Về Dinh Thự Dũng Tướng Lư Cao Mang Hé Lộ Nhiều Chi Tiết Người Cận Vệ Tận Tụy Của Trần Hưng Đạo #hnp.mp4
Anh Đức
212 người theo dõi
3 Lượt xem video·6 thg 4, 2025
Cà Màng lấy vợ người xã Như Thức, nay là xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc.
Tên bà là Lê Thị Thúy. Sau đó ông được hương đạo vương Trần Quốc Tuấn chọn làm tùy tướng thân cận.
Từ đó, hương đạo vương đi đâu đều có ông đi theo như việc tiếp đón Sứ Nguyên,
điều hành quân đội ở các lộ Hải Đông, chống giặc ở Gia Lâm, Trương Yên cũng như bảo vệ Thượng Hoàng Nhà Trần
khi rút lui cũng như việc phản công, giữ gìn tuần phòng Mỹ tục nơi làng quê.
Sau khi ông mất, nhân dân địa phương đã lập đền thờ ông tại khu dinh cũ của gia đình ông ở làng Đồng Mai để phụ sự.
Duy Hà Nội Phố xin biến chào quý vị và các bạn.
Thưa quý vị hiện tại Duy đang ở đỉnh Đồng Mai, xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc, thành phố Nam Định.
Ở đây thì có quần thể di tích và phía này của Duy đó là đỉnh Đồng Mai.
Trong đỉnh thờ Thành Hoàng Làng là Ngài Cao Màng là một trong 5 mảnh tướng dưới trướng của hương đạo Vương Trần Cô Tuấn.
Và đây là ngôi đỉnh thờ Ngài.
Chuyên thuyết ở Đồng Mai và các làng xã quanh đó có nhắc tới khu dinh trong,
dinh ngoài rộng trên hải mẫu tại cánh đồng thôn Đồng Mai hiện nay là nền nhà của tướng Lưu Cao Màng.
Tại đây, nhân dân địa phương đã phát hiện thấy nhiều mảnh xanh, gạch, gốm, chân tảng đá, đầu rông, đất nung thời Trần.
Đây có thể là những phế tích của công trình kiến trúc cổ thời Trần, giúp cho việc nghiên cứu về thời Trần và quê hương nhà Trần toàn diện hơn.
Vị trí ngôi đỉnh này thì cách đền Bảo Lộc cũng như lòng bộ của hương đạo Vương khoảng 2 km.
Khi chúng ta vào đây thì bên phía này là đỉnh, phía kia là phủ và đây là ngôi chùa làng.
Tại thư viện tỉnh Nam Định còn nhiều tài liệu bằng chữ Hán ghi chép về thân thế sự nghiệp Lưu Cao Màng.
Ở đỉnh Đồng Mai còn lưu giữ 4 câu thơ do Chúa Trịnh Doanh tặng khi về thăm Đồng Mai.
Trong di tích này hiện còn lưu giữ được những di vật gì cũng như tiểu sử về vị tướng, giới trướng của hương đạo Vương Trần Quốc Tuấn như thế nào.
Mời quý vị và bạn cùng Duy tìm hiểu nhé.
Trước khi quý vị xem tiếp quý vị nhớ ủng hộ kênh bằng cách nhấn like và chia sẻ video.
Đừng quên nhấn đăng ký kênh youtube Hà Nội Phố để đón xem những video mới nhất.
Quý vị hãy bình luận ở phía dưới để góp ý cho Duy những địa điểm, địa danh lịch sử mà quý vị muốn Duy tới khám phá và trải nghiệm.
Cảm ơn quý vị rất nhiều.
Quý vị muốn mua đặc sản trà sạch Thái Nguyên, xin lên lệ số 0989-260-877.
Sản phẩm trà sạch Thái Nguyên được phân phối chính thức bởi Hà Nội Phố, nhận, giao hàng toàn quốc.
Đình Đồng Mai nằm ở đầu thôn Đồng Mai, xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc, gần đường đê Ất Hợi.
Đình Đồng Mai là địa điểm có lịch sử xây dựng liên quan đến các danh tướng của nhà Trần.
Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông đến ngã Ba Đền Trần khoảng 3 km,
dẽ trái qua Chùa Tháp, sau đó dẽ phải lên Dốc Lốc khoảng 1,5 km.
