Việt Nam Và Cuộc Diễu Binh Không Giống Ai: Dụng Ý Khiến Mỹ - Nga - Trung Suy Ngẫm | LSQS
Blog Hoa Mai
965 người theo dõi
#lịchsửquânsự #lichsuquansu #thoisu
Việt Nam Và Cuộc Diễu Binh Không Giống Ai: Dụng Ý Khiến Mỹ - Nga - Trung Suy Ngẫm | Lịch Sử Quân Sự
#tintuc , #vietnam
Kính thưa quý vị, năm 2025 không chỉ là năm của những đại lễ long trọng mà còn là năm lịch sử đồ dồn ánh mắt
về những quảng trường lớn trên khắp thế giới từ châu Âu đến châu Á.
Thế nhưng, giữa muôn vàn cuộc diễu binh rầm rộ ấy, có một nơi mà khiến cả thế giới phải đồ dồn ánh mắt nhìn
đó là cuộc diễu binh mừng đại lễ 30 tháng 4 của Việt Nam vừa qua.
Đó là một cuộc diễu binh không chỉ thành công mà còn chạm đến trái tim và lương tri của nhất loại.
Vậy điều gì mà khiến Việt Nam trở nên khác biệt?
Chúng ta hãy nhớ lại một khoảng khắc lịch sử đã làm dung chuyển thế giới đó là trận biệt Biên Phủ năm 1954,
nơi đó thực dân Pháp thất bại tạm hại và vị chỉ huy cao nhất của họ là tướng Ducachi bị bắt.
Sau khi được trả tự do về nước, ông đã phải điều trần trước Ủy ban điều tra của Bộ Quốc phòng Pháp về việc thất bại này.
Và vị tướng thua trận này đã có một câu nói bất hủ, phản ứng đúng bản chất cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam đó là
người ta có thể đánh bại một quân đội nhưng không thể đánh bại một dân tộc.
Chính tinh thần dân tộc bất duyệt ấy đã thấm sâu vào từng bước chân của đoàn quân Việt Nam ngày hôm nay.
Trong khi các cuộc diễu binh ở nhiều quốc gia, dập dình vũ khí, phô trường, những cỗ máy chiến tranh lạnh lẽo
thì Việt Nam lại chọn một con đường khác, không chỉ phô diễn sức mạnh bằng xe tăng,
tên lửa hay máy bay chiến đấu, mà còn bằng lịch sử, bằng ký ức, bằng linh hồn của một dân tộc đã từng đứng lên
từ cho tàn để làm nên chiến thắng. Không phải sát thép làm nên sự khác biệt, mà chính là ý chí thống nhất,
là lòng biết ơn, là tinh thần đoàn kết, là những biểu tượng khắc sâu từ ngàn năm giữ nước, dựng nước,
hiện diện trong từng nhịp bước đồng điệu, từng ánh mắt hướng về cùi nguồn.
Vậy đâu là yếu tố thực sự khiến cuộc diễu binh của Việt Nam trở thành một hiện tường,
một thông điệp vượt khỏi nghi thức quân sự thông thường?
Thì xin mời quý vị chúng ta cùng tìm hiểu qua video số này.
Vâng, điều làm nên sự khác biệt sâu sắc trong cuộc diễu binh của Việt Nam so với phần còn lại của thế giới
không nằm ở số lượng, vũ khí hay độ hiện đại của khí tải quân sự.
Điểm độc đáo ấy nằm ở một khối diễu hành không thể lẫn vào đâu được,
khối của lực lượng dân quân địa phương và các đoàn thể quân chúng.
Họ không phải là những binh sĩ chính quy, nhưng lại chính là phần máu thịt bền chặt giữa nhân dân và quân đội.
Và rồi khi các khối quân nhân hoàn tất bước đi uy nghiêm,
cả quảng trường như vỡ hỏa khi hàng chục ngàn người dân tiếp bước sau lưng.
Một khối diễu binh không chính thức nhưng đầy biểu tượng,
khối được dân mạng gọi vui là khối đại đoàn kết toàn dân.
