Chiến thắng Kỷ Dậu 1789: khi Hoàng Đế QUANG TRUNG đập tan quân Mãn Thanh sang xâm lược Đại Việt Trận chiến Ngọc Hồi – Đống Đa khẳng định tài điều binh khiển tướng của vua Quang Trung. Với cách đánh vu hồi, thọc sâu bất ngờ, bao vây tiêu diệt từng cụm quân địch. Trận đại thắng này đã chứng tỏ nghệ thuật quân sự của người "anh hùng áo vải, cờ đào" Quang Trung - Nguyễn Huệ, đó là: Thần tốc - Táo bạo - Bất ngờ. Bằng thắng lợi vĩ đại xuân Kỷ Dậu 1789, dân tộc ta đã đập tan ý đồ xâm lược của quân Mãn Thanh, giải phóng hoàn toàn kinh thành Thăng Long, giữ vững nền độc lập dân tộc. Thắng lợi này đã đưa Hoàng đế Quang Trung trở thành anh hùng dân tộc, nhà quân sự kiệt xuất, hoàng đế bách chiến bách thắng của dân tộc Việt Nam.#toiyeubinhduong#riviubinhduong#toiyeushenyun -----------------------------------
Vào thế kỷ 18, tại Phương Bắc, đó là thời kỳ thịnh trị của Nhà Thanh.
Dưới sự trị vì của Càn Long đã đánh dấu giai đoạn phát triển đỉnh cao nhất của Nhà Thanh
và quản lý lãnh thổ cực lớn lên tới 13 triệu km2.
Cũng giống như những thời kỳ lịch sử trước đó, người Phương Bắc đã luôn có giã tâm xâm lược nước ta.
Nhà Thanh cũng không ngoại lệ và muốn biến nước ta trở thành một quận của bọn chúng ở phía Nam.
Năm 1788, Lê Triều Thống chạy sang Đại Thanh để xin cầu viện.
Lê Triều Thống từ một vị hoàng đế nhà Lê đã biến mình trở thành kẻ cõng rắn cắn gà nhà.
Càn Long nhận thấy cơ hội đã tới nên ra lệnh điều động binh mã 4 khu vực là Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây, Quảng Đông
chuẩn bị phương án tiến quân sang Đại Việt.
Trong khi đó, ở khu vực phía Nam, sau khi Nguyễn Ánh tấn công Gia Định,
Nguyễn Lữ sợ hãi bỏ chạy về Quy Nhơn và mất năm 1787.
Tướng Phạm Văn Tham cố thủ Gia Định để chống lại Nguyễn Ánh.
Năm 1788, Phạm Văn Tham dần yếu thế và bị Nguyễn Ánh bao vây.
Ông đã xin quân Quy Nhơn đến ứng cứu, nhưng Nguyễn Nhạc lại không động binh nên Gia Định đã dần mất kiểm soát.
Tháng 8 năm 1788, Nguyễn Ánh chiếm được thành Gia Định.
Phạm Văn Tham rút chạy về vùng Ba Thắc để cố thủ.
Nguyễn Ánh bao vây chặn đường biển của Phạm Văn Tham và chuẩn bị tấn công về Quy Nhơn.
Tình hình nguy cấp, Nguyễn Nhạc đã cầu cứu Nguyễn Huệ và tự hạ mình là Tây Dân Vương,
nhận lại toàn bộ các vùng đất cho 10 em mình.
Bóc Bình Vương Nguyễn Huệ đang chuẩn bị lực lượng để vào Nam tiến đánh Nguyễn Ánh
Nên Bóc Bình Vương đã chuyển hướng ra Bắc để chống giặc ngoại dâm.
Ngày sau khi mọi việc chuẩn bị đã hoàn tất,
Nhà Thanh đã huy động 29 vạn quân để tấn công vào Đại Việt.
Càn Long xuống chiếu, phòng cho Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị
làm trinh man đại tướng quân nắm quyền tổng chỉ huy toàn bộ quân Thanh sang xâm lược Đại Việt.
