VÌ SAO VIỆT NAM KHÔNG SỢ ĐỘNG ĐẤT, SÓNG THẦN, NÚI LỬA?
#BlvHaiThanh #BLVHảiThanh #BLVhaiThanhStory
Đăng ký kênh tại đây các bạn nhé!
https://bit.ly/blvhaithanh
Sau trận động đất tại Myanmar, một bản đồ địa chấn mới được công bố từ cơ quan khảo sát địa chấn Hoa Kỳ hé lộ thực tế.
Đông Nam Á là khu vực có hoạt động địa chấn dữ dội bậc nhất trên thế giới và trong đó Việt Nam gần như an toàn tuyệt đối trước động đất.
Khu vực nào có những chấm màu cam càng đậm, khu vực đó càng có nguy cơ động đất cao.
Việt Nam ta có một khu vực màu cam đậm đó là Tây Bắc, nơi từng xuất hiện những trận động đất lớn nhất trong lịch sử Việt Nam.
Việt Nam có vị trí địa lý tốt ra sao tại Đông Nam Á hay nói như các cụ thì long mạch của nước ta tốt như thế nào?
Lần trước trong một video, mình đã nói về giả định Việt Nam nếu có động đất mạnh như ở Myanmar thì điều gì sẽ xảy ra.
Còn lần này, mình sẽ tập trung nói về việc Việt Nam đang thực sự may mắn ra sao với vị trí địa lý của mình và chúng ta không cần phải quá lo đến chữ nếu kia.
Để hiểu được sự may mắn của Việt Nam, trước tiên chúng ta cần phải nhìn vào một bản đồ lớn hơn, bản đồ của trái đất,
nơi các mảng kiến tạo khổng lồ di chuyển chậm dãi như những tấm thảm nổi trên lớp magma nóng bỏng bên dưới.
Khoảng 80% các trận động đất và núi lửa trên thế giới xảy ra dọc theo vành đai lửa Thái Bình Dương.
Đây là một vòng cung dài khoảng 40.000 km, chạy từ bờ Tây của châu Mỹ qua Alaska, Nhật Bản, Philippines, Indonesia rồi vòng về New Zealand.
Đây chính là nơi các mảng kiến tạo lớn như mảng Thái Bình Dương, mảng Ấn Úc và mảng Philippines va chạm, ép nhau, trượt lên nhau,
tạo ra những trận động đất kinh hoàng với cường độ có thể lên đến 9 độ Richter và những đợt sóng thần cao hàng chục mét.
Nhật Bản, một quốc gia nằm ngay trên vành đai này, từng hứng chịu trận động đất Tohoku vào năm 2011 với cường độ 9,0 độ Richter,
cao theo sóng thần cao 40 mét, cướp đi hơn 15.000 sinh mạng.
Indonesia cũng không kém phần bi thảm. Đó là trận động đất 9,1 độ Richter vào năm 2004, ngoài khơi Sumatra, đã tạo ra sóng thần,
khiến hơn 230.000 người thiệt mạng ở 14 quốc gia. Nhưng Việt Nam thì sao?
Hãy nhìn vào bản đồ. Việt Nam nằm ở phía tây của Biển Đông, cách xa những điểm nóng của vành đai lửa.
Đất nước hình chữ S thuộc về mảng lục địa Á-Âu, một mảng kiến tạo rộng lớn và ổn định, trải dài từ châu Âu qua Trung Quốc đến Đông Nam Á.
Không có danh giới mảng lớn nào cắt qua lãnh thổ Việt Nam. Và không có những vùng va chạm tử thần như ở Nhật Bản hay Indonesia.
Đây chính là lá bùa hậu mệnh đầu tiên của Việt Nam trước động đất.
Nhưng đừng vội nghĩ rằng, Việt Nam hoàn toàn vô can và hoàn toàn an toàn. Thỉnh thoảng vẫn có những rung chấn nhỏ xảy ra.
Ví dụ, vào ngày 27 tháng 11 năm 2020, một trận động đất 5,3 độ Richter đã làm rung chuyển Con Flong, tỉnh Kon Tum, khiến người dân địa phương hoảng hốt.
Hay như trận động đất ở Điện Biên vào năm 1935, một trong những sự kiện lớn nhất từng được ghi nhận ở Việt Nam.
Tuy nhiên, những sự kiện này hiếm hoi và nhẹ nhàng hơn rất nhiều so với những quốc gia khác.