Nhiều người từng nghĩ đó là một câu nói đùa mỗi khi sơ duyệt, tổng duyệt.
Như thế người dân chỉ đi ké sau lễ diễu binh,
nhưng thực thế không có gì là ngẫu nhiên trong một buổi lễ thiêng liêng mang tầm vóc quốc gia như thế.
Việt Nam rõ ràng không thiếu sức mạnh để phô trương.
Chúng ta nhớ rằng vào năm 1985, giữa vòng vơi của cả thù trong lẫn giặc ngoài,
chúng ta đã tổ chức một cuộc duyệt binh hoành tráng nhất trong lịch sử.
Hơn 30.000 người và hàng ngàn khí tài quân sự dầm dập tiến qua lễ đại.
Hôm nay, chúng ta thậm chí còn có tiềm lực hơn rất nhiều, điều kiện thuận lợi hơn.
Vậy vì sao chúng ta lại không làm lại điều đó?
Câu trả lời không nằm ở giới hạn vũ khí hay là sự rè rạt trước thế giới,
mà là vì Việt Nam muốn khẳng định một điều cao cả hơn rằng
sức mạnh thực sự không chỉ đến từ xe tăng, tên lửa mà đến từ nhân dân.
Bởi quân đội nhân dân Việt Nam từ ngày đầu thành lập đã là đội quân của nhân dân,
vì nhân dân mà chiến đấu và cho đến hôm nay vẫn bước đi trong vòng tay ấm áp của nhân dân.
Chính sự hòa quyền giữa quân đội và nhân dân ấy mới là thứ sức mạnh,
bất khả chiến bại, thứ làm nên bản sắc riêng của Việt Nam mà không có một quốc gia nào sao chép được.
Như điều mà bại tướng của Pháp, Ducati, đã nói ở đầu,
người ta có thể đánh bại một quân đội nhưng không thể đánh bại một dân tộc.
Và ở Việt Nam, bất kỳ một hành động nào, đặc biệt là quân sự,
cũng có thể tham gia nhiệt tình của mọi tầng lớp nhân dân,
tinh thần dân tộc len lỏi trong mọi ngõ ngách ở Việt Nam.
Xuyên suốt lịch sử, dựng nước và giữ nước dân tộc Việt Nam
chưa từng có yêu thế về vũ khí hay là quân số so với thế lực xâm lực khủng mạnh.
Từ nghìn năm chống giặc phương Bắc đến các cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc phương Tây hiện đại,
Việt Nam luôn ở vào thế yếu về vật chất nhưng lại sở hữu thứ vũ khí
mà không có kẻ thù nào có thể đo đếm hay phá vỡ,
đó là tinh thần dân tộc và ý chí đoàn kết triệu người như một.
Ngay cả thời nhà hồ, thời kỳ được coi là hùng mạnh nhất với quân đội đông đảo,
vũ khí tối tân, thì đất nước vẫn thất thủ nhanh chóng.
Trong khi đó, thời kháng chiến chống Pháp, quân đội Việt Minh lúc khởi đầu
chỉ có trong tay vũ khí thô sơ, thậm chí nhiều đơn vị chỉ có rau găm, má tấu.
Nhưng chính những con người ấy không quân phục, không học cần, đầy đủ lại làm nên điều kỳ diệu.
Giữ chân quân Pháp tại Hà Nội suốt 2 tháng trời
chỉ để dành thời gian cho toàn quốc bước vào cuộc kháng chiến lâu dài.
Không có bất kỳ một đồng viện trợ nào từ bên ngoài trong suốt giai đoạn 1946-1950,
Việt Minh vẫn buộc Pháp rơi vào thế xa lầy đến mức mà người Pháp phải cầu cứu Mỹ can thiệp.
Và dù sau này có thêm hỗ trợ từ Liên Xô và Trung Quốc,
thì tổng giá trị viện trợ năm 1951-1954 cũng chỉ vòn vẹn 21 triệu USD,
con số quá nhỏ bé nếu so gần với 4 tỷ USD Mỹ đổ vào cho Pháp trong cuộc chiến đó.