Đến đây dẽ trái theo đề Ất Hợi khoảng 500m,
đến dông Mai dẽ trái theo đường vào thôn khoảng 400m là tới di tích.
Di tích Đình Đồng Mai và địa bàn thôn Đồng Mai xưa có liên quan khá mật thiết
đến cuộc đời và công tích của tướng Lư Cào Mạng.
Ông là tùy tướng thân cận của hương đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn,
lập được nhiều công trạng đối với đất nước.
Trong cuốn Ngọc Phả Cào Mạng Đại vương công thần tướng thời Trần
viết bằng chữ Hán hiện có lưu giữ tại Đình Đồng Mai có ghi rõ.
Cào Mạng sinh ngày 15 tháng 2 năm kỷ rậu tới năm 1248,
là con ông Lư Thủy Châu và bà Hàn Thị Xuân, quê ở xã Cự Xá, viện Đông Triều, Quảng Ninh.
Ngay từ năm lên 6 tuổi, Lư Cào Mạng đã được cha mẹ tìm thầy giỏi cho học,
nên đã sớm trưởng thành một người văn võ toàn tài.
Năm Cào Mạng 18 tuổi, ông được quan phụ Trần Thì Kiến tiến cử vào chức Chu Tàu, tùy vận xứ.
Trần Thì Kiến sinh năm 1260, mất năm 1330.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Trần Thì Kiến, người làng Cự Xá, huyện Đông Triều, Quảng Ninh,
là một môn khách của Trần Quốc Tuấn.
Ông nổi tiếng là một vị quan liêm khiết, đặc biệt là rất giỏi kinh dịch.
Đại Việt sử ký toàn thư còn cho biết, năm 1892, lấy Trần Thì Kiến làm an phủ Lộ Yên Khang,
nay là huyện Yên Khánh, Ninh Bình.
Trước đây, quân nguyên vào cướp nước ta, vua sai Thì Kiến bói.
Được quẻ dự kiến sang quẻ trấn là tốt.
Mùa hạ năm sau, quân nguyên đại bại, quả đúng như lời đoán.
Mùa thu năm trùng hưng thứ hai, quân nguyên lại vào cướp.
Vua lại sai bói, được quẻ quắn biến sang quẻ hoán.
Đoán hoán nghĩa là tan, là điềm giặt tan.
Sau quân nguyên đến sông Bệnh Đằng, quản nhiên tan chạy.
Vua khen tài quả kiến cho nên có lệnh này.
Năm 1296, do tính cương trực liêm khiết, Trần Thì Kiến được triều đình bổ nhiệm làm kiểm pháp quan,
nhậm chức đại an phủ kinh sư.
Chuyện kể rằng Thì Kiến tính người cương trực, trước kia là môn khách của Hưng Đạo Vương.
Vương tiến cử ông được cất nhắc làm an phủ sứ thiên trường.
Có người trong hương, nhân ngày rỗ đem biếu mâm cổ, Thì Kiến hỏi vì cớ gì mà biếu.
Người ấy trả lời là vì gần trị sở nên đem biếu chứ không kêu xin gì.
Mấy ngày sau, quản nhiên có việc kêu xin.
Trần Thì Kiến móc họng mở ra.
Đến đây lại được thăng làm kiểm pháp quan.
Mỗi khi có kiện tụng thì dùng lý lẽ mà bắt bẻ.
Việc đến thì tìm phương pháp để ứng phó.
Người đời đều cho là giỏi xét đoán kiện tụng.
Trần Thì Kiến đã được vua Trần Anh Tông ban tặng chiếc hốt ngà có khắc bài minh ngự chế,
gợi khen ông là một pháp quan cường trực.
Thái sơn trinh cao, tượng hốt trinh liệt, lĩnh trãi tiến rác vì hốt nan triết.
Tức thái sơn rất cao, hốt ngà rất cứng, lĩnh trãi dâng sừng, làm hốt khó gãy.
Năm 1298, vua lấy Trần Thì Kiến làm nhập nội hành khiển,
Tuy nhiên, trong đời quan lộ, cũng có lúc Trần Thì Kiến gặp sóng gió.
Đó là trong khi giữ chức gián nghị đại phù.
Ông đã vô ý chứa dấu dân đinh nên bị bại chức.
