từ Vân Nam và Quảng Tây vượt qua núi non hiểm trở
sang các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta
và đường thủy từ tỉnh Phúc Kiến, tỉnh Quảng Đông
vượt biển rồi đổ bộ lên vùng Mòng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay.
Những nhóm di chuyển bằng đường bộ thì họ chủ yếu cư trú
tại các vùng biên giới như là Lào Cai, Hà Giang, Sơn La, Lai Châu
rồi theo sông Đà đến các vùng Mai Châu và Đà Bắc thuộc tỉnh Hòa Bình.
Đó là các nhóm giao đỏ, giao tiền, giao làn tẹt.
Trong khi nhóm đi theo đường thủy thì sẽ dùng thuyền đổ bộ vào Quảng Ninh
từ ngược lên Lạng Sơn, Thái Nguyên và Tuyên Quang
sau đó sống tàn mắc dọc lưu vực sông Lô và sông Trời.
Đó là các nhóm giao quần trắng, giao làn tẹt và giao quần ngắn.
Như vậy, người giao ở Việt Nam có nguồn gốc sâu xa từ lưu vực sông Hoàng Hà
nhưng đã trải qua hành trình di cư và nhiều biển động để có thể đến được mảnh đất hình chữ S.
Họ vào nước ta chủ yếu theo từng nhóm nhỏ, sinh sống ở các vùng núi cao phía Bắc,
nơi điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nhưng thuận lợi cho việc bảo tồn truyền thống và phong tục tập quán.
Hiện nay cũng có một bộ phận người giao chuyển đến sinh sống ở miền Nam và các tỉnh Tây Nguyên
và theo điều tra dân số và nhà ở năm 2009 thì họ đang cư trú tại 61 trong tổng số 63 tỉnh thành phố.
Phần lớn người giao ở Việt Nam đã ổn định sinh kế
và đang cùng các dân tộc anh em khác xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Tuy nhiên trong video ngày hôm nay chúng ta sẽ tập trung vào nhóm người giao ở miền Bắc
nơi họ vẫn giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống.
Đời sống kinh tế của người giao
Về địa bàn cư trú thì đồng bào giao cư trú trên cả ba vùng là vùng cao, vùng giữa và vùng thấp.
Trong đó khu vực cùng cao có nhiều núi đá vôi thuộc các địa phương như là tỉnh Cao Bằng,
tỉnh Lãng Sơn, tỉnh Bắc Cạn, tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Hà Giang, tỉnh Tuyên Quang
và tỉnh Quảng Ninh.
Vùng này có núi non hiểm trở, độ cao trung bình từ 800 cho đến 1.000 mét,
khí hậu mát mẻ, độ ẩm cao do nhiều mưa.
Đây cũng là nơi cư trú của đồng bào giao đỏ, giao tiền và giao làn tẻng.
Vùng giữa là vùng có núi đá vôi xen giữa những vùng đồi thuộc tượng du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
với độ cao khoảng từ 400 cho đến 600 mét.
Khu vực này tương đối cao, khí hậu và thực vật thuộc miền nhiệt đới
và là địa bàn sinh tụ chủ yếu của người giao quần chẹt, giao lô gan, giao tiền và giao thanh y.
Còn vùng thấp là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi và đồng bằng,
có độ cao khoảng 200 mét đổ xuống.
Trước đây vùng này hầu như chỉ có nhóm giao quần trắng,
nhưng nay đã có thêm một số nhóm như là giao quần chẹt, giao tiền, giao làn tẻng.
Về đời sống kinh tế thì dân tộc giao cũng như nhiều dân tộc khác ở miền Bắc nước ta
có nguồn sống chính là nông nghiệp.
Xưa kia họ thường sống du canh du cư, sinh sống bằng canh tác nương rẫy,
điều đó đã được ghi chép trong các văn tự giao cổ.
Như Quá Sơn Bảng Văn nói về con long khuyển,
tức bàn hồ cắn chết cao vương và mang đầu về báo công cho Bình Vương
để được Bình Vương cả con gái cho.