Vậy điều gì đã làm nên sự khác biệt đó?
Đó chính là lòng dân, là chiến tranh nhân dân,
thức vũ khí phi vật thể nhưng lại có sức công phá khủng khiếp nhất trong mọi cuộc xung đột.
Ngay cả những tướng lĩnh hàng đầu của Pháp cũng phải cuối đầu thừa nhận rằng
Quân đội của tướng Giáp được xây dựng theo một mô hình chóp nón mà đáy của nó bám rễ sâu trong nhân dân.
Rao Salan, chỉ huy quân đội Pháp tại Đông Dương cũng phải thừa nhận
quân đội Việt Minh là một lực lượng bộ binh xuất sắc.
Lính bộ chính quy Việt Minh theo quan niệm của tôi là địch thủ gây gớm nhất mà Pháp đã gặp phải từ sau trận Vê Đun.
Vâng, đó cũng chỉ là một lời khen,
đó là sự thừa nhận cay đắng rằng không một đế chế nào có thể đánh bại một dân tộc có cả triệu người đứng lên vì độc lập và tự do.
Và chính từ tinh thần ấy, ngày nay, mỗi cuộc diễu binh của Việt Nam không đơn thuần là nghi thức quân sự,
nó là bản giao hưởng sống động của truyền thống và hiện đại,
của những bước chân đi ra từ lòng dân tộc, mang theo cả khí phách của một thời xẻ dọc trường Sơn đi cứu nước.
Những đội hình tiến bước không chỉ đại diện cho các quân binh chủng mà còn có cả dân quân tử vệ,
các đoàn thể xã hội tượng trưng cho một điều duy nhất đó là mọi người dân Việt Nam trong thời khác cần thiết đều là chiến sĩ.
Trong khi thế giới coi diễu binh là dịp để khoe khoang sức mạnh thì Việt Nam biết nó thành một lời nhắc nhở đầy kêu hãnh.
Chúng ta không cần phải phô trương vũ khí để chứng minh sức mạnh, sức mạnh của chúng ta là lòng dân
và vì thế giữa hàng ngàn cuộc diễu binh lộng lẫy trên thế giới, Việt Nam vẫn giữ cho mình một bản sắc riêng biệt,
một khối đại đoàn kết toàn dân, một quân đội sinh ra từ nhân dân vì nhân dân mà chiến đấu và được nhân dân ôm vào lòng.
Điều sâu sắc hơn cả trong cuộc duyệt binh dập cờ hoa hay những biểu tượng hoành tráng giữa quảng trường đỏ,
điều mà Việt Nam đang hứng đến là một cuộc phục hưng văn hóa toàn diện,
một hành trình khơi dậy lòng yêu nước và ý chí dân tộc từ sâu thẳm trong mỗi người dân Việt.
Trong thời đại vận hội mới, yếu tố quyết định không nằm ở chính sách vĩ mô hay những khẩu hiệu ngắn hạn,
mà ở chỗ con người Việt Nam đủ khắc vọng và ý chí để tiến lên hay không.
Không có ý chí thì không có khởi đầu, và nếu không có khởi đầu thì chẳng có cuộc trấn hương nào có thể xảy ra.
Hơn một thế kỷ trước, năm 1911, một thanh niên tên Nguyễn Tất Thành bước chân xuống tàu đô đốc La Tauché rời bến Nhà Rồng.
Lúc đó, người không mang theo một cẩm năng cứu nước cũng không có sẵn một bản kế hoạch cách mạng.
Nhưng người có điều quan trọng nhất đó là một ý chí mạnh liệt đến mức dám bước vào trốn phô định để tìm ra con đường cho cả dân tộc.
Và từ chính sự dân thân đó, lịch sử dần mở lối, từ việc kết nối những hạt giống thanh niên yêu nước
đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, rồi đến ngày 2.9.1945,
cả thế giới phải lắng nghe tiếng nói của một dân tộc cuột khởi qua lời tuyên ngôn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Mọi thanh tiêu sau đó đều bắt nguồn từ lựa chọn đầu tiên, dám đi và dám làm.