Sau đó vua nghĩ không phải là cố ý, nên năm 1301,
ông được vua xóa tội và cho giữ chức tham chi chính sự.
Đến năm 1305, ông lại được vua cho giữ chức tả bộc xạ.
Thờ Trần coi tả, hữu bộc xạ là hữu tướng quốc, tức là thái tế, tể tướng.
Mặc dù giữ nhiều chức vụ khác nhau, nhưng Trần Thì Kiến luôn chứng tỏ là người thanh liềm tận tụy.
Các quan đời sau coi ông là một tấm hương để học tập.
Vua Tự Đức đã viết một bài vị ngợi ca tài đức của ông.
Cho đến nay, các bộ hợp tuyển thơ văn cổ không ghi được một tác phẩm nào của Trần Thì Kiến,
ngoài một bài thơ của ông Tạng Sư Phổ Minh Chủ An Lãng,
được in trong tập bộ sách Thơ văn Lý Trần.
Bài thơ có tựa đề, đề Tạng Thiền Sư Phổ Minh ở Chùa An Lãng.
Dương suối đốt phả là đại ẩn, chùa nhà ấy mới thực chân tu,
nay được tham thiền như mộng tỉnh, đừng đem chuyện cũ trách trào trầu.
Trải qua bao biến động lịch sử, thời gian, đáng tiếc là đến nay,
vẫn chưa có nghiên cứu nào xác định được làng cự xạ thời Trần nay thuộc xã nào huyện Đông Triều.
Vì vậy, với những đóng góp lớn lao trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông
và tấm lòng tận chung với nước liêm khiết chính trực,
Trần Thị Kiến đã được lưu danh sử sách.
Hiện ông được thờ ở đền cửa ông cùng với một số danh tướng công thần nhà Trần.
Mới đây, Trần Thị Kiến cũng được lựa chọn đưa vào thờ trong khu văn hóa lúi bài thơ
coi là niềm tự hào của Quảng Nịch.
Lại nói tiếp, sau khi Trần Thị Kiến tiến cử Lưu Cao Màng và thời gian cũng như hoàn cảnh
tướng Lưu Cao Màng gặp hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn như thế nào?
Mời quý vị cùng xem tiếp.
Sau đó, ông được hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn chọn làm nhà tướng, tùy tướng cẩn thận.
Dưới trướng của quốc công tiết chế hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn,
ông đã cùng với các tướng Yết Kiêu, Giã Tượng, Nguyễn Địa Lô
chuẩn bị tốt cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Nguyên Mông dành thắng lợi.
Năm 1269, Lưu Cao Màng đã từng chỉ huy đoàn sứ bộ Lê Đà, Đinh Củng Viên
sang nước nguyên ban Việt biên giới.
Ông còn chỉ huy bảo vệ các đoàn sứ bộ sang nguyên vào các năm 1272-1275.
Cả ba lần sang nguyên, ông đều bảo vệ an toàn cho sứ bộ.
Thưa quý vị, ít người biết rằng dưới trướng quốc công tiết chế Trần hưng đạo
có năm mảnh tướng là Yết Kiêu, Giã Tượng, Cao Màng, Đại Hành và Nguyễn Địa Lô.
Trong bình thư yếu lược, Trần Quốc Tuấn viết,
Trong phép chiến thắng của người cầm quân có năm việc cốt yếu.
Đó là sẵn sàng bào giáp, binh khí là thứ nhất, lo kiếm người, ngựa, xe có đủ là thứ hai,
chữa trữ cho nhiều lương thảo là thứ ba, huấn luyện binh sĩ cho tốt là thứ tư
và chọn tượng giỏi là thứ năm.
Năm việc trên đã chuẩn bị xong rồi mới có quân đội mạnh mẽ được.
Đoạn khác ông có viết, và lại, nước lấy binh làm gốc, binh lấy tướng làm gốc,
sĩ tốt lấy tướng làm chủ.
Bởi thế muốn có binh mạnh để đánh thắng hoặc giữ vững thì trước hết phải biết dùng tướng,
tìm người pho tá rồi sau mới có thể thị uy giữa tiền hạ,
làm cho mọi dợ bốn phương phải tới hàng phục, đó là gốc lớn của kẻ đường nước.
