#qsnews#kienthucquansu#vukhi Căng Thẳng Biển Đông: Vì Sao Tàu Chiến Của Cường Quốc Quân Sự Thế Giới Liên Tục Đến VN ?
---------------------------------------------------------------- 💒 "QSNEWS - KHÍ TÀI QUÂN SỰ’ là Kênh cung cấp cho các bạn những kiến thức, hiểu biết chung về các loại vũ khí, khí tài, cũng như tình hình quân sự và chính trị trên toàn thế giới. 👉🏼 Đăng ký kênh miễn phí tại: / @khitaiquansu ✅ Tiktok: / qsnews.khitaiquansu ✅ Facebook: / khitaiquansu9675 ❤️ Nếu thấy video hay và bổ ích, hãy mua cho mình một ly cafe nhé: 0071000863984 - Ngân hàng Vietcombank - Dang Thanh Phuong. ---------------------------------------------------------------- ▶ Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ email: [email protected]
Một số tư liệu được sử dụng trong video thuộc về các chủ sở hữu đáng kính. Mọi vấn đề liên quan đến bản quyền, vui lòng liên hệ: [email protected] Some of the materials used in the video belongs to the rightful owners. All Copyrights related issues should be sent to [email protected]. Thank you !
Chào mừng quý vị và các bạn đã trở lại với kênh QS News Khí tài Quân sự!
Vì sao tàu chiến Mỹ đến quân cảng Cam Ranh của Việt Nam, mục đích thật sự là gì?
Vừa qua, sự hiện diện của tàu hải quân USS Bluerick, xoáy hạm của Hạp đội 7 Hoa Kỳ
và tàu tuần tra Western tại cảng quốc tế Cam Ranh đã một lần nữa khẳng định vị thế chiến lược đặc biệt của khu vực này.
Chuyến thăm từ ngày 8 đến 12 tháng 7 của Hải quân Mỹ,
theo sau thông tin về cuộc gặp gỡ giữa đại diện hai nước và lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa,
đã dấy lên nhiều suy đoán về ý đồ của các bên liên quan.
Đặc biệt, sự kiện này diễn ra không lâu sau khi tàu chiến Nha ghé thăm Cuba và Venezuela,
cho thấy cuộc chơi địa chính trị đang ngày càng nóng lên.
Vậy cảng Cam Ranh của Việt Nam có gì đặc biệt
và đâu là lý do khiến quân cảng này trở thành điểm đến hấp dẫn với các cường quốc?
Mời các bạn cùng đi tìm câu trả lời ngay trong video ngày hôm nay của kênh QS News Khí tài Quân sự!
Trước khi vào nội dung chính, mong các bạn dành vài giây đăng ký kênh và nhấn chuông để nhận thông báo nhé!
Cam Ranh, được ví như con mắt của biển Đông,
sở hữu vị trí độc tôn trên chục đường hàng hải huyết mạch nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương
cách eo biển Malacca, điểm ngẽn chiến lược quan trọng của toàn khu vực chỉ 950 hải lý.
Với điều kiện thiên nhiên ưu ái,
Vịnh Cam Ranh trở thành điểm dừng chân lý tưởng cho cả hoạt động thương mại và quân sự.
Vịnh biển sâu kín gió bậc nhất thế giới không chỉ cung cấp một biến đỗ an toàn cho mọi loại tàu thuyền,
từ tàu ngầm đến tàu sân bay,
mà còn tạo thành lá chắn tự nhiên bảo vệ khỏi các cuộc tấn công từ biển,
đồng thời là nơi lý tưởng để tiếp tế và sửa chữa cho các hạm đội hùng mạnh.
Lịch sử đã chứng minh sức khuất khó cững của Cam Ranh
từ thời kỳ thực dân Pháp và Nhật Bản chiếm đóng trong Thế chiến Thứ Hai
cho đến khi trở thành căn cứ quân sự quan trọng của Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam.
Vịnh Cam Ranh như một viên ngọc quý, luôn kích thích tham vọng của các cường quốc.