Sau này con cháu bàn hồ phát hết rừng đối của Bình Vương
khiến cho nhà vua phải cấp cho Quá Sơn Bảng Văn để phân tán đi các nơi tìm đất sinh sống.
Hay Đặng Hành và Bàn Đại Hộ,
câu chuyện kể về cuộc hành trình của hai người họ giao sang lãnh thổ Đại Việt tìm đất làm ăn.
Khi hai người này đến Việt Nam, do không biết tiếng
nên bị Triều Đình Nhà Lý nghi là kẻ gian và gian dữ mấy năm.
Sau đó nhân trời giá rét, người đó lấy Quá Sơn Bảng ra đắp,
tờ lệnh của vua Trung Quốc cấp cho đi tìm đất làm ăn.
Triều Đình thấy vậy nên thả cho họ đi tìm đất làm ăn.
Ngày nay, do thực hiện chính sách định canh định cư
nên đồng bào đã phát triển nương thâm canh và dụng nước,
cũng như chăn nuôi các loại gia súc gia cầm.
Trước đây, họ thường nuôi để cải thiện bữa ăn hàng ngày,
còn ngày nay thì đồng bào đã chăn nuôi để bốn bán và trao đổi với các dân tộc khác.
Nhưng ở nhiều nơi, do phương tiện giao thông còn khó khăn và trở ngại
nên việc giao thương chưa phát triển là mới.
Mặc dù sống ở khu vực núi và địa bàn riêng biệt,
nhưng phương tiện vận chuyển của đồng bào giao
vẫn có nhiều nét tương đồng với các dân tộc khác về chủng loại,
cách thức chế tác và chức năng sử dụng.
Để truyền hàng thì họ thường dùng điệu, quẩy tấu,
tức là một loại sọt, hay là lù cỡ.
Nó giống cái gùi, có hai quai đeo phía sau
để lên rừng hái quả hoặc là thu hoạch nông sản.
Ở những vùng thấp hơn thì người giao thường dùng đôi dậu để gánh lúa,
ngô và những vật dụng khác.
Cùng với sản xuất nông nghiệp,
đồng bào giao còn có các nghề thủ công truyền thống.
Trong đó, nghề dệt vải đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Để bảo tồn nghề dệt truyền thống,
người giao vẫn tiếp tục trồng bông, xe sợi,
nhụm tràm bằng các phương pháp thủ công của truyền.
Mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự khéo léo và kỹ thuật tinh xảo,
đặc biệt là trong khâu theo thủ hoa văn,
nơi họ truyền tải các quy ước họa tiết độc đáo lên từng chiếc khăn đội đầu,
yếm, nẹp áo, thắt lưng, ống quần hay là khăn quảng.
Màu sắc và hoa văn không chỉ để làm đẹp,
mà còn thể hiện bản sắc của từng nhóm giao, từng địa phương.
Việc ghi nhận nghề dệt vải là di sản văn hóa,
vừa để tôn vinh sự sáng tạo của người giao,
vừa góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa quý báu của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Bên cạnh nghề dệt thì ở một số địa phương,
nhất là với người giao đỏ,
nghề làm giấy bản cũng giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa và tinh thần.
Không ai còn nhớ nghề này có từ bao giờ,
chỉ biết rằng từ bao đời nay,
nó đã đồng hành cùng với người giao trong từng trang sách cổ,
trong lễ nghi tổ tiên và trong cả thơ ca, phong tục cũng như là tín ngưỡng.
Với nền văn hóa có tiếng nói và chữ viết riêng,
họ đã dùng giấy bản để viết chữ Hán Giao,
ghi chép lại lịch sử, lễ tục và trí thức dân gian.
Loại giấy nề bền, dai, thấm mực tốt và rất khó phai,
qua đó giúp bảo tồn kho tăng trí thức truyền thống qua nhiều thế hệ.
Không chỉ để ghi chép,
giấy bản còn được dùng trong các nghi lễ quan trọng như lễ cấp sắc, lễ cầu an hay lễ mừng mùa.