Đi theo phỏ tá gồm Đệ Đốc Âu Đại Kinh, Đệ Đốc Hứa Thế Hanh,
Tổng binh Thượng Duy Thăng, Tổng binh Trương Triều Long, Tổng binh Lý Hóa Long.
Các đạo binh cùng kết hợp với quân tình nguyện Điển Châu do xâm nghi đống chỉ huy
và các đạo quân ủng hộ Lê Chiêu Thống.
Quần Thành chia làm 3 đạo để tiến quân.
Đạo thứ nhất do Đệ Đốc Âu Đại Kinh hợp quân các vùng Vân Nam và Quý Châu tiến đánh ải Bạch Mã.
Sau đó theo đường Tuyên Quang đánh tràn xuống vùng Sơn Tây rồi tiến vào Thang Long.
Đạo thứ hai do xâm nghi đống chỉ huy quân tình nguyện Điển Châu tiến theo đường Lam Châu
rồi đánh ngược lên vùng Cao Bằng, kết hợp cùng quân ủng hộ của Lê Chiêu Thống rồi tiến về Thang Long.
Đạo thứ ba do Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị chỉ huy cùng kết hợp với quân tại vùng Lưỡng Hoàng
bao gồm quân của Đệ Đốc Hứa Thế Hanh, Tổng binh Thượng Duy Thăng được điều động từ Quảng Tây.
Quân của Tổng binh Trương Triều Long, Tổng binh Lý Hóa Long được điều động từ Quảng Đông.
Đạo thứ ba này là chủ lực tấn công thẳng vào vùng Lạng Sơn, sau đó tràn xuống đánh chiếm Thang Long.
Ngày 28 tháng 10 năm 1788, ba đạo quân thành đồng loạt xuất quân.
Bọn chúng lấy cớ sang giúp Lê Chiêu Thống nên dùng khẩu hiệu Phù Lê Diệt Tây Sơn.
Trong khi đó, tại thành Thang Long, các tướng lĩnh Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Đại tư mã Ngô Văn Sở
đã tổ chức một cuộc họp quân sự cao cấp.
Sau đó đưa ra các quyết định rất quan trọng để đối phó với quân thành.
Thứ nhất, viết thư xin hoãn binh để gửi cho Tôn Sĩ Nghị.
Thứ hai, cựu tướng Phan Văn Lân mang một đạo quân chặn đánh quân thành.
Thứ ba là rút lui khỏi Thang Long theo đề xuất của Ngô Thị Nhậm.
Thứ tư là cho người về Phú Xuân báo tin khẩn cấp cho Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ.
Tướng Phan Văn Lân mang quân chặn đánh quân thanh tại Bến Đỏ Sơn Giang để quân Tây Sơn có thời gian lùi binh.
Bộ binh Tây Sơn rút khỏi Thang Long, về đóng ở núi Tam Điệp.
Thủy quân lùi theo sông Hồng ra biển, rút về vùng biện Sơn, tạo thành thế trận phòng thủ từ Tam Điệp đến biện Sơn.
Đồ Đốc Tuyết được cử về Nam để cấp báo tình hình.
Sau khi rút lui thành công, tướng Phan Văn Lân cũng lùi binh về Tam Điệp cố thủ.
Ngày 20 tháng 11 năm 1788, tôn sĩ Nghị đã tiến vào thành Thang Long mà không vấp phải sự kháng cự nào đáng kể.
Ngay sau đó, các cánh quân khác cũng tiến đến Thang Long rất dễ dàng.
Khi biết tin tôn sĩ Nghị mang quân sang đánh nhà Tây Sơn,
thì Nguyễn Ánh cũng sai người trổ 50 vạn cần gạo ra Bắc để trợ giúp quân thanh.
Tuy nhiên, đi đường biển gặp bão lớn nên đoàn thuyền lương này đã bị đắm hết.