Sau khi đất nước thống nhất, Việt Nam đã khẳng định chủ quyền đối với Cam Ranh.
Việc cho Liên Xô thuê căn cứ này trong vòng 25 năm,
từ năm 1979 đến 2002 chỉ là giải pháp tình thế
nhằm phục vụ lợi ích quốc gia trong bối cảnh đó.
Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt và tầm nhìn chiến lược,
ngay từ năm 2010, Việt Nam đã nhận thấy rõ toàn tính bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông
và chủ động đề ra kế hoạch đâng cấp, hiện đại hóa Cam Ranh.
Mục tiêu là biến vịnh biển này thành cảng quốc tế phục vụ phát triển kinh tế,
đồng thời là quân bài chiến lược quan trọng trong ngoại giao quốc phòng.
Thực tế đã chứng minh bước đi đúng đắn của Việt Nam.
Việc mở cửa Cam Ranh cho các đối tác quốc tế cung cấp dịch vụ sửa chữa và tiếp nhiên liệu
không chỉ khẳng định chủ trương đối ngoại mở rộng,
đa dạng hóa quan hệ quốc tế mà còn tăng cường tiềm lực quốc phòng,
Việc tàu chiến Mỹ cập cảng Cam Ranh sau động thái tương tự của Nga
cho thấy Việt Nam đang kheo léo ứng xử với các cường quốc
bằng cách vừa hợp tác vừa giữ vững lập trường và độc lập tự chủ.
Bài học lịch sử đã chỉ ra rằng đối với Việt Nam,
không quốc gia nào có thể được coi là bạn bè hay kẻ thù tuyệt đối,
chỉ có lợi ích quốc gia và độc lập dân tộc mới luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động của chính phủ.
Sự thông minh, bản lĩnh và tầm nhìn sa trông rộng của Việt Nam
chắc chắn sẽ giúp đất nước vượt qua mọi thử thách,
vững bước trên con đường hội nhập và phát triển.
Với vị trí đặc biệt của càng Cam Ranh,
chỉ cách các điểm nóng như quần đảo Hoàng Sa 323 hải lý,
Trường Sa 431 hải lý và đảo Hải Nam 462 hải lý,
nơi đây đã trở thành quân bài chiến lược vô cùng lợi hại.
Chính sách mở cửa có chọn lọc cho các đối tác quốc tế
đã khéo léo biến Cam Ranh thành mảnh đất trung lập trong ván cờ địa chính trị.
Thứ nhất, vị trí của Cam Ranh như một cửa ngõ kết đối biển Đông với eo biển Malacca,
ít hầu của giao thương hàng hải châu Á,
đã biến nơi đây thành một đút thất quan trọng
có khả năng tạo áp lực lớn lên bất kỳ toan tính nào về kiểm soát tuyến đường huyết mạch này.
Điều này gửi một thông điệp ngầm rõ ràng từ Việt Nam rằng
sự kiên nhẫn của nước này có giới hạn và mọi hành động xâm phạm chủ quyền đều sẽ phải trả giá.
Thứ hai, việc trao đón tàu chiến từ nhiều quốc gia,
ngoại trừ Trung Quốc, tại Cam Ranh đã thể hiện rõ lập trường của Việt Nam
trong việc ủng hộ nguyên tắc tự do hàng hải theo Công hức Liên Hợp Quốc về luật biển.
Mặc dù Việt Nam theo đuổi chính sách đối ngoại không liên minh quân sự,
không liên kết với nước ngoài để chống lại nước khác,
và không cho phép nước ngoài đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam,
nhưng nước này vẫn linh hoạt trong việc ứng xử và sử dụng chiến lược cân bằng mềm để tối ưu hóa lợi ích quốc gia.
Cuối cùng, chính sách mở cửa Cam Ranh cho thấy tầm nhìn đa phương của Việt Nam
trong việc hòa nhập và mạng lưới hợp tác an ninh khu vực do Mỹ dẫn dắt
mà không từ bỏ quan hệ hữu hảo truyền thống với các đối tác như Nga và Pháp.