Người giao đỏ cắt giấy thành từng bảnh hình chữ nhật,
rồi in họa tiết để làm tiền vàng dân cúng tổ tiên.
Đây là một biểu hiện sâu sắc của đời sống tâm linh.
Nhưng nghề này cũng đòi hỏi sự công phu, tỉ mỉ và hoàn toàn thủ công.
Không máy móc hỗ trợ,
người làm giấy phải có sức khỏe, sự khéo léo và lòng kiên nhẫn
để trải qua các công đoạn phức tạp từ chọn nguyên liệu đến phơi giấy.
Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc sắc,
nghề làm giấy bản thủ công của người giao đỏ
đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định
đưa vào danh mục Di sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia năm 2018.
Không chỉ dừng lại ở rộng nương và không cười,
người giao ngày nay còn mở rộng bản làng ra thế giới bằng một cách rất hay,
đó là làm du lịch cộng đồng.
Chúng ta có thể lấy làng du lịch nắm đâm ở huyện Quảng Bạ
thuộc tỉnh Hà Giang làm ví dụ điển hình.
Tại đây, người giao vừa gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống,
vừa từng bước thay đổi tư duy phát triển,
từ mô hình tự cung tự cấp sang kinh tế dịch vụ gắn với du lịch.
Những ngôi nhà homestay bộc mạc,
đậm chất giao, đan xen nhà sản lẫn nhà trình tưởng,
không chỉ là nơi lưu trú mà còn là không gian văn hóa sống động,
nơi du khách có thể trải nghiệm đời sống thường nhật,
thưởng thức ẩm thực dân tộc và hòa bình vào các lễ hội bản địa.
Nhờ đó, nặm đâm đã khoác lên mình một diện mạo mới,
hiện đại hơn nhưng vẫn đậm đà hồn cốt núi rừng.
Ngoài ra, đồng bào giao ở bản Sì Thâu Trải,
xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
cũng là một điểm đến hấp dẫn và là một ví dụ về kiến trúc nhà ở.
Nằm ở độ cao hơn 1.400m so với mức đất biển,
trên lưng núi Patem Leng, bản Sì Thâu Trải
với những ngôi nhà gỗ và nhà trình tưởng thấp thoáng trong mây
đã tạo cảm giác yên bình và đẹp như cổ tích.
Khác với nhà trình tưởng vung vắn và kiên cố của người Hà Nhì,
nhà của người giao đầu bằng ở Sì Thâu Trải lại kiêm nhường,
đơn sơ nhưng hợp lý.
Mỗi căn nhà thường có cấu trúc hình chữ nhật
với 3 bức tường trình đất dày khoảng 40cm và 1 bức tường đầy trống.
Máy nhà lợp fibro-ximang, khung làm từ gỗ rừng hoặc là cây tròn sẵn có.
Loại đất được dùng để trình là đất xét địa phương,
vừa dễ tìm, vừa giữ nhiệt tốt, giúp ấm áp vào mùa đông,
mát mẻ vào mùa hè.
Việc làm nhà trình tưởng tuy không quá phức tạp về kỹ thuật
nhưng lại đòi hỏi sự bền bỉ và công phu.
Người dân phải tạo khuôn gỗ, nhào đất xét thật nguyễn
rồi đổ vào khuôn và trình thật chặt tay để đảm bảo độ kết dính.
Sau đó, mặt tường được làm phẳng cẩn thận trước khi tháo khuôn.
Trung bình một căn nhà trình tường hoàn chỉnh
cần tới hơn 1 tháng xây dựng với 10 công nhân làm việc liên tục.
Nhưng điều đáng quý nhất là ở tinh thần cộng đồng,
khi cả bản cùng chung tay góp sức dựng nhà,
họ không chỉ xây nên mái ấm
mà còn vun đắp tình nghĩa bền chặt giữa người với người.
Nhìn chung người giao có 2 loại hình cư trú
là cư trú tập trung và cư trú phân tán.
