Sự Thật Ít Ai Biết Về Ngôi Nhà Xưa Của Nguyễn Trãi Ở Côn Sơn #hnp.mp4
Anh Đức
212 người theo dõi
28 thg 3, 2025
Nguyễn Trãi đã sống ở Côn Sơn bao nhiêu lâu? Vào những năm tháng nào?
Côn Sơn không chỉ là quê cha đất tổ của Nguyễn Trãi mà còn là nơi ông sống những năm tháng tuổi
thờ với ông ngoại, nơi ông sống những ngày sóng gió và những năm tháng cuối đời. Đối với Nguyễn Trãi,
Côn Sơn là gia Sơn, là cố hương, là cố lý, vô cùng thân thiết, gắn bó mó thịt với cuộc đời ông,
góp phần hôn đúc lên hồn thơ tràn chứa, tinh thần cốt cách, khí phách lớn lao của người anh hùng
và Côn Sơn luôn là người bạn tâm giao cho ông ký tác tâm hồn. Từ lâu nói đến Côn Sơn là mọi người
nghĩ ngay đến Nguyễn Trãi và ngược lại nói đến Nguyễn Trãi là nghĩ đến Côn Sơn. Thưa quý vị hiện tại Duy đang
ở nền nhà cũ của Nguyễn Trãi. Nơi đây hơn 500 năm về trước từ năm 1435 tới năm 1442, Nguyễn Trãi đã
về đây nương theo sửa núi lấy cái rừng đá núi dựng lên nếp nhà đơn sờ. Một trong những điểm du khách
thường ghé thăm khi tới với Côn Sơn là Thạch Bàn, trong dân gian gọi là hòn đá năm gian,
với diện tích 200m2, nằm cạnh suối Côn Sơn, ngay trước sân nền nhà Nguyễn Trãi. Thạch Bàn gắn
với tuổi thơ của Nguyễn Trãi khi về sống với ông ngoại là đại tư đồ Trần Nguyên Đáng tại Thành Hữu Động
ở Côn Sơn. Những ngày còn bé, ông từng nòng trên phiến đá lớn ấy để đọc sách ngâm thờ, Thạch Bàn
đã xuất hiện trong những câu thơ hay nhất ông viết về Côn Sơn. Côn Sơn có đá rưu phơi, ta ngồi trên đá
như ngồi chiếu êm trong bài Côn Sơn Ca. Thưa quý vị, ngay phía trước nền nhà cũ của Nguyễn Trãi là Thạch Bàn,
tương truyền rằng chính vị trí này, sự kìa, Nguyễn Trãi đã ngồi đây ngắm trăng thưởng nguyệt ngâm thơ
và cùng suy tư về thế sự. Bài thơ Côn Sơn Ca đã được đưa vào sách giáo khoa trong trường phổ thông,
nên khi đến khu di tích Côn Sơn, nhiều du khách nhớ đến những câu thơ này đã tìm thăm suối Côn Sơn
và hòn đá Thạch Bàn. Gần 600 năm trôi qua, Côn Sơn đã và vẫn lưu giữ những dấu tích,
những kỷ niệm về Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc vĩ đại, danh nhân văn hóa thế giới kiệt suốt.
Giờ đây, bên cạnh ngôi chùa Côn Sơn Nguy Nga Cổ Kính, rừng núi Côn Sơn lại tiếp nhận thêm một công trình
văn hóa mới, đó là Đền thờ Nguyễn Trãi. Đền thờ uy nghi hoành tráng, căng tố điểm thêm,
dạ dỡ thêm khu di tích lịch sử đặc biệt quan trọng của quốc gia này.
Duy Hà Nội Phố xin biến chào quý vị. Thưa quý vị, hiện tại Duy đang ở Đền thờ Nguyễn Trãi,
nằm trong quần thể Côn Sơn, một trong những quần thể di tích quốc gia đặc biệt.
Trước khi quý vị xem tiếp, quý vị nhớ ủng hộ kênh bằng cách nhấn like và chia sẻ video.
