Sài Gòn Ngày Giải Phóng Trông Thế Nào Dưới Góc Nhìn Người Mỹ?
Ngày 30/4/1975 chính là một trong những mốc son chói lọi nhất lịch sử của dân tộc Việt Nam. Tiếng vang của cánh cổng sắt bị húc đổ không chỉ là âm thanh của chiến thắng mà còn là nốt cao trào trong khúc ca khải hoàn, mở ra một chương mới cho đất nước. Nhưng đó là dưới góc nhìn từ phía chúng ta. Còn người Mỹ, họ nhìn nhận sự kiện như thế nào?
▶ Xem video • Địa Đạo Củ Chi: Địa Ngục Kinh Hoàng Khiến ... ▶ Xem video • Phim Hollywood Về Chiến Tranh Việt Nam: Sự... ▶ Xem video • Chiến Dịch Trị Thiên 1972: Đập Tan Âm Mưu ... ----------------------------- 📋 "CDMedia - Quân sự" là một nền tảng chuyên sâu kết nối những kiến thức và thông tin xoay quanh lĩnh vực quân sự. Dựa trên các nguồn đáng tin cậy từ nhiều phía, kênh mang đến cho khán giả một cái nhìn đa chiều về các chiến lược quân sự, công nghệ quốc phòng từ quá khứ tới hiện đại. "CDMedia - Quân sự" không chỉ là nơi cung cấp thông tin, mà còn là cầu nối giúp người xem hiểu rõ hơn về sức mạnh và tầm ảnh hưởng của quân sự trong bối cảnh toàn cầu.
Khoảnh khắc này chính là một trong những mốc son trói lợi nhất lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Tiếng vang của cánh cổng sắt bị hút đổi không chỉ là âm thanh của chiến thắng
mà còn là nốt cao trào trong khúc ca khải hoàng mở ra một trường mới cho đất nước.
Nhưng đó là dưới góc nhìn từ phía chúng ta.
Còn người Mỹ, họ nhìn nhận sự kiện này như thế nào?
Câu chuyện các bạn sắp theo dõi được kể dưới góc nhìn của nhà báo Mỹ
có mọt tại Sài Gòn trong ngày 30 tháng 4.
5 giờ sáng, ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi dạo bước trên đường phố Sài Gòn.
Còn thành phố giờ đây ngập tràn trong tiếng nhạc từ những chiếc lòa phát thành.
Xung quanh tôi nhiều hàng quán bắt đầu mở cửa.
Những tiếng nắng đầu tiên dọi xuống mặt đường.
Chúng rực rỡ như muốn báo hiệu cho một khởi đầu mới của đất nước này.
Ngay từ đầu, đây đã là cuộc chiến mà tôi chán ghét.
Bởi vậy, nên khi nghe tin Việt Cộng đang tiến vào Sài Gòn,
thay vì hoảng sợ, tôi lại thấy thật nhẹ nhóm.
Mà dù vậy, tôi có thể thấy được sự lo âu hiện trên khuôn mặt
của một số người dân mà mình bắt gặp trên đường.
Có nên đi làm hay không?
Hàng quán ngoài chợ liệu có mở?
Và quan trọng nhất, liệu có xảy ra cuộc đấu súng nào trên phố?
Những câu hỏi mơ hồ ấy không chỉ in rõ lên nét mặt họ,
mà còn bao trùm trong mọi sinh hoạt thường nhật.
Điều đó sẽ cho cùng là hoàn toàn bình thường trong hoàn cảnh này mà thôi.
Bởi chỉ mới hôm qua, Sài Gòn vẫn còn đang là thủ phủ của Việt Nam Cộng Hòa,
một chính quyền do Washington lầm nên.
Nhưng giờ đây, vai trò đó đã hoàn toàn biến mất.
Quân đội thì dịu dã, còn nhiều tướng lĩnh, quan chức cùng người dân
giờ này chắc đang lênh đênh trên những con tàu chiến ngoài Biển Đông,
vượt hàng ngàn cây số với mong muốn chạm đến giấc mơ Mỹ mà họ hàng ngào ước.