Tại thành Phú Xuân thì ngày 24 tháng 11 năm 1788,
Đồ Đốc Tuyết từ Tam Điệp vội vã về cấp báo tình hình quân thanh đã chiếm được Thang Long.
Một số người khi nghe tin cấp báo đã kinh hoàng và tỏ ra sợ hãi.
Tuy nhiên, Bác Bình Phương vẫn thản nhiên nói với quân sĩ rằng
Chó ngô thì là cái thá gì?
Chúng đến đây chỉ để tự đi vào chỗ chết.
Việc gì mà phải cuốn quyết làm vậy?
Ngay lập tức, ông tạm gác lại việc phương Nam của Nguyễn Ánh
và chuyển hướng về vùng Bắc Hà, nơi quân mãn thanh đang chiếm đóng tại Thang Long.
Để đối mặt với số lượng 29 vạn quân thanh sang cướp nước ta
dưới ngọn gờ giả hiệu Phù Lê diệt Tây Sơn và bọn chúng đã chiếm được Thang Long,
Nguyễn Huệ cũng đã tập hợp và tuyển bộ mới với tổng số 10 vạn quân.
Để có ngọn gờ chính nghĩa huy động các lực lượng,
ông đã quyết định lên ngôi hoàng đế.
Cùng với cuộc hành quân thân tốc,
ông đã đại phá quân thanh bằng trận chiến ngọc hồi đống đa vang danh lịch sử.
Ngày 25 tháng 11 năm Mộ Thân, tức ngày 22 tháng 12 năm 1788,
tại Núi Bân, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã lập đàn Nam Giao làm lễ Tế Trời Đất,
tuyên bố lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu Quang Trung,
nghĩa là ánh sáng ở trung tâm, đời sau gọi là Hoàng đế Quang Trung.
Chiếu lên ngôi có đoạn viết
Chẳng hai lần gây dựng họ Lê,
thế mà tự quân họ Lê không biết giữ xã tắc, bò nước đi bôn vong.
Sĩ dân Bắc Hà không hướng về họ Lê,
chỉ trông mong vào trẫm.
Trong lịch sử, các vị hoàng đế khi lên ngôi là bắt đầu một vương chiều mới,
bắt đầu cuộc sống nhung lụa của Bậc Đế Vương.
Nhưng còn vua Quang Trung thì khác hoàn toàn.
Ông lên ngôi phải gánh vác trên vai một sứ mệnh lịch sử cao cả.
Họa sầm lăng mãn thanh đang ở thăng long, vận mệnh quốc gia dân tộc đang bị đe dọa.
Nhưng ông đã không lùi bước mà dũng cảm đứng lên lãnh đạo nhân dân,
quét sạch quân sầm lăng ra khỏi bờ cõi.
Đó là một quyết định lịch sử cực kỳ sắc bén, kiên quyết,
cùng với lòng quyết tâm cao độ để bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của đất nước.
Sau khi lên ngôi hoàng đế, ông đã đọc lời hịch đánh thanh,
hay còn gọi là lời hiếu dụ tướng sĩ với nội dung như sau.
Hỡi ba quân tướng sĩ, hỡi tất cả nghĩa quân,
đánh cho để dai tóc, đánh cho để đen răng.
Đánh cho nó trích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn,
đánh cho sự chi Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ.
Lời hịch vừa dứt thì hàng vạn người hô vang như sấm, rung động cả một vùng trời.
Ngay sau đó, đoàn quân Tây Sơn bắt đầu xuất quân,
tạo thành một cuộc hành quân thân tốc có 1-0-2 trong lịch sử,
khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ.
Quân Tây Sơn theo đường bộ để tiến ra Bắc.
Ngày 29 tháng 11, vua Quang Trung đã tới vùng Nghệ An.
Tại đây, ông đã cho quân nghỉ ngơi và tiếp tục tuyển quân.
Cũng tại đây, vua Quang Trung đã mời được La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp
sau 3 lần mời trước chưa thành công.
