Việt Nam Và Những Kỳ Quan Khiến Cả Thế Giới Mê Đắm _ Thiên Hà TV.mp4

Thành Phạm
511 người theo dõi
Comments are disabled for this video.
Bạn đã bao giờ dừng lại tật lâu chỉ để nhìn Việt Nam bằng ánh mắt của một người lần đầu đến đây chưa?
Có lẽ ta đã quá quen với sông núi quê mình đến mức quên mất rằng thế giới đang thầm ngưỡng mộ từng nét đẹp ấy.
Từ vịnh biển mờ sương đến đỉnh núi lộng gió, từ những khu chợ nổi rộng ràng trên sông đến ngôi đền cổ vang vọng ngàn năm.
Việt Nam không phô trương, cũng chẳng cần gắn ngưỡng.
Đất nước này đẹp theo các cách khiến người ta phải thốt lên khi vô tình bắt gặp,
như ánh chiều nghiêng trên mái ngói Hội An, như làn gió mỏng bay giữa rừng đá phong nhà.
Và nếu bạn đã sẵn sàng, hãy cùng chúng tôi đi một vòng dọc đất nước để gặp lại Việt Nam trong một phiên bản khiến cả thế giới mê đắm.
Vịnh Hạ Long, câu chuyện cổ tích được tạc vào đá và sương.
Giữa một buổi sớm mùa sương, khi mặt biển còn ngái ngủ và sóng vỗ nhẹ như tiếng thở dài của trời đất,
vịnh Hạ Long hiện ra như một giấc mộng cổ tích.
Hàng ngàn đảo đá vôi nhô lên từ mặt nước ngọc lụt bão, đứng lặng như những linh hồn canh giữ cõi linh thiên giữa biển đông.
Mỗi khu đá mai một dán hình riêng, có nơi tự như đầu rồng, nơi khác như mai đùa,
lại có khối sừng sửng như mùi giáo chỉa lên bầu trời.
Tất cả tạo nên một khung cảnh siêu thực, vừa hùng vĩ, vừa đầy bí ẩn.
Huyền thoại kể rằng thở xưa, khi đất nước còn chìm trong khói lửa xâm lăng,
trời đã sai rồng mẹ và đàn rồng con hạ phạm giúp dân giữ nước.
Bày rồng nhã ngọc xuống biển, những viên ngọc hóa thành đảo đá, chắn bước quân thụ.
Khi hòa bình lập lại, rồng không về trời mà ở lại giữa biển xanh,
để rồi từ đó vùng bình ấy mang tên Hạ Long, nghĩa là nơi rồng náp xuống.
Dẫu chỉ là truyền thuyết, nhưng từng con sóng, từng bóng núi xương phủ nơi đây
vẫn khiến người ta tin rằng có những câu chuyện chỉ có thể tồn tại ở chốn linh thiên.
Du khách đến bình Hạ Long thường say đắm trong cảnh tượng mặt trời rọi qua làng sương mỏng,
ánh sáng phản chiếu lên những khối đá dựng đứng giữa biển trời.
Những chuyến thuyền lặn lẽ len qua các khe núi, qua động thiên cung, hang sửng sốt,
nơi nhũ đá rụ xuống như trùm đèn thiên giới,
nơi từng vệt đá in dấu dòng chảy của hàng triệu năm kiến tạo,
không gian vừa hùng tráng vừa trầm mặt.
Như thế nơi đây không thuộc về thế giới hiện tại,
mà là cánh cổng bước vào một thời gian khác, chậm hơn, sâu hơn và đầy chất thơ.
Tràng An, dòng sông đưa người về miền thanh lặng.
Có những nơi không thể cảm nhận bằng đôi mắt, Tràng An là một nơi như thế.
Nằm trong lòng tỉnh Ninh Bình, Tràng An không ồn ào, không huy hoàng kiểu vô diễn.
Vẻ đẹp nơi đây len lõi như tiếng chuông chùa ngân giữa thung lũng đá, nhẹ, sâu và lâu.