Sự ưu ái dành cho tàu hải quân Ấn Độ sử dụng cảng Nha Trang,
một cảng quân sự không xa Cam Ranh,
phản ánh chiều sâu chiến lược trong mối quan hệ đối tác toàn diện Việt-Ấn.
Việc tàu chiến Mỹ ghé thăm Cam Ranh trong bối cảnh căng thẳng giữa Mỹ,
Trung Quốc, Nga và phương Tây leo thang
Sự khôn khéo và linh hoạt của Việt Nam trong ván cờ Cam Ranh
đã tạo ra một sự cân bằng mong manh,
giúp duy trì hòa bình và ổn định cho khu vực.
Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc tại Ấn Độ Dương,
Thái Bình Dương ngày càng gai gắt,
vai trò của eo biển Malacca,
tuyến đường hàng hải chiếm đến 80% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc
lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Với vị trí chìa khóa của mình,
Cam Ranh chắc chắn sẽ tiếp tục thu hút sự chú ý từ nhiều phía,
khiến ván cờ địa chính trị tại đây ngày càng trở nên hấp dẫn và khó lường.
Eo biển Malacca,
tuyến đường hàng hải sầm ốt bậc nhất thế giới
nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương
không chỉ là mạch máu giao thương,
mà còn là điểm nóng địa chính trị,
thu hút sự quan tâm của nhiều cường quốc.
Trung Quốc, với sự phụ thuộc vào hơn 80% lượng dầu nhập khẩu qua tuyến đường này
xem eo biển Malacca như một vấn đề sống còn.
Eo biển này trở thành quân bài chiến lược
Nga cũng coi eo biển Malacca là tuyến đường hàng hải
quan trọng kết nối với các thị trường tiềm năng ở châu Á.
Dù không có yêu sách chủ quyền tại Biển Đông,
Nga vẫn muốn duy trì sự ổn định tại đây vì lợi ích của chính mình.
Tuy nhiên, mối quan tâm đối với eo biển Malacca
không chỉ giới hạn ở Trung Quốc và Nga,
mà còn thu hút sự chú ý của Hoa Kỳ,
Nhật Bản, Ấn Độ và các nước ASEAN.
Việc duy trì tự do hàng hải tại đây,
như được đều rõ trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển,
là điều kiện tiên quyết để đảm bảo hòa bình và ổn định cho toàn khu vực.
Chính vì vị trí đặc biệt quan trọng như vậy,
Cam Ranh đã trở thành miếng bánh ngon mà nhiều cường quốc thèm muốn.
Việc các cường quốc như Mỹ và Nga liên tiếp đều tàu chiến đến Cam Ranh
trong thời gian qua là minh chứng rõ ràng cho hành động Seoul Force
nhằm kiểm soát chiếc chìa khóa eo biển Malacca
và khẳng định sự hiện diện của mình trong khu vực.
Đối với Hoa Kỳ,
các chuyến thăm của tàu chiến tới Cam Ranh vào năm 2016 và 2017
không chỉ đánh dấu sự trở lại mang tính biểu tượng
tại nơi từng là căn cứ quân sự quan trọng trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam
mà còn thể hiện sự chuyển hướng chiến lược của Mỹ sang khu vực châu Á Thái Bình Dương.
Chuyến thăm của tàu sân bay USS Ronald Reagan vào tháng 9 năm 2023
sau khi Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vũ khí sát thương
cho thấy rõ ràng mục tiêu của Washington
là tăng cường ảnh hưởng tại Biển Đông và đối phó với tham vọng của Trung Quốc.
Trong bối cảnh đó,
Việt Nam phải thực hiện một cuộc đi trên dây ngoại giao tinh tế
vừa duy trì mối quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc
vừa khéo léo phát triển quan hệ với các cường quốc khác
để tránh phụ thuộc vào bất kỳ ai.