Sau khi gặp Nguyễn Thiếp, nhà vua đã bản việc tiến đánh quân Thành.
Nguyễn Thiếp cho rằng quân Thành vừa tới, đường ra mệt mỏi,
nếu đánh ngay thì chúng sẽ tan vỡ chỉ trong 10 ngày.
Ý kiến này đúng ý định của vua Quang Trung
và càng củng cố thêm quyết tâm cho trận đánh tốc chiến của mình.
Ngày 20 tháng 12, đoàn quân Tây Sơn đã tiến tới phòng tuyến Tam Điệp
và hội quân cùng tướng Ngô Văn Sở.
Sau khi hội quân, vua Quang Trung đồng ý phương án rút lui
bảo toàn lực lượng của Ngô Văn Sở và Ngô Thỷ Nhậm.
Về phía quân Thành, sau khi Tôn Sĩ Nghị cùng các đạo quân khác tiến vào Thang Long,
khi bọn chúng bắt đầu xây dựng hệ thống đồn lũy để phòng thủ.
Ô Đại Kinh đóng tại Sơn Tây để chấn giữ vùng phía Tây Thang Long.
Sầm Nghi Đống hợp quân đóng giữ đồn Khương Thượng.
Hứa Thế Hanh, Thượng Duy Thăng, Lý Hóa Long đóng giữ đồn Ngọc Hồi.
Chương Triều Long đóng giữ đồn Hà Hồi.
Bọn chúng tiếp tục xây dựng các đồn hỗ trợ nhau như đồn Nhật Tảo, đồn Nguyệt Quyết.
Ngoài ra, quân nhà Lê bị đẩy ra vòng ngoài
đóng giữ đồn Gián Khẩu và vùng Hải Dương
để làm tiền đồn chặn quân Tây Sơn.
Vào những ngày giáp Tết kỳ dầu,
sau khi nắm bắt được vị trí đồn lũy của quân Thành,
vua Quang Trung đã cho quân sĩ ăn Tết trước.
Ông hẹn với ba quân tướng sĩ sẽ ăn Tết ở Thang Long vào ngày mùng bầy tháng riêng.
Ngày 30 tháng 12 năm 1788,
từ phòng tuyến Tam Điệp, vua Quang Trung hạ lệnh tổng tiến công.
Quân Tây Sơn chia làm 5 đạo,
gồm 3 đạo lục quân và 2 đạo thủy quân để tiến đánh quân Thành.
Đạo lục quân thứ nhất là chủ lực,
gồm bộ binh, kỵ binh và tượng binh.
Dưới sự chỉ huy trực tiếp của vua Quang Trung,
cùng với đại tư mã Ngô Văn Sở,
nội hầu Phan Văn Lân và thiếu phó Trần Quang Diệu
làm tiên phong tấn công thẳng vào các đồn lũy quân Thành mặt Nam Thang Long.
Đạo lục quân thứ hai do đồ đốc Đặng Xuân Bảo chỉ huy,
gồm bộ binh, kỵ binh và tượng binh
theo đường Ứng Hòa vào Làng Đại Áng,
kết hợp cùng đạo quân chủ lực của vua Quang Trung
để tiến đánh đồn Ngọc Hồi của hứa Thế Hành.
Đạo lục quân thứ ba là chủ lực Cánh Tây
do đại đồ đốc Long cùng đồ đốc Đặng Tiến Đông
và đồ đốc Lý Văn Bâu chỉ huy,
gồm bộ binh, kỵ binh và tượng binh hướng thẳng lên Sơn Tây,
sau đó chuyển hướng đánh vua Hồi vào đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống.
Toàn bộ thủy binh Tây Sơn
dưới sự chỉ huy trực tiếp của đại đồ đốc Nguyễn Văn Lộc
sẽ chia thành hai đạo để tiến công.