Những dòng sông uốn lượng qua hàng chục dậy núi đá vôi,
len vào các hang động ngầm, mở ra những không gian khép kính
như chiếc hộp thời gian cổ xưa bị lãng quên giữa thế kỷ hiện đại.
Dưới là nước trong xanh đến mức, có thể nhìn rõ từng đám rong mềm mại rung rinh theo dòng.
Thuyền trôi lặn lẽ, không động cơ, không âm thanh,
chỉ còn lại tiếng nước vỗ nhẹ vào mạng và tiếng gió lướt qua tanh lá.
Trên bờ là những dạy núi phủ rêu, vách đá dựng đứng phủ màu thời gian.
Như thể ai đó đã nhúng cả vùng đất này vào màu mực cổ thư.
Tràng An không chỉ có thiên nhiên, Tràng An có linh khí.
Nơi đây là chống tụ hội giữa đá, nước, hang, chùa,
giữa lịch sử, tâm linh, văn hóa dân tộc.
Hành trình qua Tràng An không chỉ là hành trình đi giữa cảnh đẹp,
mà là cuộc trở về với chính bản thể người Việt.
Nơi tính ngưỡng thờ mẫu, thờ Phật, thờ Vua Đinh Lê hòa quyện vào nhau
trong sự thành kính, mộc mạc mà thiên liêng.
Các điểm như đền trình, đền trần, hang tối, hang sáng, hang nấu rượu
đều ẩn chứa những câu chuyện được truyền qua thế hệ.
Mỗi lần thuyền trôi qua một hang đá, cảm giác như đang bước qua cánh cổng thời gian.
Các hang dài hơn 300 mét, bên trong tối mịt chỉ có ánh sáng nhỏ xíu đầu mũi thuyền dẫn lối.
Không ai nói, không ai cười, chỉ có tiếng tim đập và nhịp thở chậm lại.
Tràng An không phô diễn sự hùng vĩ, cũng không cần đèn đuốt được sáng.
Chính sự yên tĩnh và thiên liêng ấy lại làm nên sức hút đặc biệt,
một vẻ đẹp mang tính nội tâm, sâu lắng.
Ai đi rồi cũng mang theo chút gì đó không thể gọi tên,
chỉ biết rằng có một dòng sông đã đưa họ về gần hơn với cội nguồn của mình.
Có những thị trấn không cần rộng lớn để trở nên vĩ đại, cũng không cần ồn ào để được nhớ mãi.
Hội An là một nơi như vậy, nhỏ bé, lặng lẽ,
nhưng trong từng tiếng gạch, từng chiếc đèn lồng treo trước hiên nhà là cả một miệng ký ức chưa từng phai nhòa.
Nằm bên dòng sông Thu Bồn, phố cổ Hội An dường như vẫn sống trong một nhịp thời gian riêng biệt,
một nhịp sống chậm rãi, chậm lắng và đầy suy tư.
Những mái ngói phủ rêu, những ngõ nhỏ rợp bóng cây, những bức tường vàng đổ bóng xuống nền gạch cũ,
tất cả như đang kể lại những câu chuyện cũ kỹ nhưng chưa từng mất đi giá trị.
Khi màn đêm buông xuống, Hội An không tối.
Ngược lại, nơi đây bừng sáng bằng ánh đèn lồng rực rỡ và ấm áp.
Đèn không chỉ dùng để soi đường, đèn là thứ ánh sáng có hồn, là nơi thời gian được giữ lại.
Mỗi chiếc đèn là một khoảnh khắc xưa cũ được thắp sáng lại trong hiện tại.
Không ai biết rõ từ bao giờ, nhưng ánh đèn lồng đã trở thành linh hồn của Hội An,
là sợi dây níu giữ con người giữa thực tại và hoài niệm.
Ngày xưa, Hội An từng là một thương cản sầm ướp bậc nhất Đông Nam Á.
Thuyền buồn từ Nhật Bản, Trung Hoa, Bồ Đào Nha,
từng đổ về đây mang theo hàng hóa, kiến trúc và cả văn hóa.