Trong suốt những năm trước đó của cuộc chiến,
Sài Gòn vẫn luôn là một trong những nơi vắng tiếng bom đại nhất.
Tất nhiên, thỉnh thoảng vẫn có những vụ tấn công nhắm vào địa điểm
mà các vị quan chức thường gặp gỡ hay tòa đại sứ quan Mỹ.
Định điểm là quân nổi dậy vào đầu năm 1968 của Việt Cộng.
Nhưng nhìn chung, mọi thứ chưa bao giờ là quá tệ với chính quyền Sài Gòn.
Mãi cho đến những ngày cuối tháng 4 năm 1975.
Trên khắp các nhào đường của thành phố, cơm giật diễn ra như cơm bữa
khiến ai cũng mong ngóng lính Việt Cộng tiến vào tiếp quản để chấm dứt tình trạng hỗn loạn đó.
Và có lẽ viết canh ấy chỉ còn cách vài tiếng đồng hồ ngắn ngủi nữa mà thôi.
Bởi mới chỉ ngay ngày hôm qua, tôi vẫn còn nghe những tiếng pháo rơi hền vang ở riêng thành phố.
Chứ cái điều hiện nhiên sẽ xảy đến.
Đúng 8 giờ 30 phút sáng, Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho binh lính của ông ta
buông vũ khí để hạn chế những thiệt hại không cần thiết.
Sau này, vài nghìn lính cộng sản đã nói đùa với tôi rằng
họ chiếm Sài Gòn dễ như trở bàn tay.
Câu đùa đó hoàn toàn có cơ sở.
Vì ngay hôm ấy, Việt Cộng tiến vào đội thành mà gần như không gặp phải sự kháng cự gì đáng kể.
Vào những giây phút trước khi bắt đầu một kỳ nguyên mới,
Tất cả những gì còn lại chỉ là tan tích từ một cuộc di tản hốt loạn ngày hôm trước
và các vụ cơ bóc sau đó.
Tòa Thị Chính và nhà hát opera cũ của người Pháp,
nơi Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa từng dùng làm chỗ hội họp,
cũng trở nên vắng lạm.
Dình độc lập giờ đây không còn vị nguyên thủ đúng nghĩa nào.
Nguyễn Văn Thiểu đã rời khỏi đất nước từ lâu.
Người kế nhiệm ông ta là Trần Văn Hương,
Khi những sĩ quan Việt Cộng đầu tiên tiến vào dình,
ông Minh tuyên bố
Vị Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa,
chị Tai Vy được đúng 2 ngày ngắn ngủi.
Quyền lực của Dương Văn Minh qua thật chỉ là áo ảnh hư vô.
Nhưng không chỉ ông ta,
mà nhiều người dân Sài Gòn cũng đã tự huyễn hoặc bản thân
việc thứ không tồn tại đó suốt một quãng thời gian dài.
Quay ngược lại 2 tuần trước,
trong các khu vườn Bách Thảo,
nơi dân chúng thường tụ tập vào dịp cuối tuần,
không khó để nghe những tin đồn nhảm vô căn cứ đại loại như kiểu
người Pháp sẽ trở lại với 2 sư đoàn,
người Mỹ sẽ ném bom miền Bắc thêm lần nữa,
hay sẽ có một chính phủ liên hợp mới.
Mãi đến những ngày gần đây,
họ mới thôi bàn tán về những điều vớ vẩn đó
và bắt đầu lan truyền câu nói phổ biến
Chúng ta đều là người Việt.
Đó là một khẩu hiệu vừa mang tới hy vọng
nhưng đồng thời cũng có cả phần nào cam chịu ở trong đó.
Đối với dân thường, đó là sự an nủi,
rằng một viễn cảnh hòa bình cuối cùng cũng đã trở thành hiện thực.
Nhưng với những ai có địa vị hoặc gắn bó với người Mỹ,
đó lại là nỗi lo sợ.