Đừng quên nhấn đăng ký kênh Youtube Hà Nội Phố để không bỏ lỡ những video mới nhất.
Quý vị hãy bình luận ở phía dưới để góp ý cho Duy những địa điểm,
những di tích lịch sử mà quý vị muốn Duy tới khám phá và trải nghiệm. Cảm ơn quý vị.
Quý vị muốn mua đặc sản trà sạch Thái Nguyên, xin lên lệ số 0989-260-877.
Sản phẩm trà sạch Thái Nguyên được phân phối chính thức bởi Hà Nội Phố, Nhận, Giao Hàng, Toàn quốc.
Côn Sơn tổn đất chí linh, một vùng đất tột cùng linh thiền, từng ghi dấu ấn lịch sử,
văn hóa của nhiều thời đại. Nhiều danh nhân lừng lẫy. Nơi đây, từ thế kỷ thứ 10,
định quốc công Nguyễn Bạc, thủy thượng tổ của Nguyễn Trãi, đã đóng quân diệt phạm phòng át,
giúp đinh tiên hoàng thống nhất đất nước. Chùa Côn Sơn là một trong ba trốn tổ của thiền phái
Trúc Lâm, thiền phái biểu hiện rõ nét ý thức độc lập tự chủ của dân tộc Đại Việt.
Trong số các danh nhân để lại dấu ấn ở Côn Sơn, trước Nguyễn Trãi có vua Trần Nhân Tông,
đệ nhất Trúc Lâm tổ, Trần Nghệ Tông, Trần Rợi Tông, nhà sư Pháp Loa, đệ nhị tổ,
nhà sư thí sĩ Huyền Quang, đệ tam tổ. Tứ hai trạng nguyên có quan tư đồ Trần Nguyên Đán,
Côn Sơn liên kê Kiếp Bạc và Đối Phượng Hoàng. Hai di tích lớn gắn liên với hai danh nhân vĩ đại
để lại tiếng thơm muôn thủa là hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và văn trình công Chùa Văn An.
Như vậy, Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là ở trên cái nền lịch sử văn hóa rất cao, rất vững,
là được tắm mình trong tinh thần từ bi, bác ái, nhưng trước hết vẫn vì quốc gia đại sự,
vì dân an quốc thịnh. Côn Sơn Nguyễn Trãi đã kết thành một cặp từ ghép không thể tách rời trong
tầm trí tất cả mọi người Việt Nam yêu nước. Gần 600 năm trôi qua, Côn Sơn đã và vẫn lưu giữ
những dấu tích, những kỷ niệm về Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc vĩ đại,
danh nhân văn hóa thế giới kiệt suốt. Yêu mến tự hào về Nguyễn Trãi, về Côn Sơn,
người Việt Nam cùng bạn bè quốc tế sẽ nối tiếp nhau về với Côn Sơn đến dân hương tại ước
trai Linh Tử, kính cẩn nghiêng mình trước anh Linh Người, ngọn núi mẹ đứng ở đầu nguồn,
quan nền văn hóa dân tộc. Đi trên con đường Mòn Văn Xuấy, luồn trong rừng cây,
sẽ thấy dưới mỗi lọng thông xanh, mỗi bóng trúc râm, trên mỗi hòn đá rưu phơi trong tiếng
suối di râm của Côn Sơn, hình bóng của ước trai tiên sinh ung dung, thành cào đang theo dõi và
bìm cười khích lệ các thế hệ con cháu tiến lên văn bình hiện đại.
Chúng ta càng hiểu rõ hơn giá trị lớn lao của từng thước đất thiên liêng của Côn Sơn,
chiến linh Hải Dương, càng phải ra sức tu bổ giữ gìn Côn Sơn trong một đời sau,
để con cháu mãi còn được về đây, được gặp lại những dấu tích ước trai,
được nghe vọng mãi tiếng thơ, người ca, bài ca Côn Sơn bất tử.