Những gì còn lại đến hôm nay là một đô thị nhỏ với sự pha trộn hài hòa
giữa kiến trúc Việt, Hoa, Nhật và cả dấu ấn châu Âu.
Không nơi nào khác ở Việt Nam có sự giao thoa đậm đặc
nhưng vẫn giữ được sự thanh tao như ở Hội An.
Chùa cầu là minh chứng cho tinh thần ấy.
Cây cầu cổ cong cong bắt qua một con lạch nhỏ,
mái ngói âm dương, tường gỗ sơn son.
Được xây bởi người Nhật từ thế kỷ 16,
cây cầu ấy đứng yên qua bao mùa nước lũ,
bao biến thiên mà vẫn giữ được dáng vẽ trầm mặt
và sâu thẳm như tâm hồn của chính vùng đất này.
Hội An không chỉ có cảnh sát,
Hội An có âm thanh và hương vị
là tiếng gót gõ nhẹ trên nền đá cổ,
là tiếng chào hỏi nhẹ nhàng buổi sớm,
là mùi thơm của cao lầu, bánh mỳ và hương trầm len qua từng cong phố.
Hội An sống bằng những điều giản dị như thế
và chính những điều tưởng chừng nhỏ bé ấy
lại khiến người ta lưu luyến không rời.
Thành phố này dường như không chống lại thời gian
mà chọn cách sống cùng nó.
Như thế mỗi chiếc đèn lồng là một lời thị thầm rằng
đừng quên nơi này từng là một phần tuổi trẻ,
một phần tâm hồn của đất nước.
Nếu phải hình dung một thành phố như một con người
thì Huế chắc hẳn là một người phụ nữ.
Không phải kiểu đẹp được rỡ,
cũng không phải vẽ đẹp lộng lẫy dễ quên.
Huế mang vẽ đẹp sâu thẳm, trầm mặt và đầy bí ẩn.
Một nét đẹp khiến người ta không thể nhìn qua một lần rồi bước tiếp.
Càng ở lâu, càng thấy lòng mình lắng xuống,
càng hiểu, càng thương.
Giữa lòng miền trung đầy nắng gió,
Huế dịu dàng như một khoảnh lặng.
Dòng sông hương trôi chậm qua thành phố như một giải lụa xanh,
mềm mại ôm lấy kinh thành xưa cũ.
Trên bờ sông, những hàng phượng vĩ bằng lăng,
những mái đình, chùa cổ kính và những lăng tẩm rêu phong
như đang kể lại một triều đại đã đi qua
nhưng chưa từng thật sự rời bỏ nơi này.
Kinh thành Huế, tự cắm thành, điện thái hòa, ngọ môn
không chỉ là những công trình kiến trúc,
đó là những ký ức bằng gạch đá,
gắn liền với một giai đoạn huy hoàng
và bi thương trong lịch sử dân tộc.
Những bức tường phủ rêu, những cánh cửa sân son thép vàng,
những bậc thèm mòn dấu chân vua chúa,
tất cả như vẫn còn phản phất khí chất
của một thời phong kiến đã lùi xa.
Huế không ồn ào, thành phố này sống chậm,
nói khẽ, thở nhẹ.
Từ các người Huế trò chuyện,
cách họ pha trà, bày bị món ăn,
cho đến cách họ đưa tiễn một người về gõi xa xâm.
Tất cả đều toát lên sự tinh tế,
sâu lắng và có phần đượm buồn.
Nỗi buồn của Huế không phải là nỗi buồn khổ đau,
mà là nỗi buồn đẹp,
như khói nhang trong những ngôi chùa cổ
bay chậm trong ánh hoàng hôn,
như tiếng chuông thiêm mụ ngân vang giữa đêm mưa,
như giọng nói nhẹ nhàng mà gia diết
của người con gái xứ này,
dịu dàng đến mức khiến người ta không nỡ nói to hơn.