Đại đồ đốc Lộc tiến theo sông Lục Đầu
đánh chiếm các khu vực Lạng Giang
để chặn đường lùi quân của quân Thành.
Đồ đốc Nguyễn Văn Tuyết tiến vào sông Lục Đầu
đánh quân Nhà Lê ở vùng Hải Dương,
sau đó chặn đánh các đường rút lùi của quân Thành bên kia sông Hồng.
Một kế hoạch tấn công như vỗ bão,
đánh động lực, huy động mọi binh chủng, thủy, bộ phối hợp,
đánh không lùi bước, dồn địch vào thế bị bao vây,
không có cách gì chống đỡ nổi.
Đêm 30 Tết, 5 đạo quân Tây Sơn đồng loạt tổng tiến công
và hành quân cực kỳ thần tốc.
Cánh quân chủ lực của vua Quang Trung
tấn công thẳng vào tiền đồn quân Cần Vương của Nhà Lê
tại đồn Gián Khẩu.
Quân Lê tàn vỡ ngay lập tức.
Quân Tây Sơn thần tốc tiến lên, bắt gọn đám quân Thành do thám
và tiêu thiệt các đồn Bắc Sông Nguyệt Quyết và đồn Nhật Tảo.
Do đạo quân Tây Sơn hành quân rất nhanh
và diệt gọn các đám quân do thám,
nên quân Nhà Thanh từ đồn Hà Hồi tới Thăng Long
không biết gì về nhất cử nhất động của quân Tây Sơn.
Ngày 3 tháng 1 năm 1789,
vua Quang Trung cho quân tiến đánh đồn Hà Hồi.
Trường Triệu Long sợ hãi bỏ chạy về đồn Ngọc Hồi.
Quân Tây Sơn vây chặt đồn Hà Hồi
rồi bắt loa kêu gọi quân Thanh đầu hàng.
Bọn chúng sợ hãi ra đầu hàng toàn bộ.
Hứa Thế Hành thấy đồn Hà Hồi thất thủ,
vội vã cho người về Thăng Long báo tin khẩn cấp cho Tổn Sĩ Nghị.
Tổn Sĩ Nghị lệnh điều quân tăng viện cho đồn Ngọc Hồi.
Hắn tiếp tục xài 20 kỵ binh
liên tục chạy báo tin từ Ngọc Hồi tới Thăng Long.
Ngày 4 tháng 1 năm 1789,
quân chủ lực của vua Quang Trung đã tiến tới đồn Ngọc Hồi.
Tuy nhiên, ông hạ lệnh cho tướng sĩ không tấn công,
chỉ hư trường thành thế để quy hiếp tinh thần quân Thành,
nhằm mục đích tạo ra yếu tố bất ngờ cho các cánh quân khác.
Trong khi vua Quang Trung diễu võ ngoài đồn Ngọc Hồi,
thì cánh quân chủ lực phía Tây của Đại Đồ Đốc Long
đang trên đường Bắc Tiến hướng đến Sơn Tây,
đã bất ngờ chuyển hướng tập kích thẳng vào đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đóng.
Đêm ngày 4 tháng 1 năm 1789,
các đội vòi của Tây Sơn được lắp đại bác trên lưng,
bắt đầu tấn công, nã đạn vào đồn Khương Thượng.
Quân Thành bị đánh bất ngờ trong đêm tối,
chết rất nhiều, tan vỡ, bỏ chạy.
Sầm Nghi Đóng thấy không thể giữ được đồn,
bèn bỏ chạy qua đồn Nam Đồng.
Đại Đồ Đốc Long tiếp tục cho quân truy kích,
tiến tới bao vây đồn Nam Đồng.
Sầm Nghi Đóng, cố thủ trên đài chỉ huy ở Loa Sơn,
bắn đại bác về hướng Thăng Long
để mong chờ quân cứu viện của Tôn Sĩ Nghị.
Tuy nhiên, hắn đã mong chờ trong vô vọng.