Ngày 14 tháng 12 năm 2000, sau một quá trình chuẩn bị, quá nhiều cuộc hội thảo được sự đóng góp
của nhiều nhà khoa học, nhiều chuyên gia đầu ngành, nhiều nghệ nhân trên nhiều lĩnh vực như xây dựng,
sư học, hội họa, kiến trúc, Hà Nội v.v. Cùng với quyết tâm cao của cán bộ và nhân dân tỉnh Hải Dương,
Đền thơ ước trai đã chính thức được khởi công xây dựng.
Sau gần 2 năm thi công, vào ngày 16 tháng 8 năm nhầm tuốt, tức ngày 22 tháng 9 năm 2002,
lễ khánh thành Đền thơ ước trai đã được tổ chức long trọng tại Côn Sơn.
Đền thơ ước trai tọa lạc trên một vị trí có thể nói là đắc địa dưới chân núi Ngũ Nhạc,
hướng chính là Nam, ghé đông 29 độ 10 phút. Miếng đường của đền nhìn thẳng ra Hồ Côn Sơn,
nơi có núi Phợ Hoàng và núi Hồ Phóng trầu vào. Thế của đền thơ Nguyễn Trãi là tựa vào xưng xững Tổ Sơn,
nhìn ra chập trùng An Lạc, Hiễu Bạch Hồ là Cổ Sơn Kiều Lân, Tạ Thang Long là Linh Sơn Ngũ Nhạc,
liên kê dòng suối Ngân Nga, bốn phía rừng Thống Bát Ngát.
Đền thơ Nguyễn Trãi được xây dựng trên địa thế đắc địa về phong thủy, hậu trầm thuộc Cung Càn tượng trưng cho giường,
tựa vào Tổ Sơn Ngũ Nhạc, tiền án thuộc Cung Chấn, là dãy núi An Lạc, Tạ Thang Long là Núi Ngũ Nhạc,
Hiễu Bạch Hồ là Núi Kiều Lân như Hai Tài Ngài. Bên phải đền là dòng suối Côn Sơn dốc dách,
mang dòng nước mát từ Tổ Sơn Ngũ Nhạc chảy ra Hồ Côn Sơn.
Minh đường của ức trai linh tử, nơi tụ linh, tụ thủy, tụ phúc. Trước minh đường có núi Phượng Hoàng,
núi Hồ Phóng, hình con rua đang đối trầu vào, tất cả tạo cho ức trai linh tử địa thế linh thiền,
người hội tụ sinh lực vũ trụ. Ngôi đền xây dựng trên diện tích 10.000m2 với 15 hạng mục công trình.
Sau khi tháp hương ở lưu hương đá và chiêm ngưỡng bức phủ điêu Ngư Long Gia Hội,
cùng đôi dòng đá nằm uy linh quận mình trên đường thuần đạo trước cửa đền.
Quý vị bước vào đền chính, rộng 200m2, kiến trúc theo kiểu trự công. Các bức cốn,
đầu dư đều chạm lộn, chạm bong, theo phong cách cổ truyền thời hậu lê. Tổng thể công trình được
xây dựng bằng những vật liệu quý hiếm, hơn 500m khối gỗ lim, hàng nghìn mét khối đá xanh thanh
hóa, hàng vạn viên gạch, ngói phục chế theo lối cổ. Hoành Phi, cầu đối trong đền do Viện
nghiên cứu Hà Nôm siêu tầm tuyệt chọn. Nội dung của Hoành Phi, cầu đối thể hiện tâm hồn,
nhân cách cao đẹp, tài năng và công đức lớn lao của Nguyễn Trãi, đồng thời thể hiện thái độ tồn
vinh, lòng biết ơn đối với Nguyễn Trãi. Gian tiền tế bài trí ban thờ công đồng ở chính giữa,
bên trái là ban thờ Xuân Thần, bên phải là ban thờ Thổ địa theo tín ngưỡng cổ truyền. Trung thư có đặt
ban lễ trình hậu cung bài trí tượng thờ Trần Dung Nguyễn Trãi bằng đồng cùng bài vị Xuân Thần
Phụ Mẫu. Nguyễn Trãi đã sống ở Côn Sơn bao nhiêu lâu? Vào những năm tháng nào? Chúng ta chưa biết đầy đủ.