Đức tính của người giỏi là, cứng rắn mà không bị bẻ gãy, mềm mỏng mà không bị vầy vò,
cho nên có thể dùng yếu để chống mạnh, dùng mạnh để chống cứng, mềm mãi,
yếu mãi thì sẽ bị tức đoạt, cứng mãi, mạnh mãi thì sẽ bị thất bại,
không cứng, không mềm, biết nhu, biết cương mới là lẽ thường của đạo.
Tướng có năm tài ấy là Dũng, Chí, Nhân, Tín Trung.
Dũng thì không để cho ai xúc phạm mình, Chí thì không dối loạn, Nhân thì thương dân,
Tín thì không lửa dối, Trung thì không hài lòng.
Muốn biết một viên tướng tài giỏi hay ngu tối,
tôi nghĩ ta phải thử thách họ để coi họ có động lòng không.
Thử thách bằng cách nào? Tác giả của binh thư yếu lược chỉ dẫn.
Thứ nhất là hỏi họ, buộc họ phải trả lời để do xem kiến thức tường tận của họ.
Thứ hai là lấy lời ngạn hỏi họ để xem tài ứng biến của họ.
Thứ ba là dùng gián điệp để do xét để xem lòng thành thực của họ.
Thứ tư là buộc họ ràng dài, rõ ràng để xem đức độ của họ.
Thứ năm là dùng tiền của mà sai khiến họ để xem tính liêm khiết của họ.
Thứ sáu là dùng sắc đẹp mà thử họ để xem lòng chinh chính của họ.
Thứ bảy là đem việc khó mà bảo họ để xem lòng dũng cảm của họ.
Thứ tám là cho họ uống rượu say để xem thái độ của họ.
Về đức tính của đạo làm tướng,
Binh ở trốn chiến trường, Đức vào nơi chết chóc,
Quyết chết thì được sống, Câu sống thì phải chết,
Người tướng giỏi giống như đứng trên thuyền thùng đáy,
Nằm dưới nhà đang cháy.
Hoàn cảnh ấy khiến cho kẻ cơ trí cũng không kịp miêu tính được gì.
Kẻ dũng cảm cũng không kịp nổi giận.
Như thế mới có thể chống cự với quân địch.
Trong số những tướng tài dưới trướng quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo,
đầu tiên phải kể đến Ít Kiêu.
Ngoài Ít Kiêu, bốn tướng tài khác của Trần Hưng Đạo gồm.
Giã Tượng là người có tài thuần phục và huấn luyện vòi chiến.
Ông là người đã chỉ huy lực lượng tượng binh nhà Trần giao chiến
với tỵ bình quân nguyên ở Trận Vạn Kiếp.
Tướng tiếp theo là Cao Màng.
Tên đầy đủ là Lư Cao Màng.
Tại Thư viện tỉnh Nam Định còn nhiều tài liệu bằng chữ Hán ghi chép về thân thế sự nghiệp Lư Cao Màng.
Ở đình Đồng Mai còn lưu giữ bốn câu thơ do Chúa Trịnh Doanh tặng khi về thăm Đồng Mai.
Vì dân, vì nước, gánh, gian lao.
Tướng tiếp theo đó là Nguyễn Địa Lô.
Khác với Ít Kiêu và Giã Tượng, Nguyễn Địa Lô có tên họ đầy đủ hơn.
Địa Lô có tài bắn cung, bách phát, bách trúng, được mệnh danh là thần tiễn đương thời.
Năm 1285, khi đạo quân của Toa Đô vừa từ Chiêm Thành tiến ra đến Nghệ An,
tướng chỉ huy quân đội của nhà Trần ở đấy là Trần Kiện đã hèn nhát bỏ đi đầu hàng.
Sự kiện này đã gây cho cuộc kháng chiến lúc bấy giờ những tổn thất rất lặng.
Toa Đô lập tức sai người dẫn Trần Kiện về Yên Kinh, tức Trung Quốc.
Nhưng khi bọn Trần Kiện vừa đến biên giới phía Bắc,
các đội quân binh ở đây dưới sự chỉ huy của một số thủ lĩnh như Nguyễn Thế Lộc,
Nguyễn Lĩnh đã đón đánh rất quyết liệt.
Nguyễn Địa Lô cũng có mặt trong cuộc tập kích này và chính ông đã bắn chết Trần Kiện.
