🇻🇳 Tây Sơn Sụp Đổ ⚔️ Khúc Bi Tráng Cuối Cùng Của Nữ Tướng Bùi Thị Xuân 🔥

Đình Sự
537 người theo dõi
#riviubinhduong #toiyeubinhduong #toiyeushenyun
Từng làm rúng động cả phương Bắc lẫn phương Nam, triều đại Tây Sơn đã khép lại trong bi kịch và máu lửa. Cuộc chiến cuối cùng tại Trấn Ninh – nơi Bùi Thị Xuân cưỡi voi đánh giặc, nơi vua Cảnh Thịnh tháo chạy – là chương kết đau lòng cho một giấc mộng đế nghiệp từng rực rỡ.
Nguyễn Hệ, Nguyễn Lữ, Nguyễn Nhạc
Giai đoạn từ năm 1786 đến 1787 được xem là thời kỳ rực rỡ nhất của phong trào Tây Sơn.
Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Hệ và Nguyễn Lữ đã cơ bản hoàn tất việc thống nhất đất nước.
Trong đó, Nguyễn Hệ nổi bật với tài chỉ huy quân sự hiếm có.
Tuy nhiên, chính vào lúc đỉnh cao, một quyết định sai lầm đã mở ra chuỗi biến động dẫn đến sự suy yếu của phong trào.
Người anh cả, Nguyễn Nhạc, đã chia đất nước làm ba phần, mỗi người cai quản một vùng.
Ông tự xưng Trung ương Hoàng đế, đóng đô tại Quy Nhơn, cai trị vùng trung trung bộ.
Nguyễn Hệ được phong là Bắc Bình Vương, trấn giữ từ đèo Hải Vân trở ra Bắc, đặt đại bản doanh tại Phú Xuân.
Nguyễn Lữ được phong làm Đông Định Vương, nắm giữ vùng Nam Bộ.
Đóng ở Gia Địch.
Tuy là anh em một nhà, nhưng mâu thuẫn âm ỉ giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Hệ ngày càng sâu sắc.
Đặc biệt, sau chiến công rực rỡ của Nguyễn Hệ ở Thăng Long.
Việc phân chia quyền lực theo kiểu cát cứ này không chỉ phá vỡ sự thống nhất vừa mới thiết lập, mà còn gieo mầm cho những xung đột nội bộ.
Từ đó tạo điều kiện cho các thế lực phong kiến đối lập trỗi dậy, đặc biệt là Nguyễn Ánh ở phương Nam.
Ở miền Bắc, họ Trịnh bắt đầu tìm cách khôi phục quyền lực.
Lợi dụng tình hình dối ghen, Nguyễn Hữu Trịnh, một người đầy tham vọng, nhanh chóng kiểm soát tình hình tại Bắc Hà.
Trong khi đó, ở phương Nam, vào tháng 7 năm 1787, Nguyễn Ánh trở lại gia đình.
Ông nhận ra nội bộ Tây Sơn đang chia rẽ nghiêm trọng. Đây là cơ hội để ông từng bước khôi phục thế lực.
Tại Nam Bộ, Đông định vương Nguyễn Lữ tỏ ra yếu thế.
Chưa đánh đã rút khỏi gia đình, lui về Biên Hòa, rồi giao toàn bộ việc phòng thủ cho tướng Phạm Văn Thàn.
Không lâu sau, ông tiếp tục rút về Quy Nhơn, rồi ngã bệnh và qua đời.
Sự ra đi của Nguyễn Lữ là cú sốc lớn với vua Thái Đức Nguyễn Nhạc.
Ông mất đi một người thân tín, cũng là chỗ dựa tinh thần quan trọng trong cuộc chiến đang ngày càng phức tạp.
Đến tháng 10 năm đó, Nguyễn Nhạc cử tướng Nguyễn Văn Hưng vào gia đình để ứng cứu.