Ván cờ Biển Đông và cả ván cờ Cam Ranh hiện đang diễn biến phức tạp và khó lường
đòi hỏi sự tính toán cẩn trọng và sáng suất từ tất cả các bên liên quan.
Bên cạnh hai đối tác lớn là Hoa Kỳ và Trung Quốc,
Nga, cường quốc từng có quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam
cũng không giấu giếm tham vọng tái khẳng định vị thế
Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Putin vào tháng 11 năm 2022
cùng với việc ký kết 11 thỏa thuận hợp tác song phương
trong đó có thỏa thuận cấp phép cho một doanh nghiệp dầu khí Nga khai thác hidrocarbon
ở Thề lục địa Việt Nam
cho thấy Nga đang nỗ lực hâm nóng mối quan hệ truyền thống với Việt Nam.
Tuy nhiên, động thái này đã vấp phải sự phản đối gây gắt từ Trung Quốc
lo ngại rằng việc Việt Nam tăng cường hợp tác với Moscow
có thể làm thay đổi cán cân lực lượng trên Biển Đông
Về phía Hoa Kỳ, chuyến thăm của Tổng thống Biden vào tháng 9 năm 2023
và việc tăng cường hiện diện quân sự tại Cam Ranh
đặc biệt là chuyến thăm của tàu sân bay USS Ronald Reagan một năm trước đó
đã phát đi tín hiệu rõ ràng về cam kết bảo vệ lợi ích và đồng minh của Mỹ tại khu vực.
Cả Mỹ và Nga đều muốn biến Cam Ranh thành bàn đạp
để thực hiện tham vọng địa chính trị riêng của mình.
Xong, Việt Nam vẫn kiên định với lập trường không chọn bên
và không cho phép bất kỳ quốc gia nào đặt căn cứ quân sự tại lãnh thổ của mình.
Diễn biến căng thẳng trên Biển Đông cho thấy việc Trung Quốc gia tăng hiện diện quân sự
củng cố các đảo nhân tạo và tiến hành tập trận với tần suất dài đặc là một lời đe dọa ngầm
buộc Việt Nam phải tính toán kỹ lưỡng hơn cho ván cờ chiến lược của mình.
Mặc dù thực hiện chiến lược ngoại giao mềm và tăng cường hợp tác kinh tế để kéo Việt Nam về phía mình
Trung Quốc vẫn rất dè chừng trước những cử chỉ thân tình mà Việt Nam dành cho các đối tác khác.
Liệu Bắc Kinh sẽ làm gì để giữ chân người bạn láng giềng?
Câu trả lời vẫn còn bỏ ngò.
Đối mặt với việc các cường quốc gia tăng hiện diện quanh khu vực cam danh,
Trung Quốc đang phải vận dụng nhiều chiến lược để bảo vệ lợi ích của mình.
Thứ nhất, Trung Quốc có thể sử dụng sức mạnh tài chính như một công cụ để tăng cường ảnh hưởng lên Việt Nam.
Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, viện trợ kinh tế và khoản vay ưu đãi là những phương tiện
để Bắc Kinh thắt chặt bối liên kết kinh tế và biến Việt Nam trở nên lệ thuộc vào mình.
Trong trường hợp căng thẳng leo thang,
các biện pháp cấm vận và tăng thuế hoàn toàn có thể được Trung Quốc sử dụng
để gây áp lực lên các cường quốc hiện diện tại cam danh.
Thứ hai, để phá vay, Trung Quốc có thể sẽ cố gắng kéo thêm đồng minh
và tăng cường hợp tác quân sự với Nga, Pakistan hoặc một số nước ASEAN.
Bên cạnh đó, Trung Quốc có thể triển khai chiến dịch tuyên truyền nhằm bóp béo thông tin,
tẩy trắng hành vi của mình và phì bán các quốc gia khác.