Thưa quý vị, trong bình thư yếu lược của Quốc công tiết chế Trần Hương Đạo,
Ngài đã chia sẻ rất rõ cách chọn tướng, khuyển binh một cách rất sâu sắc.
Và dưới chướng của Trần Hương Đạo, những người này vừa có tài vừa có đức,
đầy đủ những phần chất đó, đó là Lư Cào Mạng.
Lư Cào Mạng còn giúp triêu văn vương Trần Nhật Duật lên Đạo Đà Giang để dẹp nội loạn
và giúp Trần Thị Kiến giữ gìn bình an ở phủ tiên trường.
Năm Tân Tị, tức năm 1281, Cào Mạng lấy vợ người xã Như Thức, nay là xã Mỹ Thắng huyện Mỹ Lộc.
Tên bà là Lê Thị Thúy.
Sau đó ông được hương đạo vương Trần Quốc Tuấn chọn làm tùy tướng thân cận.
Từ đó, hương đạo vương đi đâu đều có ông đi theo như việc tiếp đón xứ Nguyền,
điều hành quân đội ở các lộ Hải Đông, chống giặc ở Gia Lầm, Trương Yên,
cũng như bảo vệ Thượng Hoàng Nhà Trần khi rút lui, cũng như việc phản công.
Việc nào ông cũng lập được nhiều công lớn.
Giai đoạn kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ ba,
Lư Cào Mạng trực tiếp điều quân tại Yên Hưng, phản công địch dành nhiều thắng lợi.
Ông còn cùng với Trần Địa Lô, Nguyễn Chế Nghĩa,
dưới sự chỉ huy của Phạm Ngũ Lão đánh giặc ở Bạch Đằng,
chấn trị các vùng sung yếu như Lạng Sơn, Chia Lăng,
giúp vương Triều Trần tổ chức kháng chiến tự vệ dành thắng lợi và giữ gìn bình yên trong đất nước.
Trong thời gian làm quan và sinh sống tại Phủ Thiên Trường,
Lư Cào Mạng có nhiều đóng góp với vương Triều Trần và quê hương.
Đối với nhân dân Đồng Mai như Thức thuộc xã Mỹ Thắng, Mỹ Lộc,
ông khuyến khích nhân dân phát triển sản xuất, làm thủy lợi,
tạo điều kiện cho nhân dân xây đền chùa, giữ gìn thuần phòng bị tục nơi làng quê.
Sau khi ông mất, nhân dân địa phương đã lập đền thờ ông
tại khu dinh cũ của gia đình ông ở Lạng Đồng Mai để phụng sự.
Truyền thuyết ở Đồng Mai và các làng xã quanh đó có nhắc tới khu dinh trong,
dinh ngoài rộng trên hai mẫu tại cánh đồng thôn Đồng Mai hiện nay,
là nền nhà của tướng Lư Cào Mạng.
Tại đây, nhân dân địa phương đã phát hiện thấy nhiều mảnh xanh,
gạch, gốm, chân tảng đá, đầu rông, đất nung thời Trần.
Đây có thể là những phế tích của công trình kiến trúc cổ thời Trần,
giúp cho việc nghiên cứu về thời Trần và quê hương nhà Trần toàn diện hơn.
Đình Đồng Mai nằm chung với công trình chùa trên khu đất rộng diện tích 2.235 m2,
diện tích làm kiểu chữ Đinh gồm tiền đường 5 gian, cung cấm 2 gian.
Theo dòng chữ hán các trên thượng lương thì tiền đường được trung tu vào năm thành thái thứ 6 tứ năm 1894.
Bộ khung công trình là bằng gỗ lim kiểu bốn hàng cột,
hệ thống vì kèo gia công kiểu thượng trồng rường, hạ kẻ truyền, bầy tiền, bầy hậu.
Trên các đầu xa, bầy và các con rường trạm họa tiết mai hóa lòng, lá lật đường nét mềm mại.
Tòa cung cấm 2 gian, bộ khung làm kiểu quá giang kèo cầu, mái lợp ngói nam,
ban thờ chính giữa đặt ngai và bài vị thờ tướng Lưu Cao Mạng.
Bên cạnh đình có công trình chùa, phủ mẫu có mặt bằng hình chữ Đinh gồm 7 công trình
với 18 gian lớn nhỏ tạo thành thế khép kín bảo vệ công trình.