Có những buổi sáng mù sương,
lăn vua tựa đất hay minh mạng
hiện ra giữa rừng thông tỉnh lặng,
không gian như đông cứng lại.
Những mái ngói công vuốt,
hồ sen cũ, cầu đá cổ,
tất cả như đang thị thầm với thời gian.
Không ai bước vào Huế
mà không mang theo chút lặng tin,
bởi Huế không phải để khám phá vội vàng,
mà để ngồi lại lâu hơn một nhịp thở,
nhìn ngắm lâu hơn một ánh nhìn,
và thấm dần vào tim
như một khúc nhạc buồn mà đẹp đến lặng người.
Mỹ Sơn
Những ngọn tháp thị thầm
lời cầu nguyện ngàn năm.
Ẩn mình trong thông lũng hẹp
giữa núi rừng Quảng Nam,
thánh địa Mỹ Sơn hiện ra không bằng vẻ hào nhoáng,
mà bằng sự lặng lẽ cổ kính
thấm đẫm một thứ năng lượng
khó gọi thành tên.
Dưới tán rừng âm u,
từng ngọn tháp gạch đỏ trầm
như vẫn đang giữ lại hơi thở
của một nền phân minh
đã ngủ quên cả ngàn năm.
Mỹ Sơn từng là trung tâm tôn giáo
quan trọng nhất của Vương quốc Trăm Ba Cổ,
nơi vua lên ngôi,
nơi tế lệ các vị thần Hindu,
đặc biệt là thần Shiva,
đấn hủy diệt và tái sinh.
Hơn 70 công trình lớn nhỏ
từng hiện diện nơi đây,
với kỹ thuật xây dựng đặc biệt đến nay
vẫn chưa được giải mã hoàn toàn.
Không cần xi măng,
vửa hay keo dính,
chỉ có gạch trồng lên gạch,
mà vẫn đứng vững qua hàng thế kỷ mưa nắng
và chiến tranh.
Đặt chân vào khu đền tháp,
người ta có cảm giác như đang đi
vào một tầng thời gian khác.
Những tháp đã vỡ đôi,
những mãn gạch ngã nghiêng
vẫn giữ nguyên hơi nóng của mặt trời
và ký ức xưa cũ.
Người ta tin rằng,
nếu chạm tay vào trường gạch vào buổi sớm,
có thể cảm nhận được không chỉ nắng,
mà cả những lời cầu nguyện
còn âm ỉ trong đá.
Không gian ở đây mang gián dấp
của linh khí,
của những nghi lễ xưa,
những điệu múa trong đêm trăng,
những khúc hát thần thánh
đã lùi vào huyền thoại.
Mỹ Sơn không ổn ào kể chuyện,
nhưng tháp nào cũng đang thị thầm
và người biết lắng nghe
sẽ nghe thấy âm thanh rất xa,
rất trầm như tiếng chuông đá
van lên từ đáy thời gian.
Giữa một thế giới ngày càng hiện đại,
Mỹ Sơn như một mảnh quá khứ
chưa chịu lùi bước.
Không ai lý giải trọng vẹn
tất cả những điều xảy ra nơi đây,
nhưng bất kỳ ai tưởng đến
đều sẽ hiểu rằng
có những nơi không cần hiểu,
chỉ cần cúi đầu lặng im
và để đá nói thầy.
Sapa, khi mây không trôi
mà trú lại trên đất.
Ở miền biên viện phía Tây Bắc,
có một nơi mây không trôi qua bầu trời
mà chọn cách ở lại.
Sapa như được sinh ra từ mây,
lớn lên trong gió núi
và trưởng thành
giữa nhịp sống chậm rãi
của người miền cao.
Ở nơi ấy, thiên nhiên và con người
không tách biệt.
Núi không chỉ là cảnh,
mà là mái nhà.
Mây không chỉ để ngắm,
mà là bạn đồng hành
của những chuyến đi qua bao thế hệ.
Những thử ruộng bậc thang
uống công như nét cọ của trời đất,
trải dài từ sườn núi này
sang sườn núi khác
là kỳ quan không do mái móc tạo nên,
mà từ đôi tay,
chiếc cuốc và sự kiên nhẫn
truyền qua máu thịt bao đời.