Song song với các chiêu bài ngoại giao và kinh tế,
Trung Quốc vẫn không ngừng tăng cường sức mạnh quân sự trên Biển Đông
bằng cách liên tục triển khai thêm nhiều tàu chiến, tàu ngâm tấn công, tàu ngâm hạt nhân
cũng như đầu tư vào vũ khí hiện đại như tiêm kích tàng hình J-20, J-16,
tên lửa đông phong 21D và hệ thống phòng thủ tên lửa HQ-9.
Việc Trung Quốc mở rộng và củng cố các đảo nhân tạo thành pháo đài trên Biển Đông
không chỉ đe dọa trực tiếp an ninh hàng hải quan trọng
mà còn là mối lo ngại lớn đối với toàn khu vực và cộng đồng quốc tế.
Tham vọng bá chủ Biển Đông của Trung Quốc đang vấp phải những thách thức to lớn
khi ván cờ địa chính trị ngày càng trở nên khốc liệt với sự tham gia của nhiều tay chơi lớn.
Trung Quốc không chỉ đối mặt với Mỹ và Ấn Độ,
những quốc gia coi Bắc Kinh như một mối đe dọa chiến lược
mà còn phải cân nhắc đến lợi ích của Nga, cường quốc cũng có lợi ích riêng tại khu vực.
Việc gây thù trúc oán với hàng loạt đồng minh của Mỹ trong khu vực như Nhật Bản,
Philippines, Hàn Quốc, Úc cùng với mâu thuẫn lãnh thổ với nhiều quốc gia ASEAN
đã khiến Trung Quốc rơi vào thế cô lập.
Thực tế cho thấy, dù Trung Quốc đang nỗ lực thu hẹp khoảng cách quân sự với các cường quốc,
tiềm lực quân sự của Bắc Kinh vẫn kém xa so với Liên minh Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và Nga.
Điều này giải thích tại sao trong nhiều năm qua,
Mỹ vẫn khá ung dung trước chiến lược vùng sám của Bắc Kinh tại Biển Đông.
Tuy nhiên, sự im lặng của các nước trong khu vực trước những hành động ngang ngược của Trung Quốc
chỉ khiến miếng Bánh Biển Đông dần bị gặp nhấm.
Việc các quốc gia nhỏ bị đe dọa không dám lên tiếng phản đối chỉ làm cho tham vọng của Bắc Kinh ngày càng lớn hơn.
Đã đến lúc các quốc gia trong khu vực cần thức tỉnh lên tiếng trên các diễn đàn quốc tế,
kêu gọi sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế
và trước hết là sự đoàn kết trong nội bộ ASEAN để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình.
Bởi lẽ, sự thịnh vượng và an ninh của khu vực phụ thuộc vào sự hợp tác của tất cả các bên
và không một quốc gia nào, dù lớn mạnh đến đâu,
có thể tự ý viết lại luật chơi hay áp đặt luật dừng trong một thế giới đa cực ngày nay.
Kính thưa quý vị, suốt nhiều thập kỷ qua,
thế giới đã biết đến Việt Nam như một quốc gia kiên cường,
giàu truyền thống đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc.
Thế nhưng ít ai ngờ rằng, sau những năm tháng chiến tranh gian khổ,
đất nước nhỏ bé ấy đã âm thầm vươn lên trở thành một trong những cường quốc quốc phòng đáng ngờm tại Đông Nam Á.
Không hồ nào, không phô trường, Việt Nam chọn con đường tự chủ, từng bước phát triển vững chắc.
Và chính những bước đi đầy bản lĩnh đó đã khiến giới quan sát quốc tế không khỏi kinh ngạc và nề phục.
Trong khi nhiều quốc gia trong khu vực vẫn phù thuộc vào vũ khí nhập khẩu,
Việt Nam đã làm được điều mà không phải ai cũng dám nghĩ tới,
sở hữu và từng bước làm chủ công nghệ tên lửa đạn đảo,
một loại vũ khí chiến lược vốn chỉ dành cho các cường quốc quân sự.
Đây không chỉ là một thành tựu về mặt kỹ thuật quân sự,
mà còn là biểu tượng của tinh thần tự lực, tự cường, khẳng định vị thế và lòng tự tôn dân tộc của Việt Nam.