Theo tiêu liệu hiện nay, chắc chắn Nguyễn Trãi đã có thời gian 5 năm tuổi thơ theo ông
ngoại về sống ở Côn Sơn. Nguyễn Trãi, hiệu là Ước Trai,
sinh năm 1380 tại Kinh Thành, Thang Long. Cha là Nguyễn Phi Khanh, nguyên quán ở làng Chi Ngại,
nay thuộc xã Cộng Hòa, thành phố Trí Linh, sau rời đến làng Ngọc Ổi, tức Nhị Khê, nay thuộc huyện Thường
Tín, thành phố Hà Nội. Mẹ là Trần Thị Thái, con gái quan tư đồ Trần Nguyên Đán.
Nguyễn Trãi có cha là Nguyễn Ứng Long, sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh, một học trò nghèo học
giỏi, đỗ thái học sinh, thùa trẻ. Cha ông, nhà nghèo, phải đến nhà quan tư đồ Trần Nguyên Đán dạy
học, rồi được cô học trò Trần Thị Thái, con gái đầu của quan tư đồ đem lòng yêu thương. Dù mang
thân phận nghèo hèn, nhưng Nguyễn Phi Khanh vẫn được Trần Nguyên Đán gã con gái trò.
Nguyễn Trãi là con đầu lòng của Nguyễn Ứng Long và cô Trần Thị Thái.
Nguyễn Trãi sinh ra và sống thời tơ ấu ở Thoàng Long trong dinh quan tư đồ.
Nguyễn Phi Khanh dù đỗ thái học sinh, tương đương với chức tiến sĩ vào năm 1374,
nhưng vì suốt thân nghèo hèn mà tự tiện lấy con nhà quý tộc, vi phạm quy định của nhà Trần,
nên chỉ được giao một chức con nhỏ. Ông đành trở về làng Nhị Khê mở trường dạy học.
Năm 1385, Trần Nguyên Đán về hưu tại Côn Sơn nên đem cả mẹ con Nguyễn Trãi về theo.
Sau đó ít lâu, mẹ mất, ông ngoại cũng mất. Ông trở về sống với bố.
Vào năm 1400, sau khi lật đổ nhà Trần lập nên nhà hồ, Hồ Quý Ly mở hòa thì,
Nguyễn Trãi già thì và đỗ thái học sinh, tương đương với chức tiến sĩ, lúc đó ông 20 tuổi.
Hồ Quý Ly cử ông giữ chức ngự sử đài tránh trưởng,
còn cha ông lúc này đã đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh, giữ chức đại lý tự khành thị làng,
tòa trung thư kiêm hàn lâm viện sĩ từ nghiệp quốc tử Giám.
Năm 1406, quân minh xâm lược Đại Việt, nhà hồ đem quân ra chống cự, nhưng bị đánh bại.
Cha con Hồ Quý Ly và một số triều thân trong đó có Nguyễn Phi Khanh bị bắt đưa về Trung Quốc.
Nguyễn Trãi nghe tin đã cùng em là Nguyễn Phi Hùng khóc theo lên tận ải Nam Quang,
nhưng được cha khuyên trở về tìm đường cứu nước.
Thời giọng minh xâm lược, theo lời cha dặn, ông mang nặng nợ nước, thù nhà, nuôi chí,
phục quốc, dù bị giam lỏng 10 năm dòng ở thành Đông Quang vẫn soạn bình ngô sách,
lung đấu chí, giết giặc. Năm 1416, Nguyễn Trãi vào Thanh Hóa tìm gặp Lê Lợi,
được thu nhận tham gia nghĩa quân làm sờn và có tên trong danh sách 18 người dự hội thể lũ ngài
vào năm 1416. Sau đó, ông dân bình ngô sách, tức sách lược dẹp giặc ngô,
giúp Lê Lợi củng cố và phát triển nghĩa quân dần lớn mạnh. Lúc này, ông được giao nhiệm vụ
phức tạp là nhân danh Lê Lợi, viết thư gửi bọn chỉ huy giặc mình và viết thư phủ dụ các tướng sĩ.