Tại sao ư? Vì các rung chấn của Việt Nam chủ yếu đến từ những đứt gãy nội mảng, chứ không phải là danh giới mảng, một ngôn ngữ đậm tính địa chất.
Nói một cách dễ hiểu hơn, các rung chấn ở Việt Nam chủ yếu đến từ những vết nứt nhỏ trong lòng của mảng Á-Âu,
hay còn gọi là đứt gãy nội mảng, giống như là những vết dạng nhỏ trên một tâm kính.
Chúng sẽ giải phóng năng lượng yếu nên động đất thường là nhẹ.
Trong khi đó, danh giới mảng, nơi các mảng lớn va trạm như ở Nhật Bản,
giống như hai tâm kính đè ép lên nhau mạnh mẽ, tích tụ năng lượng khổng lồ, gây động đất mạnh gấp hàng nghìn lần.
Vì Việt Nam không nằm ở danh giới mảng, động đất của chúng ta ít và yếu hơn nhiều.
Tuy vậy, Việt Nam vẫn có một số đứt gãy nổi tiếng,
ví dụ như là đứt gãy Sông Hồng dài khoảng 1.000 km chạy từ Trung Quốc sang Việt Nam,
đứt gãy Lai Châu Điện Biên hay là đứt gãy nhỏ hơn ở Tây Nguyên.
Những đứt gãy này giống như những đường may yếu trên tấm vải địa chất,
nơi năng lượng đôi khi được giải phóng dưới dạng những trận động đất nhẹ.
Và quả thật là chúng ta có động đất nhẹ, bởi vì theo thông kê mỗi năm,
Việt Nam ghi nhận khoảng 100-200 trận động đất,
nhưng hơn 90% trong số đó có cường độ dưới 4 độ Richter,
tức là mức mà con người hầu như không cảm nhận được nếu không có thiết bị đo.
Cần phải nhắc lại, trận động đất lớn nhất trong lịch sử hiện đại,
như đã nói ở nhiều lần nhiều video, vẫn là ở Điện Biên năm 1935,
chỉ đạt 6,7-6,8 độ, đủ để gây rung lắc mạnh, làm nứt tường nhà,
nhưng không thể so sánh với những trận động đất mạnh tại những quốc gia khác.
Đó là về động đất, bây giờ hãy rời đất liền và ra khơi.
Việt Nam có đường bờ biển dài, trải qua 28 tỉnh thành,
từ Quảng Ninh cho đến Kiên Giang, dài hơn 3.000 km.
Với vị trí như vậy, bạn có thể nghĩ rằng sóng thần là mối đe dọa lớn,
nhưng thực tế lại hoàn toàn khác.
Hãy nhìn vào bản đồ Biển Đông.
Ở phía Đông và phía Nam, Việt Nam được bao bọc bởi những barrier tự nhiên,
đó là những quốc gia như Philippines, Indonesia và Malaysia.
Những quốc gia đảo và quần đảo này không chỉ là hàng xóm,
mà còn là những tấm khiên vô tình bảo vệ Việt Nam khỏi sóng thần.
Có một ví dụ rất thực tế.
Hãy quay lại trận sóng thần vào năm 2004 ở Ấn Độ Dương.
Khi trận động đất 9,1 độ xảy ra ở dãnh Sumatra,
sóng thần lan tỏa với tốc độ 700 km một giờ,
nhưng hướng chính của nó là về phía Tây, tương ứng với Ấn Độ Sri Lanka,
và phía Bắc tương ứng với Thái Lan.
Việt Nam nằm ở phía Đông Bắc của Tâm Trấn, hầu như không bị ảnh hưởng.
Tương tự, nếu một trận động đất lớn xảy ra ở dãnh Manila, tức là Philippines,
sóng thần sẽ thường hướng ra Thái Bình Dương hơn là quay ngược vào biển Đông.
Rồi thì khoảng cách giữa dãnh Manila đến Việt Nam là hơn 1.000 km,
cũng đủ để năng lượng sóng thần suy giảm đáng kể trước khi chạm vào bờ biển Việt Nam.
Ngoài ra, có một thứ mà chúng ta không nhìn thấy nhưng đang giúp ích cho Việt Nam,
đó là địa hình đáy biển.
Địa hình đáy biển cũng đóng một vai trò rất quan trọng.
Biển Đông có độ sâu trung bình khoảng 1.200m,
nhưng cái vùng thềm lục địa gần Việt Nam thì khá nông, chỉ khoảng 50-200m.