Ngày hôm nay, Việt Nam lại đang đứng trước một ngã rẽ lịch sử khác,
không phải là chiến tranh hay là thuộc địa, mà là nguy cơ bị xóa nhòa trong một thế giới hỗn loạn,
nơi giá trị văn hóa có thể bị đánh đổi bởi sự dễ dãi và vô cảm.
Trong hoàn cảnh đó, những quyết định như xây dựng bảo tàng quân sự Việt Nam,
khởi chiếu các bộ phim, đào, phở và piano hay là địa đạo,
đây không chỉ là hoạt động nghệ thuật mà đó là sự lựa chọn chiến lược dùng văn hóa để củng cố quốc khí.
Khi người trẻ đứng trước hiện vật chiến tranh với ánh mắt biết ơn thay vì thờ ơ,
khi mà mạng xã hội tràn ngập những sắc cờ đỏ trong những ngày lễ lớn,
thay vì chỉ là mê mê và giải trí, đó là lúc niềm tự hào dân tộc đã được đánh thức.
Không một quốc gia nào có thể phát triển bền vững nếu con người của họ đánh mất căn tính,
bởi vì văn hóa còn thì dân tộc còn, mà văn hóa mất thì dân tộc lùi tàn.
Và trong hành trình giữ lấy văn hóa ấy, cũng cần cảnh giác với những kẻ cố tình bóp méo lịch sử,
lợi dụng thông điệp hòa hợp để đánh cháo khái niệm.
Gần đây thì có những dòng điệu cố ý cắt xén phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm,
nhằm xuyên tạc ý nghĩa của ngày 30 tháng 4.
Họ cho rằng lời kêu gọi hòa giải dân tộc là sự thừa nhận, chính thể Việt Nam Cộng Hòa.
Nhưng nếu đọc đầy đủ và hiểu đúng tinh thần lời phát biểu sẽ thấy rõ.
Tổng Bí thư nói về việc vượt qua hận thù để cùng hướng tới tương lai,
chứ không hề công nhận bất kỳ thế lực nào từng đối nghịch với chính nghĩa dân tộc.
Người nói về những cựu binh Mỹ Việt từng đối đầu nhưng nay có thể bắt tay,
thì chẳng có lý do gì những người Việt chung một dòng máu lại mãi nuôi hận thù.
Hòa hợp không có nghĩa là đánh đồng chính nghĩa và phi nghĩa.
Vậy mà chính những người lên giọng đòi hòa giải lại tổ chức cách gọi là lễ quốc hận,
vác theo lá cờ ba sọc biểu tượng của một chế độ lề thuộc để phản đối đoàn lãnh đạo Việt Nam tại Mỹ và Australia.
Họ không đứng được một mình, không dám ngần đầu chức lịch sử mà chỉ viên vào quá khứ để tự huyễn hoạc
về một thời đã qua và không bao giờ trở lại. Điều họ làm không phải là hòa giải mà là tiếp tục gieo rắc chia rẽ.
Trong khi đó tại Quy Hương, lớp lớp người trẻ đang dần nhận ra chúng ta là ai và vì sao mình phải tiếp tục.
Khi mà ý chí đã được khơi dậy, lòng yêu nước không còn là một khẩu hiệu mà trở thành hành động từ một ánh mắt biết ơn
đến một dòng trạng thái chân hay là thậm chí chỉ là một tấm vé bước vào bảo tàng.
Tất cả đều là những hạt mầm của một cuộc phục hưng bền vững, mạnh mẽ và đầy nỗ lực.
Giới trẻ hôm nay chính là lực lượng quyết định vận bệnh dân tộc trong thế kỷ 21 này,
không bằng những bài hô khẩu hiệu hay những màn biểu diễn đồng phục,
mà bằng chính sự tỉnh táo trước thông tin, bản lĩnh trước thử thách và tinh thần dẫn thân trong một thế giới đầy biến động.