Họ hay ngại bị trả thù,
hoặc không thì cũng sẽ bị liệt vào danh sách đen mãi về sau.
Theo tôi thấy,
thì phần nhiều những nỗi lo ấy hoàn toàn không có căn cứ gì
mà chỉ xuất phát bởi tình trạng hoảng loạn chung tại thời điểm đó.
Thêm nữa, là những người Cộng sản thực sự rất đáng mến.
Họ thậm chí sẽ không nhắm đến những dân thường người Mỹ như tôi,
chứ đừng nói là chính đồng bò mình.
Tôi có đọc được một bài báo đã từng viết rằng
Nỗi sợ Việt Cộng đã khiến cả Sài Gòn bất trí.
Chính nỗi sợ đó đã thôi thúc gần 1 triệu người rời bỏ quê hương.
Trong ngày 29 tháng 4,
nhiều sĩ quan Mỹ phụ trách việc di tản
đã phải đối mặt với những quyết định đầy khó khăn.
Để tránh làm suy yếu thêm lực lượng phòng thủ,
vốn đất kiệt quệ của Việt Nam Cộng Hòa.
Họ an chế thực hiện các chuyến di tản đã được lên lịch từ trước,
đồng thời phải tìm cách chấn an những người ở lại rằng
đảm bảo sẽ đưa được tất cả rời đi.
Tuy nhiên, đó là một lời hứa mà họ không thể thực hiện.
Frank Snipp, một nhà báo có mặt tại Sài Gòn khi ấy,
sau này cũng đã kể lại như sao.
Những tiếng kêu hoảng loạn vang lên trong sóng radio của CIA
vào ngay cuối cùng đó vẫn khiến tôi dài dứt.
Giống Snipp, một ngày trước khi Sài Gòn thất thủ,
tôi cùng với nhiều phóng viên khác
cũng đứng trên mái khách sạn Caravelle
chứng kiến hàng dài những con người tuyệt vọng chờ được di tản.
Niềm tin của họ dường như đã chạm đáy
khi nhìn thấy trực thăng bay xa dần
và nhận ra rằng sẽ không còn chiếc nào quay lại nữa.
Tại khu vực Đại sứ quán Mỹ,
đàm đông tụ tập đông nghịch.
Họ gào khóc và cầu xin được vào bên trong.
Những người lính Mỹ cố gắng đẩy họ ra
chỉ cho phép những ai có giấy phép hợp lệ vượt qua.
Đến sáng ngày 30,
những chiếc xe tăng của Việt Cộng bắt đầu tiến vào thành phố
hướng thẳng về trung tâm và dình độc lập.
Một vài chiếc bị lạc đường.
Chúng tôi thậm chí còn thấy một xe quay đầu
và đi nhầm về phía bệnh viện cũ của người Pháp.
Nhưng không lâu sau,
đoàn xe tăng nhanh chóng tìm được đường đến dính độc lập
và hút đổ cánh cổng lớn.
Đi theo những chiếc xe tăng,
còn có người đồng nhập James Fenton của tôi,
phòng viên cuối cùng của The Washington Post tại Sài Gòn.
Ông xuất hiện với vẻ mặt vừa phấn khởi, vừa lo âu.
Có lẽ ông cũng như tôi,
vui mừng vì hòa bình sẽ được thiết lập,
nhưng đồng thời cũng mơ hồ về tương lai của người dân nơi đây.
Khi những người lính cộng sản tiến vào,
lực lượng phòng thủ tại dinh nhanh chóng tàn giá,
một số cố gắng kháng cự trong vô vọng.
Những người mê đến ấy được gọi là bộ đội.
Họ mặc đồng phục xanh lục nhạt giản dị,
đổi mũ cối kiểu cũ
và trên gương mặt dường như là sự nhẹ nhó.
Chiến tranh đã kết thúc,
bản thân vẫn sống sót và là một phần của chiến thắng phí đại này.