Vậy, điều gì đã giúp Việt Nam vươn tới đẳng cấp đáng để như vậy trong lĩnh vực tên lửa chiến thuật và chiến lược?
Việt Nam hiện là quốc gia duy nhất tại Đông Nam Á sở hữu và vận hành hệ thống tên lửa đạn đạo chiến thuật.
Trong đó, nổi bật là Scud-B, một loại vũ khí từng được coi là biểu tượng dân e trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
Hệ thống này lần đầu tiên được công khai trước công chúng trong lễ duyệt binh tháng 12 năm 2019,
khiến giới quan sát quân sự khu vực không khỏi chậm trổ và thán phủng.
Không giống như nhiều quốc gia vẫn còn phụ thuộc năng nề và vũ khí nhập khẩu,
Việt Nam đã và đang từng bước khẳng định vị thế bằng chính năng lực nội tại.
Qua nhiều năm âm thầm nghiên cứu và chuẩn bị, chúng ta đã làm chủ công nghệ,
hiện đại hóa và vận hành hiệu quả các hệ thống vũ khí chiến lược tiên tiến.
Việc sở hữu những tổ hợp tên lửa đạn đạo như Scud-B không chỉ là một thành tựu quân sự,
mà còn là lời tuyên ngôn đầy khí phách.
Việt Nam tự lực, sáng tạo và sẵn sàng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đến cùng.
Giữa kho vũ khí chiến lược của quân đội nhân dân Việt Nam,
nổi bật lên hai cái tên khiến bạn bè quốc tế phải nề trọng,
đó là Scud-B và Hoa song 6.
Đây không chỉ là những hệ thống tên lửa mang sức mạnh hủy diệt khủng khiếp,
mà còn là lá chắn ra nè sắc bén trước bất kỳ mối đe dọa nào,
dù đến từ biển, trên không hay từ đất liền.
Thật tự hào khi những mũi tên thép này không chỉ là biểu tượng của năng lực quốc phòng hiện đại,
mà còn là minh chứng cho tinh thần tự cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam.
Scud-B hay còn gọi là R-17 Elbrus theo định danh của Liên Xô
là một trong những loại tên lửa đạn đạo chiến thuật được đánh giá cao về độ chính xác và sức công phá.
Với tầm bắn khoảng 300km, sử dụng nhân liệu lỏng và mang theo đầu đạn lên tới 985kg,
Scud-B có thể dễ dàng san phẳng các mục tiêu quân sự quan trọng như sân bay, kho tàng, căn cứ hậu cần.
Khi lao vào mục tiêu, vận tốc của nó có thể đạt tới mắc năm,
tương đương 6.120km trên giờ, một con số khiến bất kỳ hệ thống phòng thủ nào cũng phải dè chừng.
Một điểm mạnh không thể bỏ qua của Scud-B chính là hệ thống xe phóng cơ động.
Đặt trên khung gầm xe Mars 543, dòng xe có khả năng vượt địa hình cực tốt,
vận tốc tối đa 60km trên giờ, có thể di chuyển linh hoạt qua rừng núi, đồng bằng hay ven biển.
Hệ thống này giúp tăng cường khả năng sống suất chiến thuật,
cho phép ẩn dấu, cơ động và phóng tên lửa từ các vị trí bất ngờ,
một lợi thế vô cùng quan trọng trong chiến tranh hiện đại.
Nếu Scud-B là nền tảng vững chắc,
thì Hoa Song 6, hay còn gọi là Hòa Tinh 6 theo cách Việt hóa,
chính là bước nhảy vọt đầy táo bão.
Được Triều Tiên phát triển trên cơ sở Scud-C,
Hoa Song 6 có tẩm bắn lên tới 600km, gấp đôi so với Scud-B,
mang đầu đạn khoảng 600kg và đặc biệt có khả năng lắp đầu đạn hạt nhân.
Đây thực sự là con át chủ bài trong thế trận giăn đe từ xa.