Sự khác biệt này là do điều kiện canh tác và thế đất nơi cư trú.
Dù đến nay có một số nơi điều kiện canh tác và cảnh quan đã thay đổi
nhưng người ta vẫn giữ nếp sống cũ.
Loại hình cư trú phân tán thấy rõ nhất
ở những nhóm giao chuyên sống bằng nương giấy
như là giao quần chẹt, giao đỏ, giao thanh y.
Mỗi điểm tụ cư chỉ khoảng hơn chục nóc nhà,
nhà nọ cách nhà kia khá xa, có khi vài km.
Sự kết hợp của các hộ trong các cư điểm khá là lỏng lẻo
vì nhà phải chạy theo nương giấy.
Còn loại hình cư trú tập trung chỉ phổ biến
ở những nhóm giao đã định cư,
đặc biệt là nhóm giao tiền và nhà nọ lên kề nhà kia.
Dù với loại hình cư trú nào hay ở độ cao nào,
thì đối với người giao cũng cần có những điều kiện nhất định,
chẳng hạn như nơi khuất gió, cao ráo, gần nguồn nước,
có bãi để chăn nuôi, cân dưng để kiếm chất đốt
và rừng còn là nguồn thực phẩm tự nhiên
như là măng, rau rừng, chim thú.
Một trong những điều kiện được coi là quan trọng nhất
là nguồn cung cấp nước,
nơi có khả năng đưa nước về tận nhà,
ít nhất là về tới xóm.
Cũng như nhiều dân tộc khác,
người giao có đời sống văn hóa,
tín ngưỡng và tinh thần rất phong phú.
Hiện nay, đồng bào dân tộc này được chia thành
nhiều nhóm địa phương khác nhau,
bao gồm giao đỏ, giao tiền, giao quần chẹt,
giao thanh y, giao áo dài, giao quần trắng,
giao đầu bằng, v.v.
Mỗi một nhóm lại có những nét văn hóa riêng,
nhưng nhìn chung, những giá trị văn hóa của họ
có thể được chia thành hai chủ thể,
là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Trong đó văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người,
được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất.
Đối với đồng bào giao,
thì trang phục là biểu hiện rõ rệt nhất cho văn hóa vật chất.
Chuyện ăn mặc rất được coi trọng,
và trang phục cũng thể hiện khả năng thẩm mỹ,
sự sáng tạo và tinh tế trên từng đường kim mũi chỉ.
Ngay từ khi còn nhỏ,
các cô gái người giao đã được các bà mẹ
Nhìn chung, mỗi một nhóm người giao lại có đặc điểm trang phục khác nhau,
nên trong phần này chúng mình sẽ kể ra một số nhóm tiêu biểu,
còn các nhóm còn lại thì xin hẹn các bạn trong một video khác nha.
Trong các nhóm giao,
thì trang phục của người giao đỏ là dễ nhận biết nhất,
vì họ sử dụng chủ đạo hai gam màu là màu đen và đỏ,
cùng với nhiều hóa tiết hoa văn thể hiện sự khéo léo.
Theo quan điểm của họ,
thì màu đỏ mang lại hạnh phúc,
may mắn và tạo ra năng lượng tích cực cho con người.
Chính vì vậy,
đây là gam màu chủ đạo và được sử dụng trong trang trí trang phục.
Từ xưa,
người giao đỏ đã không tự dệt vải,
mà mua của các cư dân láng giềng,
thường là mua vải mọc rồi đem về nhộm tràm để theo vào may quần áo.
Hiện nay,
bộ nữ phục của họ gồm có áo dài,
dây lưng,
quần,
xà cạp,
khăn đội đầu.
Chúng thường được theo thùa rất cầu kỳ với nhiều hóa tiết phức tạp.
Vẻ đẹp rực rỡ và nổi bật trên trang phục phụ nữ
luôn gây ấn tượng và thu hút sự chú ý của mọi người.
Trong khi bộ nam phục của người giao lại có phần đơn giản hơn
khi có khăn đội đầu,
áo ngắn và quần.