Vài ngày sau, một cực diễu hoành ngăn mừng được tổ chức,
rồi nhiều bộ đội rời khỏi Sài Gòn.
Những người ở lại thì luôn tỏ ra lịch sự,
thậm chí là có phần rụt rè với chúng tôi.
Họ tin rằng những người da trắng còn ở lại đều là người Nga.
Một số bày tỏ sự ngạc nhiên trước những công trình hiện đại của thành phố.
Trong khi số khác thích thú với những chiếc đồng hồ,
món đồ xa xỉ mà chỉ các sĩ quan cấp cao mới sở hữu,
đặc biệt là các mẫu điện tử có thể hiển thị ngày tháng.
Nếu đi thành cặp, họ thường níu lấy tay nhau,
một cảnh tượng gây xúc động lạ kỳ.
Dù vậy, những người này vẫn chứng tỏ bản thân đã được huấn luyện rất bài bản.
Khi một nhóm nhỏ những người trong đối chính quyền mới
liều lính nổ súng vào các bộ đội gần công viên cạnh dinh độc lập,
họ phản ứng ngay lập tức với tốc độ và kỷ luật đáng kinh ngạc.
Những người lính vừa nằm dài hút thuốc,
chỉ trong tích tắc đã xoay người bán trả,
trong khi các nhóm khác nhanh chóng áp sát kẻ thù từ hai bên sườn.
Cảnh tượng này nhắc cho chúng ta nhớ rằng,
thời đại chiến tranh mà quân du kích chỉ được trang bị thô sơ,
phải đối đầu với kẻ địch mạnh hơn đã kết thúc rồi.
Giờ đây, quân đội tiến vào Sài Gòn
là một lực lượng tinh nguệ mà bất kỳ quốc gia nào cũng ảo ước.
Họ được trang bị đầy đủ pháo binh và xe tăng,
chỉ thiếu một không quân.
Nhưng điều đó không còn quan trọng
vì không lực của Việt Nam Cộng Hòa từ sớm đã tàn giã.
Thực chất, những gì tôi vừa miêu tả
về sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa
là thứ đã được dự đoán từ trước.
Ở Mỹ, quốc hội và người dân ngày càng phản đối
việc kéo dài chiến tranh,
dẫn đến các khoản viện trợ dành cho Sài Gòn bị thu hẹp dần.
Để rồi khi nhận thấy cuộc chiến không còn phù hợp
với bối cảnh chính trị,
cả Richard Nixon và Henry Kissinger
đã quyết định rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam,
theo các điều khoản của Hiệp định Hòa Bình Paris năm 1973.
Họ hiểu rằng, điều này đồng nghĩa với việc
Cộng sản sẽ giành thắng lợi,
nhưng vẫn mong muốn có một khoảng cách thời gian phù hợp
như lời Kissinger đã nói,
giữa thời điểm Washington rút lui
và sự thất bại của Việt Nam Cộng Hòa.
Điều này nhằm đảm bảo rằng
chính quyền Sài Gòn có thể tiếp tục chiến đấu thêm một thời gian
sau khi quân đội Mỹ rời đi,
quả đó giữ thể diện cho sức cờ hoa trên trường quốc tế.
Vào cuối tháng 8 năm 1974,
Thiều tửng Johnny Murray,
người phụ trách viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam,
đã thẳng thắng nhận định rằng
nếu không có hỗ trợ,
quân lực Việt Nam Cộng Hòa chắc chắn sẽ thất bại.
Họ có thể không thua ngay tuần sau hay tháng sau,
nhưng năm tới thì khó tránh khỏi.
Thực ra thì ai cũng có thể đưa ra được nhận định như vậy
nếu có chút kiến thức quân sự.
Thứ nhất là vấn đề địa lý.
Miền Nam Việt Nam là một vùng đất
dễ bị tấn công bất ngờ từ nhiều hướng.
Để phòng thù hiệu quả tại các điểm chiến lược,
họ cần sự hỗ trợ liên tục từ Mỹ.
Nhưng giờ đây, các nguồn viện trợ lại đang dần cạn kiệt.