Mỗi bậc ruộng là một bước chân
cha ông khai phá,
là một lát cắt thời gian
đồng lại giữa mưa nắng.
Vào mùa lúa chính,
cả vùng cao được lên
màu vàng ống ánh,
lớn trong đó là gián người gùi lúa,
tiếng nói gửi vọng
từ ruộng về tận đỉnh đồi.
Sapa không chỉ có cảnh,
Sapa có người,
là ánh mắt trong veo
của những em bé người hờ mông,
má ứng đỏ vì gió núi,
tay bám lấy vài áo mẹ
khi đứng bên vệ đường chào khách.
Là tiếng khen nhặt dịu trong chiều xuân,
ngân nga từ một mái nhà gỗ
bên vách núi,
nơi có chàng trai đang gửi lòng mình
vào âm thanh tìm bạn đời.
Là bếp lửa bập bùng trong đêm lạnh,
nơi cả gia đình quay quận
bên bắp ngô nướng,
cụ sáng thơm
và câu chuyện chưa từng kể ra.
Có những sáng mùa đông,
thị trấn mờ trong sương đặc,
bàn tay đưa ra còn không thấy rõ,
nhưng giữa cái lạnh các gia ấy
vẫn có tiếng bước chân đều đều
trên con dốc nhỏ,
tiếng người gọi nhau đi chợ phiên,
tiếng gốt gỗ gọi lóc cốc
trên nền đá cũ.
Ở đó, cuộc sống vẫn diễn ra bình thường,
không vội vã, không lùi bước
như chính tinh thần của núi.
Sapa không phải là điểm đến để đi qua,
đó là nơi để dừng lại,
để ngồi bên bếp lửa,
nghe người già kể chuyện ma rừng,
nghe người trẻ nói
về những con đường chưa đi hết
và để nhìn vào đôi mắt
trong vắt của trẻ con vùng cao,
nơi người ta thấy được
cả trời đất phản chiếu.
Phong nha kẻ bàng,
dưới lòng đất là cả một vũ trụ.
Nếu có nơi nào
ở Việt Nam khiến con người
phải ngẩn đầu trong lòng đất,
thì đó chính là phong nha kẻ bàng.
Không phải một hang động,
mà là một thế giới khác,
nơi thời gian hóa thạch thành thèm hang,
nơi bóng tối biết thở
và ánh sáng biết quỳ xuống
trước vẻ đẹp của tạo hóa.
Khi bước qua cửa hang,
ánh sáng bên ngoài mờ dần,
không gian phía trước mở ra
như một điện thờ khổng lồ,
nơi thiên nhiên đã tự tay tạc dựng
bằng nước, đá và hàng triệu năm im lặng.
Trần hang vuốt cao,
thạch nhũ đủ xuống như đèn chùm
của một nhà thờ dưới lòng đất,
phản chiếu ánh sáng tự nhiên
len lõi qua khe đá.
Tiếng bước chân vang vọng
rồi lặn đi chậm rãi,
như thể đá cũng len lắng nghe.
Phong nha không phải điểm đến,
đó là một chiều không gian khác,
một nơi tỉnh lặn đến mức
khiến con người phải thu nhỏ lại
giữa lòng đất mẹ.
Có những hang sâu hàng cây số,
chỉ có thể vào bằng thuyền.
Dòng sông ngầm trôi lặn lẽ
giữa các lớp đá bạc màu thời gian,
mang theo âm vang
củ thở khai thiên lập địa.
Có những khoảnh khắc,
ánh sáng mỏng manh rọi từ trần hang xuống,
chiếu lên mặt đá hình bóng kỳ lạ,
như đang diễn ra
một nghi lễ cổ xưa.
Người ta gọi đó là ánh sáng thánh,
và cảm giác ấy
thiên liên, rợn ngợp,
chỉ có thể tìm thấy ở đây.