Tuy nhiên, sau khi không thể đánh bại Nguyễn Ánh tại trận Mỹ-Lung, Nguyễn Văn Hưng bất ngờ rút quân về Quy Nhơn mà không có lệnh.
Điều đáng chú ý là Nguyễn Nhạc không hề trách phạt hành động này.
Việc để yên cho tướng lĩnh tự ý rút lui giữa lúc chiến sự đang căng thẳng, cho thấy ông đã không còn giữ được quyết tâm như trước.
Từ thời điểm đó, toàn bộ vùng Nam Bộ được giao lại cho Phạm Văn Thàm.
Tuy nhiên, Phạm Văn Tham ngày càng lâm vào thế cô lập.
Trong khi đó, lực lượng của Nguyễn Ánh không ngừng lớn mạnh, chuyển từ phòng ngự sang thế chủ động tấn công.
Đến tháng 8 năm 1788, thành gia đình thất thủ, Phạm Văn Tham buộc phải rút lui.
Dù vẫn cố cầm cự đến đầu năm sau, nhưng khi đường biển bị phong tỏa, ông không còn cách nào khác ngoài việc xin hạng.
Trong khi đó, tại miền Bắc, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đang dồn lực đối phó với hàng loạt biến động.
Không chỉ phải đề phòng Họ Trịnh hay Nguyễn Hữu Trịnh, mà sau này còn xuất hiện Vũ Văn Nhậm, và đặc biệt là Lê Chiêu Thống, người đã cầu viện nhà thành.
Tất cả đều là những mối nguy không thể xem nhẹ.
Vì vậy, vào thời điểm đó, Nguyễn Huệ không thể tập trung toàn lực cho chiến trường phía Nam.
Về phía vua Thái Đức, sau nhiều thất bại liên tiếp, ông rơi vào thế bị cô lập.
Quân đội suy yếu, tinh thần binh sĩ giảm sút, và nội bộ ngày càng thiếu sự đồng lòng.
Dù bên ngoài, ông và Nguyễn Huệ tỏ ra hòa giải, nhưng thực chất giữa hai người vẫn tồn tại sự nghi kỳ.
Việc Vũ Văn Nhậm, con rể của vua Thái Đức, tự ý hành động tại Bắc Hà, càng khiến Nguyễn Huệ thêm lo lắng về nguy cơ chia rẽ trong hàng ngũ Tây Sơn.
Dù biết Nam Bộ đang từng bước rơi vào tay Nguyễn Ánh, Nguyễn Nhạc vẫn do dự khi để Nguyễn Huệ đưa quân đi qua vùng mình kiểm soát.
Mâu thuẫn giữa hai anh em chưa được khóa giải hoàn toàn, khiến việc phối hợp trở nên khó khăn.
Sau cái chết của Vũ Văn Nhậm, cùng với tình hình ngày càng bất lợi ở phía Nam, vua Thái Đức bắt đầu nhận ra giới hạn của chính mình.
Tuổi cao, sức yếu, cộng với sự bất lực trong việc giữ vững cơ đồ Tây Sơn khiến ông thay đổi suy nghĩ.
Cuối năm 1788, ông chủ động từ bỏ đế hiệu. Không còn xưng là hoàng đế với niên hiệu Thái Đức, ông chỉ còn gọi mình là Tây Sơn Vương.
Nhiều lần, Nguyễn Nhạc viết thư cho Nguyễn Huệ xin được giữ lại vùng quy nhân, còn lại giao toàn bộ binh quyền và lãnh thổ cho em trai.
Trong thư, ông tha thiết mong Nguyễn Huệ sớm đưa quân vào cứu Nam Bộ.
Những lời lẽ này sau đó được nhắc lại rõ ràng trong chiếu lên ngôi của vua Quang Trùng.
Tuy nhiên, đúng lúc ấy, 20 vạn quân nhà Thanh do Lê Triệu Thống dẫn sang đã vượt qua biên giới phía Bắc.
Tình hình thay đổi đột ngột, buộc Nguyễn Huệ phải tạm gác kế hoạch tiến vào Nam để bảo vệ Bắc Hà trước.