Giạng sáng ngày 5 tháng 1 năm 1789,
Đại Đồ Đốc Long ra lệnh bắn phá đồn Nam Đồng.
Sầm Nghi Đóng không thể chống trả được,
nên hắn đã tự sát trên đài chỉ huy Loa Sơn.
Toàn bộ cánh quân Điền Châu của Sầm Nghi Đóng bị tiêu diệt.
Quân Thành chết quá nhiều.
Sau chất thành 12 gỏ cao,
có cây đa mọc ôm tùm, nên được gọi là gò đống đa.
Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long nhận được tin báo
cánh quân Sầm Nghi Đóng đã thất bại.
Đồn Ngọc Hồi thì đang bị bao vây chặt.
Quân Tây Sơn như trên trời rơi xuống,
như dưới đất trui lên, xuất quỷ nhập thần.
Hắn đã hoảng loạn vô cùng.
Một thảm cảnh hoảng loạn bỏ chay ở Thăng Long đã diễn ra.
Tôn Sĩ Nghị vội vàng cưỡi ngựa, bỏ thành,
chạy sang bờ bắc sông Hồng.
Lê Triều Thống nghe tin cũng vội vã bỏ chạy theo.
Đám quân của Tôn Sĩ Nghị chạy được sang bờ bắc sông Hồng,
lo sợ bị trùy kích nên đã cho phá cầu vào.
Đám quân mắc lại bờ Nam đã bị quân Tây Sơn trùy kích, tiêu diệt
và bắt làm tù binh nhiều không kể xiết.
Lê Triều Thống không qua được sông nên men theo dọc bờ,
may mắn cướp được thuyền cá trốn sang bờ bên kia.
Đại Đô Đốc Long cùng các tướng đã tiến vào thành Thăng Long.
Trong khi Đại Đô Đốc Long bắn phá khu vực Đống Đa và tiến về Thăng Long,
thì Vua Quang Trung cùng cánh quân phía Tây của Đô Đốc Bảo hợp quân tấn công đồn Ngọc Hồi.
Đây là đồn lũy mạnh nhất của quân Thanh,
có số lượng quân rất lớn cùng với hỏa lực cực mạnh.
Cuộc tấn công vào Ngọc Hồi của quân đội Tây Sơn
được mở đầu bằng cuộc xuất trận của hơn 100 voi chiến được gắn Đại Bác trên lưng.
Hứa Thế Hành hạ lệnh cho đơn vị kỵ binh mạnh nhất của quân Thanh
ra ngânh chiến.
Nhưng, vừa thoáng thấy voi chiến,
sau đó bị áp chế về hỏa lực,
ngựa của bọn chúng đã hốt hoảng hí lên rồi chạy lồng trở lại vào đồn.
Từ trên thành cao, hứa Thế Hành đổi chiến thuật,
giả lệnh nã Đại Bác vào quân Tây Sơn.
Hỏa lực quá mạnh, quân Tây Sơn tạm lui quân.
Vua Quang Trung đổi chiến thuật tấn công.
Ông giả lệnh cho các binh sĩ tạo ra các tấm khiên đột cuốn bởi dâm bùn bẹn chặt.
Tập hợp đội quân Cảm Tử để mở đường tấn công vào đồn Ngọc Hồi.
Đợt tấn công lần thứ 2 bắt đầu với phía trước là các tấm khiên
để ngăn chặn Đại Bác của quân Thanh.
Phía sau là các chiến binh Cảm Tử Tây Sơn
dắt đoàn đao bên hầm tấn công ao ạt vào đồn Ngọc Hồi.
Khi áp sát chân thành,
thì hỏa lực của quân Thanh mất hoàn toàn tác dụng.
Quân Tây Sơn ao ạt tiến công vào đồn Ngọc Hồi.
Tiếng voi chiến ngựa hí Đại Bác, súng
và các cuộc chiến tay đôi của chiến binh dần im lặng.
Đồn Ngọc Hồi thất thủ, quân Thanh tan vỡ bỏ chạy.