Phía trên là rừng đá vôi trọc trùng,
phía dưới là lòng đất
chưa khai phá hết.
Quanh vùng, đường rậm vẫn còn
giữ nguyên vẻ hoang sơ,
nơi thu quý, cây lạ xinh tộn
mà không cần bàn tay con người.
Mỗi bước chân ở đây
như một cuộc hành hương,
không đến đền đại mà về với
cội nguồn nguyên thủy.
Không phải ai cũng đặt chân vào hang sơn đòn,
nhưng chỉ cần đứng trước
động phong nhà hay thiên đường
cũng đủ để hiểu
thiên nhiên Việt Nam không chỉ đẹp
mà còn biết giữ lại những điều thiên liên nhất
bằng sự im lặng của đá
và thời gian.
Cần Thơ và chợ nổi
những phiên chợ chỉ dành cho người
biết lắng nghe.
Ở nơi tận cùng của những nhánh sông Cửu Long
có một thành phố
không thức dậy bằng tiếng gọi xe
mà bằng tiếng ghe máy,
tiếng rao hàng từ giữa sông
và tiếng nước vỗ nhẹ nhẹ vào mạng thuyền.
Đó là Cần Thơ,
thủ phủ miền Tây sông nước,
nơi mà chợ không nằm trên đất liền
mà nổi lên bền giữa dòng sông
như những cụm lục bình biết nói.
Chợ nổi Cái Răng
không giống bất kỳ khu chợ nào khác.
Ở đó người ta không đi bộ,
không kéo xe,
mà đi thuyền, chèo nhẹ,
cười tươi và nói chuyện lớn
để áp tiếng máy nổ.
Mỗi chiếc ghe là một sạp hàng
treo theo đúng kiểu miền Tây.
Một thứ cần bán lên một cây sào,
gọi là cây bẹo.
Dưa hấu treo dưa hấu,
bí đỏ treo bí đỏ.
Không cần cho mời rối rít,
ai cần thì tự treo lại.
Cái kiểu bán hàng đó,
giản dị mà thành thật đến lạ.
Nhưng điều đặc biệt nhất
của chợ nổi không nằm
ở hàng hóa mà ở nhịp sống.
Đó là thứ nhịp không đếm bằng giờ giấc
mà đo bằng tiếng gà gáy
từ bờ bên kia,
bằng ánh mặt trời le lói
xuyên qua làng sương sớm,
bằng những bát hủ tiếu nóng hổi
được múc ra ngay trên ghe,
khói bay nghi ngút giữa dòng sông.
Có cả cà phê,
có cả tiếng đàn ca vọng cổ
vang vọng từ chiếc ghe nào đó
đang xuôi về phía cầu cái răng.
Giữa bao tiếng máy nổ,
tiếng nước chảy, tiếng chèo cua,
người ta vẫn có thể lắng nghe được
âm thanh rớt một, tiếng sóng.
Người miền Tây hiền khô,
nói năng tự tốn,
nhưng không thiếu khôi hại và ấm lòng.
Một nụ cười,
một câu rao hàng,
một chánh trà mời khách lạ,
tất cả đều như lời chào nhẹ nhàng
của đất trời phương Nam
gửi đến người phương xa.
Không khoa trương, không màu mè,
chỉ cần một sáng sớm đi qua chợ nổi,
ai cũng sẽ hiểu vì sao nơi đây
được gọi là trái tim của đồng bằng.
Và nếu lắng nghe thật kỹ,
giữa bao âm thanh nhộn nhịp
của buổi họp chợ,
sẽ thấy trong đó có cả tiếng thở dài
rớt khẽ của dòng sông.
Như thế nước cũng đang nhớ ai?
Hay đang nhắc nhở?
Hãy chậm lại một chút
để thấy được những điều bình dị
đang dần trôi qua mất.
Cao nguyên đá đồng văn,
nơi đá cũng biết kể chuyện.
Ở tận cùng phía bắc,
nơi bản đồ Việt Nam vương lên
như một ngón tay chỉ vào trời cao,
có một vùng đất đá không chịu ngủ yên.