Về phần Tổng thống Thiệu,
ông ta vốn từ đầu đã không có nhiều tình chính danh.
Giờ đây lại càng ít được người dân miền Nam ủng hộ hơn.
Nên kinh tế miền Nam thì rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng,
khiến ngay cả những người công giáo từng đứng về phía ông Thiệu cũng quay lưng.
Những người theo Đạo Phật thì ngày càng phản đối chính quyền gây gắt,
trong khi các nhóm môn hòa và trung lập
cũng không còn mạn mà với chế độ đàn dân mộc nát.
Trong khi đó, dù phía Việt Cộng luôn thể hiện
sự tin tưởng tuyệt đối về một chiến thắng cuối cùng
và viễn cảnh thống nhất đất nước,
họ cũng phải đối mặt với những khó khăn diệt.
Sau Hiệp định Hòa Bình Paris,
cả Liên Xô và Trung Quốc đều giảm dần hỗ trợ quân sự,
gây ra nhiều vấn đề về vũ khí và trang thiết bị.
Họ cũng lo ngại về độ tin cậy và động cơ thực sự của các đồng minh quốc tế.
Trong cuộc sách Black April,
Josh David đã viết rằng
thời điểm đó, những người công sản cảm thấy cơ hội
để giành chiến thắng thực sự rất mỏng mạnh.
Để tên Anh hợp nhất hai miền,
kế hoạch dự kiến ban đầu của họ là thực hiện một chiến dịch quân sự kéo dài 2 năm,
với kết thúc thắng lợi dự kiến sẽ diễn ra vào năm 1976.
Tuy nhiên, những đợt tấn công mở màn tại Tây Nguyên
lại đã được thành công vượt mong đợi,
khiến Việt Cộng quyết định tiến hành tổng công kích ngay trong năm 1975.
Chỉ trong vòng 2 tháng ngắn ngủi,
tình hình đã thay đổi chóng mặt,
khi họ nhanh chóng tiến sát Sài Gòn.
Sự thiếu hộp lực lượng và hỏa lực,
cộng với những quyết định sai lầm từ Tổng Thống Thiệu
cùng các tướng lính giới quyền,
càng làm tình hình thêm nghiêm trọng.
Tại các khu vực như Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng hay nhiều nơi khác,
cảnh tượng hỗn loạn diễn ra khắp nơi.
Mỗi ngày đều có rất nhiều binh lính Việt Nam Cộng Hòa đảo ngũ.
Dù có được nhìn nhận là một quốc gia thực sự
hay chỉ là một chính quyền bù nhìn,
cái kết của Việt Nam Cộng Hòa chắc chắn không gì khác
ngoài sự tàn vỡ hoàn toàn.
Điều này đã khiến cả thế giới không khỏi bạc hỏa.
Để ghi lại những khoảnh khắc cuối cùng của chế độ Sài Gòn,
tôi cùng nhiều phóng viên khác vẫn quyết định bám trụ lại thành phố,
mặc cho những rủi rò có thể xảy đến bất cứ lúc nào.
Phần lớn những người quyết định ở lại là người Pháp và Nhật.
Bên cạnh đó có vài người Anh,
cùng một hai người Mỹ giả danh là người Canada.
Điều kiện tăng nghiệp của chúng tôi trong suốt những năm ở dài đất hình chữ S
dĩ nhiên luôn tiềm ẩn nguy cơ.
Nhưng so với nhiều cuộc chiến khác thì có phần dễ chịu hơn.
Nhiều việc được sử dụng máy bay và trực thăng để di chuyển,
được cung cấp chỗ ở và bảo vệ bởi lực lượng Hoa Kỳ
cùng quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Buổi sáng tôi có thể còn ở gần một chiến trường tại Tây Nguyên,
nhưng đến chiều đã có thể trở về trung tâm Sài Gòn,
tắm rửa và thưởng thức một ly rượu.
Tuy nhiên khi thời gian trôi dần sang tháng 4,
tất cả những điều ấy đã không còn nữa.