Địch thần Nguyễn Trãi cũng đến tận các thành dụ hàng được nhiều tướng sĩ coi thành. Những bức thư đó
được tập hợp trong quân trung tử mệnh tập. Cuối năm 1426, nghĩa quân làm sờn bắt đầu
vây đánh thành Đông Quan, ông được phong chức thượng thư bộ lại kiêm hành khu mật việc sự,
được ngồi cùng bàn quân vụ với Lê Lợi. Nguyễn Trãi cũng đã góp công lớn trong chiến thắng chiến dịch
Tri Lăng, Xương Giang, đánh tan 15 vạn quân chi viện cho Liễu Thẳng và Mộc Thành,
triều huy vào cuối năm 1427. Mở ra thời kỳ độc lộc mới của dân tộc,
năm 1428, thay mặt Lê Lợi viết đại cáo Bình Ngô, bản tuyên ngôn thứ hai của Việt Nam.
Sau khi Lê Lợi lên ngồi vua, luận công ba thưởng, Nguyễn Trãi được ban họ vua và phong tước quan
phục hầu. Về quan chức, ông vẫn giữ chức nhập nội hành khiển kiêm lại bộ tượng thư quản công
việc ở viện khu mật như trước. Ngoài ra, quan trị trách nhiệm thay vua viết chiếu, chế ban bố trong
quần thần và dân chúng, cũng như viết thư, biểu, giao thiệp với nhà mình. Những sáng tác này về
sau tập hợp trong Ngọc Đường Di Phạm. Lê Lợi sau khi lên ngồi thì tỏ ra nghi kỳ. Những người có công lớn,
năm 1429, đã cho giết Trần Nguyên Hán và Phạm Văn Xảo. Nguyễn Trãi cũng bị bắt vào ngục một thời
gian rồi được thả vào năm 1430, nhưng không còn được trọng dụng như trước. Sau khi Lê Lợi mất vào năm 1433,
Nguyễn Trãi được giao địa vị phụ chính, truyền dạy rỗ nhà vua, nhưng vì vua còn quá nhỏ nên
cũng không giải quyết được nhiều ý tưởng của ông. Thời gian này, Nguyễn Trãi xây dựng các bộ sách làm
quân mẫu cho hình luật, âm nhạc, lễ nghị, v.v. Tuy nhiên, tình hình ngay càng phức tạp. Các phe phái
đấu đá, tranh giành quyền lực quyết liệt, biết không thể làm gì hơn. Nguyễn Trãi xin về trí sĩ ở
Côn Sơn và để lại hai tập thơ, ức trai thi tập và quốc âm thi tập. Vào năm 1439, Lê Thái Tông,
lúc này đã khôn lớn, muốn củng cố lại triều đình đã vời Nguyễn Trãi ra nhận chức trở lại.
Tháng 3 năm nhầm tuốt từ năm 1442, Nguyễn Trãi tham gia khảo duyệt khoa thi tiến sĩ ở Thàng Long.