Họ là thế hệ đầu tiên sinh ra trong hòa bình nhưng sẽ là thế hệ chịu trách nhiệm dẫn dắt nước nước vượt qua những cuộc chiến mới,
không phải bằng súng đạn mà bằng trí tuệ, văn hóa, công nghệ và niềm tin dân tộc.
Trong bối cảnh mà các cường quốc đang tái định hình trật tự thế giới bằng hàng rào cản thế quan,
liên minh công nghệ và các cuộc đối đầu địa chính trị, Việt Nam không chỉ là một bên quan sát trung lập,
Việt Nam phải là chủ thể có ý chí, có bản lĩnh chiến lược và có nỗ lực văn hóa đủ mạnh
để không bị cuốn vào những ván cờ người khắc bày.
Mà muốn thế thì thế hệ trẻ phải hiểu rõ mình đang đứng ở đâu, đến từ đâu và sẽ đi đâu.
Không ngẫu nhiên mà những dự án điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật gần đây về chiến tranh,
về chủ quyền, về bản sắc Việt được đầu tư và đón nhận như Anh trai vượt ngàn trông gai,
đào phở, piano, địa đạo, v.v.
Không chỉ phim, đó là những phương tiện, truyền cảm hứng,
là công cụ giáo dục thế hệ mới bằng cảm xúc thay vì lý trí khô cứng.
Bởi thế giới này sẽ không lắng nghe một dân tộc chỉ biết kể về những khó khăn,
họ chỉ tôn trọng những dân tộc biết biến mình thành sức mạnh,
biết biến ký ức thành nền tảng để sáng tạo và trỗi dậy.
Đó là lý do vì sao phục hương văn hóa không phải là sự hoài cổ, mà là bước đi mang tính chiến lược.
Đó là sức mạnh mềm để khẳng định chủ quyền quốc gia trong lòng thế giới,
là làm danh đỏ, bảo vệ, căn tính Việt trước các cơn sóng toàn cầu hóa vô định.
Nếu chúng ta không kể chuyện của mình, người khác sẽ kể thay,
và khi đó lịch sử có thể bị viết lại bởi những kẻ không hề yêu nước này.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, thách thức lớn nhất không phải là thiếu chi thức,
mà là thiếu niềm tin vào chính mình, vào dân tộc, vào khả năng vượt lên số phận lịch sử.
Mà điều đó có thể có nếu xã hội trao cho họ không chỉ cơ hội, mà cả lý tưởng để theo đuổi.
Một lý tưởng không viển phong, không giáo điều mà bắt dễ từ lòng yêu nước,
lòng yêu nước đã từng biến một dân tộc nhỏ bé thành người thắng cuộc trong thế kỷ báu lửa vừa qua.
Thế giới hôm nay không thiếu những quốc gia giàu có,
nhưng lại thiếu những dân tộc có bản sắc và Việt Nam nếu biết giữ gìn, căn tính,
khơi dậy và ý chí đầu tư đúng vào thế hệ trẻ sẽ không chỉ là một công sửa mới của thế giới.
Việt Nam sẽ là một quốc gia có bản lĩnh, có tiếng nói riêng
và có thể bước lên bàn cờ toàn cầu bằng giá trị của mình,
chứ không phải là dưới cái bóng của bất kỳ siêu cường nào.
Bởi suốt cuộc, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết,
trong đường kích mạng, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc,
không có con đường nào khác ngoài con đường kích mạng.
Còn hôm nay, muốn đưa Việt Nam vươn lên sánh vai với các cường quốc,
cũng không có con đường nào khác ngoài con đường phát triển nỗ lực,
mà cốt lõi là con người, là văn hóa, là niềm tin dân tộc được vun đắp từ thế hệ trẻ ngày hôm nay.
Còn quý vị nghĩ sao về vấn đề này, xin để lại dưới bình luận,
nhớ đăng ký kênh, ghé qua kênh mỗi ngày. Còn bây giờ, xin kính chào và hẹn gặp lại.