Điều này khiến sóng thần vốn cần độ cao lớn để duy trì sức mạnh
sẽ bị phanh lại khi tiếp cận đất liền.
Kết quả là ngay cả khi có sóng thần,
chiều cao của chúng chỉ thường khoảng từ 1-2m ở Việt Nam
so với 10-30m như ở những nước kiểu như Nhật Bản hay Indonesia.
Phải khẳng định rằng, dù Việt Nam có nhiều lợi thế,
nhưng không có nghĩa là đất nước của chúng ta hoàn toàn miễn nhiễm
với các thảm họa đặc biệt là sóng thần.
Các nhà khoa học cảnh báo rằng nếu một trận đậu đất cực lớn,
tức là khoảng trên 8 độ Richter xảy ra ở Biển Đông,
dù sắc sất chỉ khoảng 1% trong 100 năm,
thì sóng thần vẫn có thể ảnh hưởng đến các tỉnh ven biển
như Đà Nẵng, Quảng Nam hay Phú Yên.
Một nghiên cứu của năm 2018 thuộc về Viện Vật lý Địa cầu Việt Nam
ước tính rằng trong kịch bản sâu nhất, sóng thần cao 3-5m
vẫn có thể xuất hiện ở bờ bể miền Trung và gây ngập lụt nghiêm trọng.
Ngoài ra, sự phát triển đô thị nhanh chóng cũng đạt ra nhiều thách thức.
Nhiều tòa nhà cao tầng ở Hà Nội, TP.HCM
được xây dựng không tính đến tiêu chuẩn chống đậu đất
vì người ta cho rằng Việt Nam rất an toàn rồi.
Nhưng nếu một trận đậu đất 6 độ Richter bất ngờ xảy ra gần đô thị,
thiệt hại có thể lớn hơn dự kiến.
Một thảm họa thiên nhiên khác cũng rất nổi tiếng ở thế giới
nhưng chúng ta ít thấy ở Việt Nam, đó là núi lửa.
Nếu bạn từng nghe về những ngọn núi lửa ở Indonesia,
như vụ Phun Chao vào năm 1883
tạo ra âm thanh lớn bậc nhất trong lịch sử loài người,
nghe được cách xa tận 4.800 km
cướp đi sinh mạng của 36.000 người
hay núi lửa Fuji, chúng ta vẫn gọi là Fuji ở Nhật Bản,
luôn sẵn sàng thức giấc, bạn sẽ thấy rằng Việt Nam thật may mắn
khi là một nơi yên bình giữa thế giới núi lửa.
Tại sao lại như vậy?
Trong khi Indonesia có tới 130 núi lửa đang hoạt động,
chiếm khoảng 17% tổng số núi lửa trên thế giới.
Bởi vì Indonesia nằm trên vành đai lửa Thái Bình Dương,
Việt Nam chúng ta lại không có một ngọn núi lửa nào còn đang thở,
chứ đừng nói là phun trào.
Thực tế là Việt Nam chúng ta có núi lửa,
nhưng câu chuyện đó thì cách đây quá xa rồi.
Bởi vì chúng ta cần phải quay ngược thời gian về 10 triệu năm trước,
khi vùng đất Tây Nguyên ngày nay còn là một nơi có rất nhiều magma.
Những dòng rung nhăm nóng chảy đã phun trào,
để lại những vùng cao nguyên rộng lớn,
đó là dấu tích của những núi lửa cổ.
Núi Chư Đăng Nha ở Gia Lai,
hay vùng Đá Bảy Màu ở Đồng Nai
là minh chứng sống động cho quá khứ nóng bỏng của núi lửa.
Nhưng giờ đây, chúng chỉ còn là những ngọn núi,
những ngọn đồi lặng lẽ phủ đầy cây cối,
không còn khói và tất nhiên chẳng còn lửa.
Các nhà khoa học ước tính rằng,
sát xuất một ngọn núi lửa Việt Nam hoạt động trở lại
gần như là bằng không trong hàng triệu năm tới.
Và hàng triệu năm tới Việt Nam thì không biết là cái gì.
Trừ khi mảng A-Âu đột nhiên nổi loạn,
điều khó xảy ra hơn cả việc
bạn chúng số độc đắc việt lót 2 lần liên tiếp.
Như vậy là Việt Nam may mắn tránh được
những động đất, sóng thần, núi lửa nhờ vị trí địa lĩ đặc biệt.