Theo thống kê, đình Đồng Mai hiện còn lưu giữ được 3 cầu đối, 2 bức đại tự, 6 năm đồ thờ.
Đặc biệt tại di tích còn lưu giữ được bản thần tích viết vào năm thành thái thứ 2 năm 1890,
nội dung căng ngợi công đức của tướng Lưu Cao Mạng.
Hàng năm tại di tích diễn ra những kỳ lễ hội như ngày 15 tháng 2 và ngày 12 tháng 2 âm lịch,
nhân dân địa phương tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh và ngày bất của thành hoàng làng Lưu Cao Mạng.
Vào ngày 9 tháng 3 tổ chức tế lễ trong dịp này, từng tổ chức trong 2 ngày.
Ngoài việc tế lễ còn có giữ nước từ sông Châu về đỉnh để tế lễ cầu mai.
Vào ngày 5 tháng 5 tổ chức lễ Thượng Điền, ngày 25 tháng 10 lễ Hạ Điền.
Thưa quý vị, theo những cụ cao niên trong làng kể lại, trong hai cuộc kháng chiến chương kỳ của dân tộc,
chống Pháp và chống Mỹ, Đình Đồng Mai cùng với một số cơ sở trong thôn là nơi bảo vệ cho cán bộ đảng hoạt động,
bí mật dạy võ cho nhân dân.
Khi kênh mạng tháng 8 thành công, Đình là nơi tổ chức bầu chính quyền lâm thời,
dân chủ nhân dân của xã.
Vào năm 1946, Thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Định.
Bệnh viện K34 của tỉnh sơ tán về Đồng Mai.
Nhà dân cùng với đình làng là nơi giúp đỡ hàng trăm thương binh lánh lạn điều trị.
Gia đoạn từ năm 1950-1954, kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào thời kỳ ác liệt nhất.
Máy đình Đồng Mai ghi dấu tinh thần kháng chiến, cuộc cường của nhân dân Đồng Mai,
đồng góp sức người, sức của trong công cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Cùng với giá trị lịch sử hào hùng của dân tộc trai dài từ thế kỷ này sang thế hệ khác,
đình Đồng Mai còn có giá trị lớn về mặt kiến trúc khi kết hợp bài hòa trong quần thể,
chùa thờ Phật, đền thờ mẫu rất thanh bình, tạo ấn tượng đẹp cho du khách khi về đây tham quan chiêm bái.
Đình Đồng Mai được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh vào ngày 26 tháng 8 năm 1996.
Đình Đồng Mai tọa lạc trên một khu đất cao, rộng rãi,
tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người đến tham quan chiêm ngưỡng.
Phía trước đình có hệ thống tham quan xây kiểu trồng diêm.
Từ tham quan vào đình là một sân rộng lát gạch.
Xung quanh có tường bao quanh, tạo cho Di tích một quy mô khép kín.
Đình mang kiến trúc quan thuộc của những ngôi đình vùng Đồng Bằng Bắc Bộ
mà chúng ta thường thấy với kiến trúc kiểu tiền chữ nhất hậu chữ đình,
trải qua sự khắc nghiệt của thời gian với những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Cùng với sự trùng tu tuân tạo,
nhưng ngôi đền vẫn bảo lưu được những đường nét kiến trúc truyền thống Việt Nam,
với mái lợp ngói nam, cửa gỗ lim.
Bên trong đình bộ khung làm bằng gỗ lim,
với các vỉ nóc, vỉ nách đều được làm theo kiểu trồng đấu,
với những con rường sen kín vào nhau.
Tuy không có chất kết dính hay một vật liệu nối nào,
nhưng cũng vẫn tạo cho bộ khung với kết cấu vững chắc trường tồn qua thời gian.
Sau đây, mời quý vị cùng nghe một chuyện đi xứ,
trích trong chuyện danh nhân Việt Nam,
chuyện lịch sử, thời dựng nước và tự chủ thời Lý Trần của Ngô Văn Phú.
Tuy không nhắc tới tướng Lưu Cò Mang,
nhưng danh tướng Lưu Cò Mang cùng đi xứ vào thời gian này,
để chúng ta nghe được cái thần thái,
cũng như là cái niềm tự hào dân tộc thời Trần lúc bấy giờ.
Về việc đi xứ,
năm ấy nhà Nguyên lại cho người sang mượn đường đánh Chiêm Thành.