Khăn đội đầu của nam bằng vải trám đen,
khăn nam giới cũng theo hoa văn như là nữ giới.
Khi đội thì gấp khăn làm tư theo chiều dọc
rồi cuốn lên nhiều vòng,
còn đầu thừa thì gài vào bên trong bánh khăn.
Khác với người giao đỏ,
trang phục của người giao tiền tuy không quá rực rỡ,
nhưng cũng không nhạt nhòa,
chủ yếu là gam màu tràm
và lẫn sắc đỏ và hoa văn tinh tế.
Trang phục truyền thống của người giao tiền
phân thành 3 loại
là trang phục nam,
trang phục nữ
và trang phục nghi lễ
nhưng vẫn bao gồm các thành phần chính
là khăn vấn đầu,
dây lưng,
áo,
váy.
Áo của người phụ nữ giao tiền không có cúc
mà chỉ có sẻ tà và quấn dây lưng.
Ở cổ áo đằng sau
được sâu một số đồng bạc trắng
từ 6 cho đến 9 đồng.
Đây cũng được coi là đặc trưng riêng của nhóm giao tiền.
Trong khi áo nam giới không nổi bật như áo nữ,
các họa tiết phần viền áo,
chân áo và cổ tay áo khá nhỏ.
Đàn ông giao tiền chỉ mặc váy với quần
trong các dịp nghi thức tâm linh.
Độ rộng của váy vừa đủ
để quấn một vòng quanh người.
Họa tiết trên váy chỉ có màu trắng đơn giản.
Đi cùng với quần áo là dây lưng.
Dây lưng nam giới có màu đen pha trắng
còn dây lưng nữ giới thường có màu đỏ pha trắng.
Điều này thể hiện sự gắn kết
trong mối quan hệ của nam và nữ
Bên cạnh trang phục của người giao đỏ và người giao tiền
thì trang phục của người giao quần chẹt
cũng có nhiều nét độc đáo.
Sở dĩ họ được gọi là người giao quần chẹt
là vì người phụ nữ thuộc cộng đồng này
thường mặc quần ống hẹp và bó sát vào chân.
Đây có lẽ là yếu tố
tạo nên tên gọi của nhóm dân tộc giao này.
Trang phục truyền thống của họ
cũng bao gồm áo, yếm, khăn và mũ.
Màu chủ đạo được sử dụng là
tông màu trăm đen
kết hợp với những nét hoa văn theo chỉ
cùng với các phụ kiện và trang sức khá cầu kỳ
vào quyện vào nhau trở thành
một khối tống nhất không thể tách rời.
Chiếc áo là điểm nhấn quan trọng nhất
của bộ trang phục nữ giới.
Thân áo là hai phổ vải rộng 30cm
dài khoảng 250cm
được gấp làm đôi thành thân trước và thân sau.
Cùng với đó thì dây lưng
cũng tạo nên nét riêng biệt cho người giao quần chẹt.
Tai lưng của họ thường được làm bằng vải
có màu tràm đối với người già
và bằng lụa đỏ hay hồng cánh sen
đối với các cô gái và người còn trẻ.
Từ giải dây lưng này
người ngoài có thể dễ dàng phân biệt
giữa những cô gái chưa chồng và những phụ nữ đã có gia đình.
Người có chồng thường thắt một dây lưng
còn con gái sẽ thắt từ hai
cho đến ba cái bằng lụa màu khác nhau.
Trong khi trang phục
ở Nam giới lại đơn giản hơn nữ giới
bộ trang phục này thường gồm
một áo canh ngắn, quần và mũ.
Trong đó áo cài cúc và cổ đứng để bên ngoài
tất cả đều màu tràm.
Cùng với những bộ trang phục độc đáo
thì trong quá trình phát triển
dân tộc Giao đã hình thành và phát triển
hệ thống chữ viết của riêng mình.
Trong quá trình chung sống và giao tiếp văn hóa với người Hán
họ đã dùng chữ Hán
để ghi chép các vấn đề liên quan đến đời sống.