Tháng 7 cùng năm, Thái Tông đi duyệt binh ở Chiến Linh đã ghé thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn,
trên đường về Kinh cùng với Nguyễn Thiệu Lộ, vợ lẽ Nguyễn Trãi, lúc đó đang làm lễ nghi
nữ học sĩ trong triều. Đến lễ trì viên, nhà vua bị cảm đột ngột qua đời, sau đó cả gia đình
ông bị khép tội giết vua và chu di tam tộc. Toàn bộ di sản của Nguyễn Trãi bị tịch thu và tiêu hủy,
chỉ có một người vợ lẽ của ông là bà Phạm Thị Mẫn, lúc đó đang mang thai trốn thoát,
sinh ra Nguyễn Anh Võ. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông hạ chiếu minh oan cho ông,
truy tặng ông chức đặc tiến kiên tử Vinh Lộc Đại Phù, tước tán trù bá và cho Nguyễn Anh Võ là
quàn tri huyện. Năm 1467, Thánh Tông sai trần khắc kiệm, siêu tầm và phục dựng lại di cạo
văn thờ Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà chính trị, nhà quân sự, nhà ngoại giao tiên
tài mà còn là một nhà văn hóa lớn, trí tuệ tuyên bác, nhân cách cao thượng, một nhà trước tác
lừng danh của dân tộc, để lại cho đời nhiều tác phẩm lớn có giá trị bất hữu. Nguyễn Trãi là một
con người toàn tài hiếm có của dân tộc Việt Nam, cuộc đời và sự nghiệp của ông là bài khả yêu nước,
yêu dân, mãi mãi tỏa sáng văng vặc như sao khuê trên bầu trời, xứng đáng với lòng khâm phục,
kính yêu và tự hào của nhân dân. Thưa quý vị, hiện tại Duy đang ở nền nhà cũ của Nguyễn Trãi.
Khi tới đây, quý vị có thể nghe thấy tiếng suối dì giảm, bên tai, khu cảnh rất nền thờ, yên tĩnh.
Phía sau công trình nền thờ Trần Nguyên Đán 200m là dấu tích nền nhà cũ của anh hùng dân tộc
rành nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Nơi đây hơn 500 năm về trước, từ 5.435 tới 5.442,
Nguyễn Trãi đã về đây nương theo sửa núi, lấy cái rừng đá núi dựng lên nếp nhà đơn sờ,
một ngôi nhà mới của Nguyễn Trãi. Nguyễn Bộng Tuần, một người bạn đương thời của ông đã viết,
Nhất điều thủy lãnh chi tam quán, tứ bích ra bần phú lục kinh, nghĩa là nhà quả quăng chi tam lãnh lẽo
như một dòng suối, bốn vách xác sơ chỉ có sách là dầu. Ở đây, ông vui với cảnh thiên nhiên,
rừng núi côn sơn và sáng tác bài côn sơn cá bất hủ. Hiện nay, dấu tích ngôi nhà xưa chỉ còn lại
nền nhà bằng phẳng, dài 17m, rộng 7m nằm trên cạnh thạch bàn. Dì tích này
được phát hiện từ năm 1979. Năm 2000, Bảo tàng Hải Dương tiến hành thám xát khảo cổ dì tích 3m
vuông sâu 0,7m theo hướng đông Tây, kết quả tìm được một số mảnh ngói thời trần lê và nhiều cục than cháy.
Năm 2005, bang quản lý dì tích côn sơn kiếp bạc đã tôn tạo khu vực nền nhà Nguyễn Trãi kè đá
xung quanh và xây dựng một nhà bia ghi dấu ấn dì tích nền nhà cũ của Nguyễn Trãi.
Thưa quý vị, ngay phía trước nền nhà cũ của Nguyễn Trãi là thạch bàn hay chiếc bàn nằm dàn bằng đá.