Sự hỗ trợ và bảo vệ từ phía Mỹ hoàn toàn biến mất.
Nhiều người liên lạc bản địa cũng không còn xuất hiện.
Phần lớn các trợ lý, tài xế hay thông dịch viên người bản địa
cũng đã rơi đi hoặc không rõ tung tích.
Một số ít vẫn ở lại.
Nhưng cuối cùng hóa ra họ đều là gián điệp của phía Cộng sản.
Vài sĩ quan Việt Cộng có thể giao tiếp bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp,
nhưng họ hiếm khi giúp đỡ được chúng tôi.
Có lần ngay sau khi thành phố được tiếp quản bởi Cộng sản,
một nhóm quay phim cỏ bất ngờ xông vào văn phòng của The CBS
yêu cầu giao nộp những đoạn phim ghi lại cảnh chiến đấu cuối cùng tại bến Tân Cạc.
Họ trông có vẻ tức giận, mồ hôi nhễ nhải,
có lẽ vì đến muộn không kịp ghi hình,
nên muốn lấy những cảnh quay mà đài truyền hình Mỹ đã thực hiện.
Chứng kiến tình huống đó, tôi lập tức đi tìm một vị tướng Việt Cộng
có tính cách khá ân hòa mà trước đó mình từng gặp.
Ông nhanh chóng đến can thiệp, giải quyết đồn thỏa
và ra lệnh cho những người lính kia rút lui.
Trưởng văn phòng của CBS thở vào nhẹ nhóm,
mời vị tướng một ly để tỏ lòng cảm ơn.
Nhưng ông chỉ mìm cười từ chối một cách nhã nhãn.
Quả đó có thể thấy công việc của giới phóng viên chúng tôi gặp không ít khó khăn.
Thiết bị cần thiết thì chỉ có số lượng hạn chế.
Thời gian đầu, việc gửi báo cáo gần như bất khả thi do bưu điện đóng cửa,
còn các đường dây fax và điện thoại đều tê liệt.
Khi tình hình dân ổn định, chúng tôi mới có thể gửi đi các ghi chép chi tiết
về những ngày cuối cùng của cuộc chiến.
Nhưng sau khi hòa bình được lập lại, chúng tôi phải đối mặt với câu hỏi
Tiếp theo nên làm gì?
Trước đây chúng tôi thường viết các bài báo phân tích phê bình chính sách của Washington,
chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Giờ đây tất cả đã trở thành dĩ vãng
và những lời chỉ trích ấy cũng không còn ý nghĩa gì nữa.
Một số đồng nhập chọn cách đi thăm lại những nơi từng là tâm điểm của cuộc chiến,
viết bài theo dạng trước đây và bây giờ để mô tả sự thay đổi sau chiến tranh.
Tôi cùng một vài người khác quyết định lái xe dọc theo quốc lộ 13 hướng về An Lộng,
một thị trấn nhỏ phía Bắc Sài Gòn, nơi từng bị bạo vây trong cuộc tấn công năm 1972.
Trên đường đi chúng tôi bắt gặp một cảnh tự kỳ lạ
khi những đôi ủng xếp ngay ngắn ven đường với số lượng dường như thuộc về cả một đại đội.
Các bộ đồng phục quân đội Nam Việt Nam thì nằm dài rác trong các con mương hai bên.
Những hình ảnh tương tự cũng xuất hiện ở nhiều nơi khác.
Có lẽ quân Cộng sản đã yêu cầu những người đầu hàng phải cởi bỏ toàn bộ tư trang và vật dụng của mình.
Trên đường rời An Lộng, chúng tôi đi ngang qua tòa Đại sứ quan Anh
và bất chật nhận thấy toàn lính canh gác ở đó đã hạ lá cờ xuống để dùng làm mái che nắng.
Bất ngờ và tức giận, tôi lao ra khỏi xe, tiến đến chỗ họ và yêu cầu treo lại lá cờ.