Nhưng theo thời gian và qua nhiều thế hệ
cách phát âm các ký tự Hán đã được bản địa hóa
và trở thành hệ thống ngữ âm riêng biệt
mà người Giao sử dụng như chữ viết của chính dân tộc mình.
Nhờ đó
họ không chỉ bảo tồn được tiếng nói
mà còn ghi lại một kho tẳng trí thức đổ sộ
Sách cổ của người Giao đã siêu tầm và kiểm kê
có tới 68% là các bộ kinh thư
các sách về tôn giảo tín ngưỡng
và phong tục tập khoán.
Sách văn học tuy chiếm một tỷ lệ nhỏ
khoảng 22,8% nhưng có giá trị quan trọng.
Bên cạnh một số dân ca
nhất là dân ca Giao Duyên
được những người biết chữ cổ chép lại
thì còn khá nhiều tập truyện văn học
bao gồm một số bộ tiểu thuyết cổ của Trung Quốc.
Các nhà nghiên cứu lúc đầu
chỉ siêu tầm được hai truyện thơ
nhưng trong một dự án đã tìm thấy 23 truyện thơ
lần đầu tiên được phát hiện ở vùng người Giao
như là Hàn Bằng, Đàm Thanh,
Bát Nương, Lâu Cảnh, Trạng Nghèo,
Đô Nương Truyện, Đặng Nguyên Huyện Truyện,
Bá Giai Truyện, Thần Sắt Ca v.v.
Trong số đó,
truyện thơ kể về hành trình tìm đất vất vả
của người Giao chiếm số lượng nhiều hơn cả
lên tới 40%, trong đó có
hai văn tự mà mình đã nói ở phần nông nghiệp.
Một số truyện tuy có chủ đề khác nhau
nhưng trước khi đề cập đến nội dung chính
cũng kể về cuộc hành trình của người Giao.
Ngày nay, trước sự giao thoa giữa văn hóa
truyền thống và văn hóa hiện đại
thì chữ viết của một số dân tộc thiểu số
đang dần bị mai một,
trong đó có chữ viết của đồng bào dân tộc Giao.
Thế hệ trẻ nhiều vùng không biết
hoặc là biết rất ít chữ viết dân tộc mình.
Thực tế, những văn bản chữ Hán Giao
không được sử dụng hoặc là dùng rất ít
chỉ những người Giao làm thầy tàu, thầy cúng
thì mới được học và thực hành loại chữ viết này.
Vậy nên việc bảo tồn và phát huy
chữ Hán Giao đang là một việc làm hết sức cần thiết.
Bên cạnh văn hóa vật chất thì đời sống
văn hóa tinh thần của đồng bào Giao cũng rất phong phú.
Trong đó, tôn giao tín ngưỡng
là yếu tố quan trọng trong đời sống
các dân tộc nội trung.
Đối với cộng đồng người Giao thì tôn giao tín ngưỡng
phản ánh quá trình thiên di,
ảnh hưởng và giao thoa văn hóa trong lịch sử.
Mặc dù cộng đồng được chia thành nhiều nhóm nhỏ
đó là vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thủy
như tôn thờ bản vương là tổ tiên của mình.
Đồng thời họ cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc
của tam giáo, bao gồm khổng giáo,
phật giáo và nhất là đạo giáo.
Đối với người Giao,
việc thờ cúng đặc biệt được chủ trọng.
Vì vậy, các nghi lễ liên quan
đến thờ cúng tổ tiên luôn được đồng bào duy trì.
Nghi lễ thờ cúng nói chung
của người Giao mang đậm tính nhân văn,
hướng con người đến nguồn cội,
xua đuổi kẻ ác và là sợi dây
Trong nghi lễ thờ cúng,
người Giao sử dụng nhiều tranh cúng,
trong đó phổ biến là bộ tranh tam tượng
hay còn gọi là tam thanh và bộ đại đường quân.