Vua Trần sai hai đại thần là họ đinh,
và họ lề đi xứ cầu hỏa hoãn.
Vua Nguyên Mông là kẻ vốn quen ngồi trên bình ngựa
chinh chiến từ Tây sang Đông, tính nóng như lửa.
Nghe nói xứ Bộ Đại Việt đến liền triệu quan cận thần đến hỏi,
rồi cho xứ vào, đập bàn nói.
À Nam là nước nhỏ, sao bướng bỉnh làm vậy?
Không biết là vó ngựa của người Mông cổ ta đã trà nát bao nhiêu xứ sở hay sao?
Tránh xứ họ lề điểm tịnh thừa.
Tầu Hoàng đế, bằng dao hai nước kế lâu dài là hòa hiếu,
như vậy mới không bị tổn hại.
Vua Nguyên cười bằng nói,
hòa hiếu ư, nước nhỏ chỉ được thần phục thôi,
làm sao lại dám nói chuyện hòa hiếu.
Tránh xứ họ lề lại dập đầu thừa.
Tôi thấy hòa hiếu có mấy cái lợi lớn,
chẳng biết Hoàng tượng có chịu nghe không?
Vua Nguyên mặt vẫn hầm hầm tức giận,
chưa kịp nói, tể tướng đỡ lời vua.
Xứ Thần có thể trình bày.
Hòa hiếu có mấy điều lợi,
không phải dùng binh lựa mà vẫn yên ổn phên dậu,
đó là cái lợi thứ nhất.
Việc binh đã thư thả thì hai nước đều có cơ hội toàn tính
làm cho dân giàu nước mạnh,
đó là cái lợi thứ hai.
Dân giàu nước mạnh thì dân trí phát triển,
hào kiệt có nhiều, càng mạnh thêm.
Hai nước liên minh với nhau
làm cho những nước thù địch trong vùng phải nể sợ,
đó là cái lợi thứ ba.
Xứ Thần họ lề vừa rút lời thì vua Nguyên đã quát nhắc lại rằng,
với đại hoàng đế Nguyên Mông,
các người chỉ được thần phục thôi.
Nói rồi, dụ áo lui vào,
bỏ xứ bộ cho quan tể tướng tiếp.
Quan tể tướng vốn gốc người Hán,
hết sức tinh tế, bảo xứ Thần rằng,
việc băng giao còn tùy thuộc thời thế,
hai ông hãy nán lại vài bữa nữa,
rồi chào từ Việt ra về.
Vua nhà Nguyên thấy xứ Thần Việt Nam cứng cỏi,
giữ được thể diện của đất nước mình,
ngoài miệng quát tháo,
nhưng trong bụng phần nào có nề mến.
Sau đó đã bảo tể tướng rằng,
ông cứ làm như thế, như thế,
xem xứ Thần An Nam xử sự ra sao.
Một bữa, xứ bộ Đại Việt được mời đi ăn tiệc
do tể tướng thiết đãi.
Hai người đi kiệu đến quán dịch,
thì thấy tiệc đặt tranh vanh trên đài cào.
Hai người phải leo thang lên.
Người tiếp xứ Thần hôm nay
là một viên tham trì của bộ lễ.
Ông ta thay mặt tể tướng,
cùng xứ bộ Việt Nam đàm đạo về thời thế.
Ông ta hỏi,
An Nam có thuộc về Bách Việt không?
Tránh xứ họ lề đáp lại ngay.
Tôi nghe Bách Việt là tên gọi chung của Trung Hoa
với các dân tộc Việt Nam ở phía Nam của họ.
Còn Đại Việt chúng tôi
là một dân tộc có hàng ngàn năm nay.
Lạc Long Quân và Âu Cơ thủa dựng nước
đẻ một bọc trăm trứng, nợ ra trăm chai.
Năm mươi con theo cha lên núi,
năm mươi con theo mẹ về biển,
chấn giữ bờ cõi, mở mang đất nước.
Kể đến vua tục kiến tạo kinh đô ở Loa Thành.
Ngôn ngữ có riêng,
thuần phong Mỹ tục cũng khác.
Cùng hán đường, tống hùng cứ một phương.
Sao lại gồm là Bách Việt của Trung Hoa được?
Và lại phương Nam còn có người Thượng,
phía Bắc còn có người Thái.