Theo các chuyên gia quốc tế,
sức công phá tiềm năng của Hoa Song 6
có thể tương đương nhiều lần của bom nguyên tử Phát Ban,
thứ từng gieo rắc kinh hoàng tại Nagasaki.
Chỉ nghe thôi đã đủ lạnh sống lưng.
Với tầm bắn này,
nếu được triển khai từ miền Bắc Việt Nam,
Hoa Song 6 có thể dễ dàng bao phủ phần lớn khu vực Biển Đông,
quần đảo Hoàng Sa và thậm chí cả một phần phía Nam Trung Quốc.
Điều này không chỉ giúp Việt Nam chủ động phòng thủ từ xa,
mà còn gửi đi một thông niệm mạnh mẽ
Việt Nam không bao giờ bị động trước bất kỳ nguy cơ xâm phạm lãnh thổ nào.
Đây chính là nền tảng cốt lõi trong học thuyết quốc phòng hiện đại của chúng ta.
Trên bản đồ thế giới,
Việt Nam có thể chỉ là một chấm nhỏ,
nhưng đó là một chấm đỏ giựt lửa ý chí,
không thể bị xem nhẹ và càng không thể bị khuất phục.
Trong bối cảnh thế giới ngày càng phức tạp,
việc một quốc gia từng trải qua chiến tranh tàn khốc như Việt Nam
có thể vươn lên làm chủ công nghệ tên lửa đạn đạo.
Lĩnh vực quân sự công nghệ cao
chính là minh chứng rõ ràng cho ý chí tự cường
và sự bền bỉ vượt bậc.
Hành trình của Việt Nam trong lĩnh vực này
bắt đầu từ cuối những năm 1970.
Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm,
SIPRI,
năm 1979,
Liên Xô đã viện trợ cho Việt Nam 12 xe phóng
cùng một số lượng tên lửa Scud-B,
loại tên lửa đạn đạo chiến thuật có tầm bắn khoảng 300 km.
Đến năm 1981,
Việt Nam tiếp nhận thêm 4 xe phóng
và 25 quả tên lửa đủ để thành lập
một lứa đoàn tên lửa hoàn chỉnh
đánh dấu bước tiếp cận công nghệ vũ khí hiện đại.
Tuy nhiên, Việt Nam không dừng lại
ở việc tiếp nhận viện trợ.
Năm 1998,
trong bối cảnh địa chính trị quốc tế có nhiều biến động,
Việt Nam tiếp tục mở rộng năng lực tên lửa
bằng cách mua thêm tên lửa Hoa Song 6
từ Cộng hòa Dân Chủ Nhân dân Triều Tiên,
một phiên bản cải tiến của Scud-B
với tầm bắn lên đến 600 km.
Những động thái này thể hiện tầm nhìn chiến lược
và khả năng linh hoạt trong chính sách quốc phòng.
Những năm gần đây,
Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu đáng tự hào
trong việc tự chủ công nghệ tên lửa.
Một ví dụ tiêu biểu là tên lửa hành trình VCM-01
được công bố năm 2019.
Đây là sản phẩm do nhà máy Z-189
thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng
phối hợp với Viện hàng Không Vũ trụ Việt Nam
nghiên cứu và chế tạo,
có tầm bắn 260 km
và tốc độ cất âm,
minh chứng cho khả năng sáng tạo và độc lập
trong lĩnh vực công nghệ cao.
Không dừng lại ở đó,
từ năm 2014 đến 2016,
Việt Nam đã thử nghiệm thành công TV-01,
một loại tên lửa sử dụng nhiên liệu rắn,
do chính các kỹ sư trong nước phát triển
với chi phí nghiên cứu chỉ khoảng 20 tỷ đồng.
Đây không chỉ là thành tựu về mặt kỹ thuật
mà còn thể hiện tinh thần tiết kiệm,
hiệu quả và khéo léo trong sử dụng nguồn lực quốc gia.