Đồng văn,
nơi núi không phủ rừng mà phủ đá,
nơi con đường uống lượng
như giải lụa vắt ngang vách núi,
và nơi mà sự khắc nghiệt
lại sinh ra vẻ đẹp
làm người ta không thể dứt ra được.
Cao nguyên đá đồng văn
không dành cho những kẻ vội vàng,
những con đèo dựng đứng,
những vách đá tai mèo tu tủ,
những ngôi làng treo leo nơi không khí loạn
và gió thổi suốt ngày đêm.
Tất cả như muốn thử thách người ta
trước khi cho thấy phần thượng xứng đáng.
Nhưng một khi đã đặt chân tới,
sẽ thấy nơi đây không chỉ là một vùng núi,
mà là một vùng hồn,
hồn đá,
hồn người,
hồn tổ tiên.
Nhọc theo những công đường như Mã Pí Lèng,
du khách không chỉ được ngắm nhìn
những vách núi hùng vĩ,
sông nho quế xanh thẳm chạy sâu dưới đáy vực,
mà còn bắt gặp những đứa trẻ chân trần
đi bộ đến trường giữa sương lạnh,
những người mẹ điều con treo núi
và những cụ già gùi ngô
từ nương về trong ánh chiều.
Cuộc sống ở đây cứng cáp
như chính những viên đá hàng triệu năm tuổi,
lặng lẽ, kiên cường
và không đòi hỏi ai phải thương hại.
Nơi đây
cũng là chốn cư ngụ
của nhiều tộc người thiểu số.
Hờ mông, lô lô, dao, tày.
Mỗi cộng đồng là một mảnh ghép
của bức tranh văn hóa miền đá.
Những ngôi nhà tường trình,
những bộ váy theo tay được rỡ,
những phiên chợ được rỡ sắc màu
và tiếng khen gọi bạn tình
trong đêm hội.
Tất cả làm nên một thế giới
mà đô thị không bao giờ hiểu nổi.
Đồng Văn
còn là công viên địa chất toàn cầu
do UNESCO công nhận.
Không chỉ vì hình thù đặc biệt của đá,
mà vì chính cách con người nơi đây
đã sống hòa mình với đá
qua hàng ngàn năm.
Đá không phải là vật cản.
Đá là nền móng,
là trí nhớ của đất,
là chứng nhân của một dân tộc
biết biến khó khăn thành bản sắc.
Trên đỉnh Lụng Cú,
nơi lá cờ đỏ sao vàng tung bay giữa mây,
người ta có thể nhìn về phía xa
thấy đất trời Việt Nam trải ra
như một bức tranh gồ ghề mà mềm mại,
dữ dội mà dịu dàng.
Và chợt hiểu rằng
chỉ khi lên đến tận cung cực Bắc,
người ta mới thấy trọn hình hài
của Tổ quốc.
Việt Nam không được rỡ
theo kiểu hoa lệ,
cũng chẳng ồn ào để thu hút sự chú ý.
Đất nước này đẹp theo một cách
rất riêng, thầm lặng, sâu sắc
và bền bỉ như chính
con người nơi đây.
Từ Hạ Long Mờ Xương
đến Sapa Lương Trời,
từ ánh đèn Hội An đến Đá Cổ Mỹ Sơn,
mỗi nơi là một mảnh hồn dân tộc,
một lát các ký ức
chưa bao giờ phai nhòa.
Cái đẹp ở Việt Nam
không chỉ nằm ở cảnh sát,
mà còn ẩn trong nhịp sóng,
trong tiếng rao chở nổi,
trong tiếng khèn đêm khuya,
trong ánh nhìn của những đứa trẻ vùng cao.
Và có lẽ,
chính bể đẹp không phô trường ấy
mới khiến thế giới mê đắm.
Còn với những người Việt,
nếu nhìn lại một lần thật kỹ,
bạn sẽ nhận ra rằng,
quê hương mình kỳ diệu hơn những gì ta từng nghĩ.