Tập tục khác hẳn Trung Hoa.
Đường đường là một quốc gia,
bởi thế mới gọi là Đại Việt.
Viện Thàm Trì cười khỉ mà nói.
Cổ sứ thần An Nam có bọc thép không đấy?
Gươm người Mông Cổ sắc lắm.
Phó sứ họ Đinh cũng cười khẽ rồi nói.
Lời lẽ phân minh chính là
chiếc giáp sắt che chở cho chúng tôi.
Đang bữa tiệc,
Viện Thàm Trì cáo từ về trước
vì có chút việc bận,
rồi xuống thang mà về.
Các quân hầu thầy tớ cũng theo cả.
Chỉ còn những tên lính đứng ngay
bốn phía đài cào,
cầm gươm nghiêm nghị không đúng nhích.
Thấy quân nguyên rút thang,
phó sứ họ Đinh đưa mắt hỏi.
Bây giờ ta xuống bằng cách nào?
Tránh sứ họ Lê nói.
Ông không thấy hai chiếc lọng gấm
ở phía ngoài đài cào kia sao?
Đó là thang trời của chúng ta đấy.
Nói loạn, ung dung đi đến,
cầm mỗi người một lọng,
nhảy từ trên cao xuống an toàn.
Hôm sau, sứ bộ lại được lệnh chuyển chỗ.
Hai người được đưa đến một ngôi chùa
vừa tân tạo, mắng vẻ,
cổng kín, cao tường.
Lính gác tới phiên đến canh,
hết phiên lại về.
Chờ mãi đêm tối, bụng đói mèo,
vẫn chẳng thấy ai đưa cơm nước gì cả.
Phó sứ họ Đinh lại có vẻ bàn khoản.
Chợt nhìn thấy một cóng nước mưa.
Ông nói.
Nước thì có đây,
thế mà ta cứ nhịn khát suốt từ sáng tới giờ.
Rồi hai người lên múc uống.
Đinh phó sứ nói.
Hay là họ định giam cho chúng ta chết đói
vì những lời lẽ cứng cỏi của chúng ta?
Lê Tránh sứ cười nói.
Họ lại thử ta một lần nữa đấy.
Có nước, tất có cái.
Ông thử bẻ một ngón tay tượng Phật xem nào.
Đinh phó sứ bẻ tay Phật và gieo lên rằng.
Đúng rồi.
Quan Tránh sứ đoán đúng thật.
Hai ông Phật làm bằng chè lam,
đúng là thức ăn của ta.
Rồi hai người ung dung bẻ Phật ra để ăn hàng ngày.
Đúng một tháng sau,
họ ăn đến ngón chân của Phật
thì cửa chùa cũng được mở.
Viện Thàm Trì Bộ Lễ thấy sứ bộ Việt Nam
có phần tươi tỉnh hơn cả khi vào chùa.
Mà hai ông Phật lại biến mất.
Ông liền ứng khẩu, đọc luôn.
Nhân Phật đồng cư, nhân tại, hạ Phật.
Tức người Phật cùng nhà, người đó, Phật đâu.
Phó sứ họ Đinh liền đáp lại ngay.
Phật nhân nhất thể, Phật hóa thành nhân.
Tức Phật người một thể, Phật hóa thành người.
Viện Thàm Trì phục tài,
xá hai ông rồi dẫn về quán dịch.
Trích trong chuyện danh nhân Việt Nam
trong thời dựng nước và tự chủ
thời Lý Trần của Ngô Văn Phú.
Cảm ơn quý vị đã chú ý theo dõi.
Quý vị nhớ ủng hộ kênh bằng cách nhấn like và chia sẻ video.
Đừng quên nhấn đăng ký kênh youtube Hà Nội Phố
để đón xem những video mới nhất.
Quý vị hãy bình luận ở phía dưới để giao lưu cùng duy
cũng như góp ý cùng duy những địa điểm,
địa dạng lịch sử mà quý vị muốn duy
tới khám phá và chia sẻ cho quý vị.
Hẹn gặp lại quý vị trong những video sắp tới.
Quý vị muốn mua đặc sản trà sạch Thái Nguyên
xin lê lệ số 0989 260 877.
Sản phẩm trà sạch Thái Nguyên
được phân phối chính thức bởi Hà Nội Phố
nhận giam hàng toàn quốc.