Đầu năm 1789, Nguyễn Huệ mở chiến dịch ngọc hồi, đống đa, đánh bại quân Thanh trong một trận chiến mang tính quyết định.
Tuy giành thắng lợi lớn, ông vẫn chưa thể giành tẩy.
Bắc Hà vẫn bất ổn vì tàn dư nhà Lê và áp lực ngoại giao từ phía nhà Thanh.
Trong lúc đó, ở phương Nam, Nguyễn Ánh được người Pháp giúp sức.
Ông lần lượt chiếm lại Bình Thuận, Bình Khang và Diên Khánh.
Quân Tây Sơn dưới quyền Nguyễn Nhạc liên tục thất bại.
Đến năm 1791, ông chỉ còn kiểm soát Ba Vùng, Quy Nhơn, Phú Yên và Quảng Ngãi.
Sau khi đánh tan quân Thanh vào năm 1792, vua Quang Trung bắt đầu chuẩn bị cho một chiến dịch lớn nhằm xóa bỏ hoàn toàn thế lực của Nguyễn Ánh ở phương Nam.
Kế hoạch được vạch ra rất chi tiết, dự kiến sẽ huy động hơn 20 vạn quân thủy bộ, chia làm 3 mũi tấn công.
Mũi thứ nhất, vua Thái Đức cùng đội quân Tàu Âu đánh thẳng từ Phú Yên vào gia đình.
Mũi thứ hai, quân chủ lực của Quang Trung xuất phát từ Phú Xuân, đi qua Vạn Tượng, tiến vào Nam Vang, rồi phối hợp với quân Trân Lạp, đánh vào phía sau lưng Nguyễn Ánh.
Mũi thứ ba, thủy quân Tây Sơn tiến ra hướng Hà Tiên, chặn đường rút ra biển.
Ngay cả các giáo sĩ Pháp theo Nguyễn Ánh lúc đó cũng phải thừa nhận, nếu chiến dịch của Quang Trung diễn ra, gia đình khó mà giữ được, nhưng tất cả sụp đổ trong chớp mắt.
Tháng 7 năm Nhâm Tý, khi đang họp bàn, vua Quang Trung bất ngờ cảm thấy choáng váng, khoa mắt rồi ngá xuống mê man.
Người xưa gọi đó là trứng huyễn vận.
Ngày nay, ta biết đó là tai biến mạch máu não.
Khi tỉnh lại, biết bệnh tình nghiêm trọng, ông lập tức triệu trần Quang Diệu từ Nghệ An về.
Hai người bàn kế rời đô ra Vĩnh Đô, tức vùng Vinh ngày nay, để dễ bề kiểm soát cả hai miền.
Tuy nhiên, kế hoạch chưa kịp thực hiện thì bệnh trở nặng.
Trước giờ lâm trung, vua Quang Trung can dặn, ta mở mang bờ cõi đến hôm nay nhưng bệnh tình không qua khỏi.
Thái tử còn nhỏ, chưa có kinh nghiệm.
Ngoài kia, quân gia định chưa diệt.
Trong nước, vua Anh Nguyễn Nhạc thì chỉ muốn cầu an.
Nếu sau khi ta mất, không sớm rời đô ra Nghệ An để nắm tình hình, thì đến khi quân Nam kéo tới, e là chẳng còn chỗ trôn thân.
Đêm 29 tháng 7 năm nhâm tí, vào khoảng 11 giờ khuya, vua Quang Trung băng hạ.
Ông trị vì được 5 năm, hưởng thọ 40 tuổi.
Miếu hiệu là thái tổ Vũ Hoàng Đế.
Thi hại vua Quang Trung được bí mật an táng trong thành phố Xuân, tại phủ Dương Xuân.
Sau đó, Nguyễn Quang Toản lên ngôi kế vị và cho người báo tang sang nhà Thanh.