Nhưng khi nói đến những thảm họa thiên nhiên khác
như là bão, lũ lụt, sát lở đất hay là hạn hán
thì câu chuyện lại hoàn toàn khác.
Về bão, Việt Nam nằm ở phía tây bắc của Thái Bình Dương,
khu vực sinh ra khoảng 30% số cơn bão lớn trên toàn cầu.
Với đường bờ biển dài hơn 3.000 km
và vị trí tiếp sắp Biển Đông,
một nơi khổng lồ sinh ra bão,
Việt Nam gần như không thể tránh khỏi những cơn bão nhiệt đới.
Trung bình mỗi năm có khoảng 10-12 cơn bão hình thành ở Biển Đông,
trong đó có 4-6 cơn đổ bộ trực tiếp vào đất liền Việt Nam,
chủ yếu từ tháng 6-11.
Chưa kể đến những cơn bão hình thành ở khu vực Thái Bình Dương,
qua Philippines rồi lại đến Việt Nam.
Những cơn bão này không chỉ mang theo gió mạnh
mà còn gây ra mưa lớn, ngập lụt
và nước dâng cao do bão.
Gần nhất, bão Yagi thực sự rất kinh hoàng.
Việt Nam không may mắn về vị trí khi nằm ở đường đi của bão
nhưng có một điểm tích cực đó là kinh nghiệm ứng phó.
Sau hàng thế kỷ đối mật với bão từ thời Sơn Tinh – Thủy Tinh,
người Việt đã phát triển các hệ thống cảnh báo sớm,
đê điều và những kỹ năng sơ tán có thể nói là tương đối hiệu quả.
Tuy nhiên, với biến đổi khí hậu làm bão ngày càng mạnh và khó dự đoán,
thách thức vẫn là rất lớn.
Về lũ lụt, Việt Nam có hai đồng bằng lớn,
đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Kiểu Long,
đều là những vùng trũng nằm ở hạ lưu các hệ thống sông lớn
như Sông Hồng và Sông Mê Công.
Điều này khiến lũ lụt trở thành một người bạn đồng hành không mong muốn,
đặc biệt trong mùa mưa.
Miền Trung cũng là một điểm nóng của lũ lụt
bởi vì địa hình ở đây dốc từ rễ trường Sơn xuống biển,
kết hợp với mưa kéo dài.
Ví dụ năm 2020,
liên tiếp 5 cơn bão trong vòng một tháng
đã gây ra lũ lụt lịch sử ở Quảng Bình, Quảng Trị,
khiến hơn 130 người chết và thiệt hại 1,5 tỷ đồng.
Ở miền Nam,
đồng bằng sông Kiều Long đối mặt với lũ lụt theo mùa từ sông Mê Công,
nhưng biến đổi khí hậu và việc xây đập thượng nguồn ở Trung Quốc và Lào
đã thay đổi dòng chảy, gây ngập lụt bất thường hoặc hạn hán luân phiên.
Như vậy, nếu mà so sánh,
Việt Nam thực sự may mắn hơn nhiều quốc gia
về động đất và sóng thần.
Nhật Bản hứng chịu trung bình 1.500 trận động đất mỗi năm,
trong khi Việt Nam chỉ có 100-200 trận,
hầu như không đáng kể.
Indonesia mất hàng trăm nghìn người vì sóng thần,
còn Việt Nam thì gần như chưa ghi nhận thiệt hại lớn từ thảm họa này.
Nhưng với bão, lũ lụt, sạt lở và hạn hán,
Việt Nam lại nằm trong top 10 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nhất từ thiên tai,
theo chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu được công bố vào năm 2021.
Đến bây giờ, dù không còn nằm trong top 10 nữa,
thì nó là top 20 hay top 30
thì vẫn là những rủi ro rất lớn
về bão, lũ lụt, sạt lở và hạn hán.
Còn với động đất, sóng thần và núi lửa,
Việt Nam đang thực sự rất may mắn.
Cảm ơn vì đã quan tâm theo dõi câu chuyện này.
Nếu cảm thấy thú vị, bạn có thể nhấn nút đăng ký kênh,
bật chuông thông báo và chia sẻ.
Còn bây giờ thì xin thử nói lời chào tạm biệt.
Cảm ơn các bạn đã dành sự đồng hành
cùng Hải Thanh Story
đi qua những vùng đất,
khám phá những điều mới.
Đừng ngân ngại hãy để lại những góp ý
và xin được hẹn gặp lại.