Có lẽ vì nghĩ rằng tôi là người Nga, Đông Đức hoặc ai đó có thẩm quyền, họ liền gấp lá cờ lại.
Sao mình lại hành động như vậy? Tôi tự chất vấn bản thân.
Rõ ràng những người lính kia không cấy xúc phạm, suy cho cùng đó cũng chỉ là một mảnh vải.
Rốt cuộc thì có lẽ chúng tôi vẫn còn mang nặng tư duy từ những cuộc chiến trước đây,
cầu chấp giữ lấy cái cảm giác về sự vượt trội của phương Tây.
Tất cả đều như vậy, dù hầu như chẳng ai thực sự ủng hộ cuộc chiến.
Trước khi Sài Gòn thất thủ, một phóng viên kiêm Sĩ quan Thủy quân Lục Chiến Mỹ tên là Philip Caputo
từng liên hệ điều đang diễn ra với những trang sử cũ khác
khi quân đoàn Lama buộc phải rút khỏi những vùng đất mà đế chế đã giành được.
Ông tự đặt ra câu hỏi rằng phải trang sự thống trị của phương Tây và nước Mỹ là biểu tượng cuối cùng
đang dần đi đến hồi kết giấu như thế.
Bên cạnh sự xúc đổ của chế độ Sài Gòn, chúng tôi cũng thử viết về những gì đang diễn ra tại nước Việt Nam mới.
Một số câu chuyện xảy ra ngay trước mắt chúng tôi, ngay tại khách sạn nơi chúng tôi lưu trú,
khi các nhân viên được triệu tập để tham gia nhiều lớp học cải tạo.
Những cựu sứ quan quân đội cũng phải tham gia vào quá trình này.
Chúng tôi tự đặt ra câu hỏi liệu họ có ý định thiết lập một thể chế riêng biệt ở miền Nam,
ít nhất là trong giai đoạn đầu hay không?
Vai trò của chính phủ cách mạng lâm thời sẽ ra xa.
Tuy nhiên, câu trả lời dân trở nên rõ ràng.
Một chính quyền miền Nam tách biệt sẽ không tồn tại lâu,
thậm chí là sẽ chẳng có cơ hội nào cho thứ như vậy xuất hiện.
Vấn đề này sau đó đã không được đào sâu hơn vì phong cách hoạt động kín đáo của chính quyền Cộng sản,
khiến chúng tôi chỉ nắm bắt được những thông tin khá mơ hồ.
Cảm nhận chung của giấy phóng viên lúc bấy giờ là bản thân,
hay đúng hơn là các quốc gia mà mỗi người đang đại diện,
không còn được đối xử với sự tôn trọng như trước đây.
Điều này càng được củng cố bởi thực tế rằng, dù các phóng viên không bị coi là tù binh,
họ cũng chẳng hề được tự do hoàn toàn.
Chúng tôi không thể tự quyết định việc ở lại hay rời khỏi miền Nam.
Quyền quyết định điều đó thuộc về chính quyền mới.
Mặc dù ngưỡng mộ tinh thần và sự kỳ luật của những người Cộng sản này,
nhưng thái độ cứng rắn của họ lại khiến tất cả không khỏi lo lắng.
Có cảm giác rằng, cơ hội hòa giải dân tộc dựa trên những thoại hiệp hạn chế đã được đề xuất là rất mong manh.
Không lâu sau, chúng tôi cùng khoảng 100 phóng viên khác được yêu cầu rời khỏi Việt Nam.
Đó là Việt Nam.
Còn tại Washington, Gloria Emerson,
một trong những phóng viên phản chiến người Mỹ nhiệt thành nhất,
đã ghi lại sự phấn khích đến mức lỗ bịch tại Nhà Trắng.
Những chàng vỗ tay, lời chúc tụng và điếu xì gà được châm lên để an minh chiến dịch Mile West.
Đây là chiến dịch giải cứu thủy thủ đoàn của tàu trang Mỹ Mile West
bị Khmer Đỏ bắt giữ ngoài khơi Campuchia vài ngày sau khi Sài Gòn thất thủ.