Tuyên truyền rằng chính vị trí này sự kìa Nguyễn Trãi đã ngồi đây ngắm trăng thưởng nguyệt ngâm thơ
và cùng suy tư về thế sự. Một trong những điểm du khách thường ghé thăm khi tới với côn sơn là thạch bàn
Trong dân gian gọi là hòn đá nằm dàn với diện tích 200m2 nằm cạnh suối Côn Sơn ngay trước
sân nền nhà Nguyễn Trãi. Thạch bàn gắn với tuổi thơ của Nguyễn Trãi khi về sống với ông ngoại là
đại tư đồ Trần Nguyên Đán tại thành Hữu Động ở Côn Sơn. Những ngày còn bé, ông từng nòng trên
phiến đá lớn ấy để đọc sách ngâm thơ, thạch bàn đã xuất hiện trong những câu thơ hay nhất ông viết về
Côn Sơn. Côn Sơn có đá dư phơi, ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm trong bài Côn Sơn Ca. Bài thơ Côn
Sơn Ca đã được đưa vào sách giáo khoa trong trường phổ thông nên khi đến khu di tích Côn Sơn nhiều du khách
nhớ đến những câu thơ này đã tìm thăm suối Côn Sơn và hòn đá thạch bàn. Trong những năm tháng đánh
giặc cúng lê lợi, rất nhiều lần Nguyễn Trãi mong muốn khi có điều kiện sẽ về Côn Sơn uống nước chè
và pha với nước suối Côn Sơn, nằm nghỉ trên thạch bàn tận hưởng cảnh thanh nhàn. Trong bài thơ Loạn Hậu
Đáo Côn Sơn Cảm Tác, tức Sau loạn về Côn Sơn, Nguyễn Trãi có nhắc tới ước mơ của cuộc đời ông là
bao giờ dưới đuối mây về ở nước suối chè tươi ngủ thạch bàn. Hình ảnh thạch bàn không chỉ là một
phần phong cảnh của Côn Sơn mà trở thành một biểu tượng về sự thanh bình là ước mơ của Nguyễn Trãi
trong những năm tháng chiến trinh. Có lẽ trong tâm thức ông khi ông được về ngủ trên thạch bàn là khi
đất nước đã yên ổn, không còn giọt ngoại sầm. Ước mơ về thạch bàn là ước mơ chung cho toàn dân tộc chứ
không còn là ước mơ riêng về cạnh thanh nhàn của bản thân ông. Sau thời Nguyễn Trãi, có nhiều thư tịch
cổ cũng nhắc đến thạch bàn, một di tích cổ rất đẹp của Côn Sơn như sách Lịch Triều Hiến
Trương Loại Trí của Phan Huy Chú thế kỷ thứ 19 có ghi hay Chiến linh phong vật trí v.v. Ban quản lý di tích
Côn Sơn kiếp bạc bã cho xây dựng một khu vực quê bảo vệ thạch bàn trên con tấm bia,
khác một đoạn trong bài thơ Côn Sơn ca. Nhờ có thạch bàn mà các nhà khoa học mới xác định
được vị trí nền nhà Nguyễn Trãi vì trong thờ văn Nguyễn Trãi có viết về việc ông về Côn Sơn
dựng một ngôi nhà cạnh suối Côn Sơn nhìn ra thạch bàn để dạy học trò.
Năm 1979, Bảo tàng Hải Hưng, nay là Bảo tàng tỉnh Hải Dương, khai cuộc tại vị trí cạnh thạch bàn
lớn, phát hiện dấu tích ngôi nhà xưa của Nguyễn Trãi với một cấp nền kiến trúc có diện tích dài 17m,
rộng 7m và nhiều hiện vật niên đại thế kỷ thứ 15. Năm 2005, ban quản lý di tích Côn Sơn kiếp bạc
đã tôn tạo khu vực này, kẻ đá xung quanh và xây dựng một nhà bia ghi dấu ấn di tích nền nhà Nguyễn Trãi
nằm cạnh thạch bàn lớn. Rộng theo dòng suối Côn Sơn dài 3 km, có nhiều phiến đá khác,
cách thạch bàn lớn khoảng 70m, có một phiến đá nữa gọi là thạch bàn nhỏ,
cũng có ý nghĩa đặc biệt vì là nơi lưu giấu một vị danh nhân, anh hùng dân tộc.
Vào ngày 15 tháng 2 năm 1965, khi bác Hồ về thăm Côn Sơn, sau khi thắp hương trong chùa Côn Sơn,
buổi chiều bác lên suối Côn Sơn ngồi nghỉ tại thạch bàn nhỏ. Tại đây, bác đã gặp đoàn học sinh
trường cấp 2 Văn Đức đi cắm trại. Bác nói chuyện với cán bộ, học sinh và các dặn phải giữ gìn bảo vệ
tốt di tích lịch sử, trồng nhiều cây để Côn Sơn trở thành trốn tùng lâm đẹp đẽ hơn 50 năm trôi qua.