Vua Càn Long bày tỏ sự tiếc thương, truy phong ông là trung thuần, ban tặng một pho tượng cùng 300 lạng bạc để lo việc tăng lễ.
Tuy không đến Huế, nhưng sứ thần nhà Thanh đã đến mộ giả dựng tại Linh Đường, nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội, để làm lễ viếng.
Khi Quang Toản lên ngôi, ông còn quá trẻ.
Dù lấy niên hiệu là cảnh thịnh, nhưng thực quyền nằm trong tay phụ chính đại thần Bùi Đắc Tuyên.
Từ đây, triều đình bắt đầu dối loạn.
Trong cung ngoài trấn đầy giấy nghi kỵ, chia rẽ.
Quang Toản bất lực, nhiều khi chỉ biết khóc, không đủ khả năng kiểm soát tình hình.
Có người dèm pha rằng Trần Quang Diệu có ý đồ tiếm quyền.
Quang Toản tin lời, lập tức rút toàn bộ binh quyền của vị tướng kỳ cựu này.
Trần Quang Diệu bất mãn, bí mật gửi thư về quý nhân, bàn bạc với Lê Văn Trung âm mưu đưa Quang Thiệu, em trai của Quang Toản, lên thay.
Nhưng kế hoạch thất bại, Quang Thiệu bị sử tử, Lê Văn Trung bị chém đầu.
Con rẻ ông Lê Chất hoảng sợ, bỏ trốn rồi đầu hàng Nguyễn Ánh.
Cũng trong năm đó, Nguyễn Ánh kéo quân vây thành quý nhân.
Lúc này, Nguyễn Nhạc đã lâm bệnh, phải cử con trai là Nguyễn Bảo ra trấn giữ.
Nhưng lực lượng tại đây đã suy yếu.
Bất đắc dĩ, Nguyễn Nhạc phải gửi thư cầu cứu cháu mình, Vua Cảnh Thịnh.
Quang Toản lập tức điều ba tướng, Phạm Công Hưng, Nguyễn Văn Huấn và Ngô Văn Sở.
Dẫn theo 17.000 quân bộ, 80 voi trận và 30 chiến thuyền, chia đường tiến vào quý nhân.
Trước lực lượng hùng hậu này, quân Nguyễn Ánh buộc phải rút lui.
Tuy nhiên, khi quân tiếp viện vào thành, Thái Úy Phạm Công Hưng thay mặt triều đình kiểm kê kho tàng,
thu hết dân binh, giáp đinh và nắm toàn quyền kiểm soát quý nhân.
Nguyễn Nhạc, dù là vua anh, cũng không thể can thiệp.
Cay đắng và út ức, ông thổ huyết rồi mất ngay tại chính thành trì do mình gây dựng nên.
Sau đó, Quang Toản chỉ phong cho Nguyễn Bảo, con của Nguyễn Nhạc, làm hiếu công,
cho hưởng lộc ở một huyện nhỏ, tên là Phù Lì.
Mẹ của Nguyễn Bảo vẫn út nói,
Cha ngươi đã khai khẩn nên đất này, nay chỉ còn ăn lộc một huyện, sống nhục như vậy, thả không sống còn hơn.
Lời nói ấy khiến Nguyễn Bảo nảy sinh ý định đầu hàng Nguyễn Ánh,
nhưng kế hoạch bị phát hiện, người đưa tin bị bắt.
Quang Toản buộc Nguyễn Bảo phải uống thuốc độc.
Từ đây, những mâu thuẫn âm ỉ trong gia tộc Tây Sơn chính thức bùng nổ.
Trong khi bên ngoài, kẻ thù ngày càng lớn mạnh,
thì bên trong, anh em cùng dòng máu lại quay sang đối đầu.
Chính điều này đã góp phần đẩy nhà Tây Sơn vào con đường suy sụp.
Sau khi vua Quang Trung qua đời, cục diện chiến trường nhanh chóng nghiêng hẳn về phía Nguyễn Ánh.