Tranh thờ không chỉ là tín ngưỡng
mà còn thể hiện niềm tin của người Giao
đối với cuộc sống.
Đồng bào quan niệm các vị thần linh luôn nhìn thấu mọi việc
và sẵn sàng phạt người nào định làm điều ác.
Chỉ cần nhìn ngắm bức tranh có các vị thần
được khắc họa oai nghiêm là những ai
có ý định làm việc xấu sẽ phải dừng lại.
Ngoài việc thờ cúng tổ tiên
và thần linh thì trong cộng đồng người Giao
cũng có nhiều lễ hội đặc sắc
trong đó lễ cấp sắc là một trong những nét
văn hóa truyền thống đặc sắc nhất của dân tộc Giao.
Theo quan điểm của đồng bào
lễ cấp sắc là một thủ tục không thể thiếu
của người đàn ông vì được cấp sắc
mới được coi là người đàn ông đã trưởng thành
và có đủ quyền tham gia vào công việc của tổng đồng.
Lễ cấp sắc của người Giao
thường được tổ chức vào tháng 11, 12
hoặc là tháng riêng hàng năm
với rất nhiều nghi lễ đa dạng và độc đáo
của các nhóm đồng bào Giao.
Mỗi nhóm lại có không gian hành lễ
và mang đặc trưng riêng.
Cùng với những điểm chung về tín ngưỡng, tôn giáo
thì các nhóm người Giao
cũng có cho mình những lễ hội riêng
trong đó người Giao Đỏ có một lễ hội rất độc đáo
đó chính là lễ hội nhảy lửa.
Theo quan điểm của người Giao Đỏ
ngọn lửa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong đời sống sinh hoạt và văn hóa tâm linh.
Lửa được coi là vị thần
giúp xua đuổi tà ma, bệnh tật
mang lại sự ấm áp và cuộc sống no đủ, tịnh vượng.
Do đó vào những dịp đầu xuân năm mới
các bạn người Giao Đỏ lại rộn ràng
tổ chức lễ hội nhảy lửa.
Mọi người tin rằng khi lễ hội nhảy lửa diễn ra
thần lửa sẽ sởi ấm và mang lại
cho dân làng một năm mới bình yên,
mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.
Theo các nhà nghiên cứu
thì khi nhảy lửa người Giao Đỏ
có một quy định nghiêm ngặt với tất cả những người tham gia.
Trước hết phải là nam giới
sau đó là cơ thể phải sạch sẽ.
Chính vì vậy trước khi nhảy lửa
thì họ phải đun nước tắm rửa
không được đi đại và tiểu tiện
không được bốc thức ăn để tránh bị bỏng.
Đây cũng được cho là nguyên nhân mà lễ nhảy lửa
thường được thực hiện vào lúc buổi tối
tức là sau khi những người tham gia đã ăn uống xong
và tắm rửa sạch sẽ.
Khi bài cùng kết thúc
người chơi bắt đầu nhập tâm
cơ thể họ dần thoát khỏi thực tại
và chìm vào một cõi riêng kì bí.
Sau đó họ đứng lên, chân nhảy theo nhịp
và cùng tiến về đồng than đỏ rực.
Các thanh niên người Giao Đỏ nhảy mùa
với đôi chân trần trong đống lửa
mà không có cảm giác bỏng rát hay sợ hãi.
Mỗi người thường nhảy từ 5 đến 7 phút
thậm chí là 10 phút.
Thời gian nhảy trên lửa của họ
sẽ tùy theo sức mạnh mà họ được thần linh ban cho.
Hết tốt này đến tốt khác
cho đến khi đống lửa tàn hẳn thì mới thôi.
Từng chùm than đỏ rực được tay trần bốc tung lên
giữa nền trời đêm
tạo nên khung cảnh vô cùng rực rỡ và kì bí.
Vừa rồi là một số thông tin
về đồng bào dân tộc Giao tại Việt Nam.
Cảm ơn các bạn đã xem hết video.
Xin chào và hẹn gặp lại các bạn
trong những video tiếp theo.