Quân Thanh bỏ chạy từ Ngọc Hồi theo hướng bờ đê Yên Duyên để về Thăng Long.
Tuy nhiên, bọn chúng không ngờ rằng
vua Quang Trung đã bố trí sẵn một đạo tượng binh ở đây đón đánh.
Tiếp tục thảm bại, quân Thanh sợ hãi bỏ chạy theo đường Vịnh Kiều để về Thăng Long.
Tưởng rằng đã thoát thân, nhưng khi đến đoạn đầm mực,
bọn chúng tiếp tục bị phục binh của Đô Đốc Bảo bố trí trở sẵn, diệt gọn đám tàn quân.
Như vậy, toàn bộ quân Thanh tại đồn Ngọc Hồi bị tiêu diệt hoàn toàn.
Hứa Thế Hanh, Trường Triều Long, Thượng Duy Thăng, Lý Hóa Long đều tử trận.
Ô Đại Kinh đang đóng tại Sơn Tây khi nghe được tin quân Thanh tan vỡ.
Hắn hoàng sợ vô cùng, vội vàng giúp Minh khẩn cấp để trốn chạy về nước.
Tôn Sĩ Nghị vượt qua được Sông Hồng, chạy về vùng Hải Dương.
Đã bị Đô Đốc Thuyết trạn đánh dữ rồi, hắn sợ hãi chuyển hướng, bỏ chạy lên vùng Lạng Giang.
Nhưng đến đoạn Phượng Nhãn lại bị quân Đại Đô Đốc Lập trở sẵn.
Hắn đã hoàng sợ vô cùng, các tướng lĩnh quân Thanh liêu chết đoàn hậu để cứu Tôn Sĩ Nghị.
Sau khi vượt qua được biên giới thì cánh quân của Tôn Sĩ Nghị chỉ còn khoảng 50 người.
Lê Triều Thống cũng tìm đường chạy sang Nhà Thanh, sau đó sống lưu vong.
Như vậy, toàn bộ 29 vạn quân Thanh đã bị vua Quang Trung đánh tan chỉ trong vòng 5 ngày tiến công.
Chiều mùng năm Tết Kỳ Dậu, vua Quang Trung và Đô Đốc Bảo tiến vào Thăng Long trong sự trao đón của nhân dân.
Đại Đô Đốc Long cùng các tướng ra cửa thành đón giấc nhà vua vào thành.
Lúc này, áo bào của vua Quang Trung đã xạm màu khói súng.
Trận chiến ngọc hồi đống đa, khẳng định tài điều binh khiển tướng của vua Quang Trung.
Với cách đánh vua hồi, thọc sâu bất ngờ, bảo vệ tiêu diệt từng cụm địch.
Trận đại thắng này đã chứng tỏ nghệ thuật quân sự của người anh hùng áo vài cờ đào Quang Trung Nguyễn Huệ.
Đó là thân tốc, táo bạo, bất ngờ.
Uy phòng như rồng, mạnh mẽ như hồ, dứt khoát như đại bàng.
Đó là phong cách cầm quân của ông.
Đánh tổng lực, huy động mọi binh chủng thủy bộ phối hợp.
Đánh không lui bước, tấn công như vũ bão, khiến cho kẻ địch không biết đường nào mà phòng bị.
Hồ đã giờ nành vuốt, thì kẻ thù chỉ có nước là vong thân bỏ mạng.
Bằng thắng lợi vĩ đại Xuân Kỳ Dậu năm 1789,
dân tộc ta đã đập tan ý đồ xâm lược của quân Mãn Thành,
giải phóng hoàn toàn kinh thành Thăng Long, giữ vững nền độc lập dân tộc.
Thắng lợi này đã đưa Hoàng đế Quang Trung trở thành anh hùng dân tộc,
nhà quân sự kiệt xuất, hoàng đế bắt chiến bắt thắng của dân tộc Việt Nam.