Nhờ có sự hậu thuẫn từ người Pháp,
ông củng cố lực lượng, huấn luyện quân đội theo kiểu châu Âu
và từng bước mở rộng chiến dịch ra miền Trung.
Năm 1799, Nguyễn Ánh chiếm được thành Quy Nhơn,
một trong những cứ điểm chiến lược của Tây Sơn, rồi đổi tên thành Bình Định.
Việc này thể hiện rõ tham vọng Bình Thiên Hạ của ông.
Từ đó, thế trận hoàn toàn đảo triều.
Trong khi ấy, vua Cảnh Thịnh còn quá trẻ, lại thiếu bản lĩnh cầm quyền.
Triều Đình liên tục dối ghen.
Các phe phái nghi kị lẫn nhau, khiến sức mạnh đoàn kết ngày một tan rã.
Nội bộ Tây Sơn bắt đầu mục ruộng từ bên trong.
Tháng 6 năm 1801, Nguyễn Ánh mở chiến dịch lớn,
tiến đánh Phú Xuân, kinh đô của nhà Tây Sơn.
Giữa lúc tình hình nguy cấp, nữ tướng Bùi Thị Xuân vẫn kiên cường chiến đấu.
Bà Cưỡi Voi ra trận, trực tiếp đánh vào lũy Trấn Ninh.
Tự tay cầm dùi chống thúc quân sung trận.
Một người phụ nữ, nhưng khí phách khiến Trăm Đấng Nam Nhi cũng phải nghiêng mình.
Trong lúc đó, quân Nguyễn bắt đầu giao động.
Thế nhưng, bi kịch đã xảy ra.
Vua cảnh thịnh bất ngờ mất tinh thần.
Giữa lúc trận chiến đang quyết liệt, ông Quay Ngựa rút lui.
Nữ tướng Bùi Thị Xuân cố níu Cương Ngựa gọi lại,
nhưng nhà vua chỉ nói, chậm về lấy thêm quân rồi sẽ quay lại.
Ngay sau đó, thủy quân Tây Sơn ở Cửa Nhật Lệ tan vỡ.
Tướng Nguyễn Văn Kiên đầu hàng.
Toàn bộ tàu thuyền bị quân Nguyễn thu giữ.
Trận chiến đang rằng co, bỗng chuyển thành hỗn loạn.
Quân sĩ mất tinh thần, tháo lui trong dối loạn.
Đó là nỗ lực cuối cùng của những người trung thành với nhà Tây Sơn.
Nhưng thế nước đã suy, lòng quân đã nản.
Một trận chiến quả cảm cũng không thể xoay chuyển cục diện.
Vua cảnh thịnh chạy ra Bắc Hà.
Một năm sau, vào tháng 6 năm 1802, Nguyễn Ánh phát động tổng tấn công.
Đại quân tiến ra Bắc.
Nguyễn Quang Toản rút chạy đến Bắc Giang thì bị bắt.
Chiều đại Tây Sơn chính thức chấm dứt sau 25 năm tồn tại.
Ba đời vua, Thái Đức Nguyễn Nhạc, Quang Trung Nguyễn Huệ và Cảnh thịnh Nguyễn Quang Toản
từng một thời làm chủ non sông.
Nhưng lịch sử vốn nghiêm khắc, chia rẽ nội bộ, tất yếu dẫn đến sụp đổ.
Dân gian kể lại, trước nhà tổ của Nguyễn Nhạc có một khu rừng lớn, vĩa thế như rồng trồng.
Có thầy Phong Thủy khuyên nên giữ lại để bảo vệ Long Mạch.
Nhưng Nguyễn Nhạc lại cho chặt.
Từ đó, người ta tin rằng Long Mạch tổn hại dẫn đến vận suy của nhà Tây Sơn.
Nếu bạn thấy video này có giá trị, hãy nhấn like, chia sẻ và đăng ký kênh Sử Ký Việt để không bỏ lỡ những phần tiếp theo.
Hẹn gặp lại bạn trong video tiếp theo.