Các đơn vị công nghiệp quốc phòng như
Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội Việt Theo,
nhà máy Z-129,
Z-111,
Z-189
cùng nhiều viện nghiên cứu kỹ thuật quân sự khác
đang ngày càng khẳng định vai trò nòng cốt
trong tiến trình hiện đại hóa quốc phòng.
Thật tự hào biết đào khi từ một quốc gia
nhập khẩu vũ khí, Việt Nam đã từng bước xây dựng
được năng lực thiết kế, chế tạo
và cải tiến vũ khí công nghệ cao.
Đây không chỉ là thành quả về mặt kỹ thuật
mà còn là biểu tượng cho ý chí vươn lên
và khát vọng khẳng định vị thế
trong một thế giới đầy cạnh tranh.
Trong bối cảnh khu vực
và thế giới ngày càng phức tạp,
đặc biệt là những căng thẳng leo thang trên Biển Đông,
Việt Nam không ngừng củng cố sức mạnh quốc phòng
theo hướng hiện đại, linh hoạt và tự chủ.
Một trong những điểm nhấn quan trọng
trong tư duy quân sự của Việt Nam chính là
chiến lược phòng thủ chủ động, chống tiếp cận,
chống xâm nhập. Đây không chỉ là
một khái niệm lý thuyết mà đã được hiện thực
hóa qua việc phát triển và sở hữu các hệ thống
vũ khí chiến lược, đặc biệt là tên lửa đạn đạo
Thay vì chờ đợi bị đe dọa,
Việt Nam chủ động xây dựng khả năng phòng thủ từ sớm
nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ
và lợi ích quốc gia trước bọi nguy cơ.
Việc công khai một số hệ thống tên lửa
hiện đại trong các sự kiện quân sự
không nhằm mục đích phô trương hay chạy đùa vũ trang
mà là lời khẳng định rõ ràng về năng lực tự vệ
gửi đi thông điệp rằng Việt Nam
luôn mong muốn hòa bình, nhưng sẽ không khoan nhận
trước bất kỳ hành vi xâm phạm nào.
Sức mạnh quân sự của Việt Nam
được xây dựng trên nền tảng bình tĩnh, kiên định
không chủ quan nhưng luôn sẵn sàng ứng phó
với mọi tình huống.
Một điểm đáng chú ý trong chiến lược quốc phòng của Việt Nam
là tầm nhìn phát triển công nghệ tên lửa Made in Vietnam.
Sau nhiều năm tiếp nhận
và cải tiến các hệ thống vũ khí từ nước ngoài
Việt Nam đã từng bước làm chủ công nghệ
từ tên lửa hành trình VCM-01
cho đến tên lửa đạn đạo TV-01
sử dụng nhiên liệu rắn.
Các đơn vị trong nước như Viettel, Z-189
Viện hàng không vũ trụ Việt Nam
đã góp phần tạo ra những sản phẩm mang tính đột phá
mở đường cho việc phát triển
các dòng tên lửa tầm xa hơn
với tham vọng đạt đến tầm bắn 1.000 km hoặc xa hơn.
Trong khi nhiều quốc gia trong khu vực
vẫn phù thuộc vào nhập khẩu vũ khí
Việt Nam đang khẳng định vị thế bằng nội lực
trí tuệ và sự sáng tạo của chính mình.
Tên lửa đạn đạo không chỉ là một loại vũ khí
mà còn là biểu tượng sống động
của tinh thần tự cường.
Từ một quốc gia từng chịu nhiều đau thương bởi chiến tranh
Việt Nam đang viết nên trang sự mới
nơi khoa học công nghệ và quốc phòng cùng đồng hành
vì hòa bình, độc lập và tự chủ.
Chiến lược phòng thủ chủ động
kết hợp với tầm nhìn phát triển vũ khí tự chủ
chính là minh chứng hùng hồn cho tinh thần dĩ bất biến.
Ứng vạn biến của Việt Nam
một quốc gia nhỏ bé về địa lý
nhưng chưa bao giờ nhỏ bé về ý chí.