Người Mỹ đã triển khai lực lượng thủy quân lục chiến thực hiện nhiệm vụ này.
Chiến dịch sau đó đã được thổi phồng như một thắng lợi lớn
nhằm che mờ thất bại đau đớn ngày 30 tháng 4 tại Việt Nam.
Sự kiện Mile West là minh chứng rõ ràng rằng
dù nước Mỹ đã không có quyền can thiệp vào Việt Nam,
nhưng họ vẫn chưa thôi ám ảnh về nơi này.
Trong những thập kỳ tiếp theo,
Hoa Kỳ vẫn cố gắng tiếp tục chiến tranh theo cách riêng của mình
thông qua việc áp đặt cấm vận kinh tế và cô lập chính trị đối với Việt Nam.
Định điểm của hành động này là khi Mỹ ủng hộ tàn dư Khmer Đỏ
chống lại chính quyền Cộng hòa Nhân dân Campuchia do chính phủ Việt Nam góp phần xây dựng.
Hiện tại, mối quan hệ giữa hai quốc gia đã trở nên thân thiện hơn.
Tuy nhiên, dù Mỹ đã chấm dứt các biện pháp trừng phạt đối với Việt Nam,
bóng dáng của cuộc chiến vẫn còn hiển hữu qua những hình thức khác.
Những hành động sau này của Mỹ đều xuất phát từ nỗi lo sợ
và nhu cầu khẳng định sức mạnh quân sự.
Hoa Kỳ luôn lo ngại về khả năng một Việt Nam khác sẽ xuất hiện,
e rè trước viễn cảnh phải đối mặt với một thất bại tương tự.
Điều đó gần như buộc họ phải tìm một quốc gia khác
để lập lại những gì từng làm ở Việt Nam.
Nhưng lần này, mục tiêu là một chiến thắng rõ ràng và không thể bàn cãi.
Mỹ đã cố gắng thực hiện điều này nhiều lần,
mà gần đây nhất là tại Afghanistan và Iraq.
Có thể nói, Việt Nam như một bóng ma không ngừng ngắm ảnh nước Mỹ,
khiến cuộc chiến chưa bao giờ thực sự khép lại trong tâm trí họ.
Để kết lại câu chuyện về ngày 30 tháng 4 định mệnh ấy,
hãy để tôi kể cho các bạn nghe một kỷ niệm này.
Đó là một buổi đi dạo cùng đồng nghiệp Peter Kent
của The Wall Street Journal tại Vương Bách Thảo của Sài Gòn.
Không lâu trước khi thành phố thất thủ.
Khi đó, chúng tôi gặp một cậu bé trường 13 tuổi.
Từ trong túi, cậu lôi ra những mô hình trực thăng quân sự Mỹ
được khéo leo ghép từ vỏ bút bi, mảnh lon bia và những thứ bỏ đi.
Điều có làm chúng tôi ấn tượng hơn cả là cách cậu dùng từ tiếng Anh khá chuẩn
để giải thích cho chúng tôi về quá trình làm ra món đồ chơi ấy.
Chúng tôi mua 2 cái,
và khi thấy cậu bé chân trọng cất những tờ tiền vào túi,
mắt tôi bỗng cay cay.
Và chắc là Khan cũng có cảm xúc tương tự.
Không biết sau này cậu nhóc ấy sẽ còn phải bươn trải như thế không.
Nhưng rõ ràng là nước nước xinh đẹp này
vẫn sẽ phải đối mặt với muôn toàn khó khăn trong tương lai
dù cuộc chiến có qua đi.
Và nước Mỹ cũng vậy.
Có những mất mát và nỗi buồn đã thuộc về quá khứ.
Nhưng ngay giây phút ấy, tôi linh cảm rằng
mặc cho cuộc chiến ở đây có kết thúc,
thì ở đâu đó, một lúc nào đó,
những câu chuyện tương tự vẫn sẽ xảy ra mà thôi.