Thực hiện lời dặn của bác, khu di tích Côn Sơn được giữ gìn bảo vệ và tôn tạo ngày càng đẹp đẽ,
tươi sành. Hai thạch bàn là điểm nối giữa khu vực chân núi Côn Sơn và chân núi Ngũ Nhạc,
từ đó có thể đi lên bàn cờ tiền hoặc ngũ nhạc linh tử. Đó là những chứng tích lịch sử góp phần
làm lên ý nghĩa đặc biệt cho khu di tích Côn Sơn. Thưa quý vị, trong cuộc đời vĩ đại của mình,
Nguyễn Trãi đã đi qua nhiều nẻo đường, đã sống ở nhiều nơi nhưng còn lẽ không đâu gắn bó lâu dài
mật thiết và ảnh hưởng sâu sắc đối với Nguyễn Trãi như là Côn Sơn. Côn Sơn, cối hương của Nguyễn Trãi.
Thằng Lòng là nơi Nguyễn Trãi sinh ra, sống 5 năm đầu đời và những năm làm quan tại Triều. Nhị Khề cũng
là cối hương của dòng họ Nguyễn Trãi mà theo dương bà Cung, cụ Nguyễn Phi Khành là vị tổ đầu họ Nguyễn này.
Hiện này, mọi người đều biết Tri Ngại là quê gốc của Nguyễn Trãi. Nhưng về Côn Sơn thì
không ít người chỉ hiểu đó là nơi trần nguyên đán về hưu trí. Nguyễn Trãi thùa nhỏ ở với ông ngoại,
sau này Nguyễn Trãi về Côn Sơn cũng là về trốn cũ của ông ngoại. Do đến thực địa, thấy Côn Sơn hiện
không thuộc địa phận thôn Tri Ngại nên ngay một số nhà nghiên cứu về Nguyễn Trãi cũng cho rằng Côn Sơn
ở gần Tri Ngại, quê gốc của Nguyễn Trãi. Côn Sơn cách thôn Tri Ngại, cối hương cũ của dòng họ
Nguyễn Trãi chừng 4km, rằng với Côn Sơn Nguyễn Trãi coi là quê nhà. Đúng là Côn Sơn cách thôn Tri Ngại
hiện nay gần 4km, nhưng ngày xưa Côn Sơn thuộc địa phận Tri Ngại, nghĩa là Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là ở
làng quê mình. Phần chú thích bài, loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác trong ước trai thi tập của dương bà Cung,
văn bi hiện còn ở chùa Côn Sơn, sách Lịch triều hiến trương loại trí của Phan Huy Chú và hầu hết các sách
xưa nói về Côn Sơn đều viết Côn Sơn tại Tri Ngại xã. Chữ xã trong hát tự có 3 nghĩa đó là chỗ tế thần đất,
nghĩa nữa là làng, nghĩa thứ 3 là đoàn thể nhiều người hợp thành. Chữ xã trong Tri Ngại xã nghĩa là làng,
như vậy Côn Sơn ở làng Tri Ngại chứ không phải ở gần Tri Ngại. Nguyễn Trãi về Côn Sơn chính
là về làng cũ chứ không phải về với nơi ông coi là làng cũ Cố Lý. Trường hợp này cũng gần giống như
trường hợp Phố Kỳ Lừa. Nhiều người cho rằng câu ca giao Đồng Đăng có Phố Kỳ Lừa là sai vì thấy Phố
Kỳ Lừa hiện thời nằm trong địa phận thị xã làng Sơn, không hay rằng ngày xưa thuộc địa phận Châu Đồng Đăng.
Những từ ra Sơn, Cố Sơn, Cố Lý, Cố Hương, Hương Lý mà Nguyễn Trãi thường dùng để nói về Côn Sơn. Tri Ngại
là chính xác vì không chỉ có đúng cảm nhận của Nguyễn Trãi về Côn Sơn mà còn gọi đúng bản chất sự vật.
Côn Sơn là Cố Hương của ông. Nơi ấy có mồm mạ Tổ Tiên mà khi đi xa Nguyễn Trãi thường dây dứt vì không thể đem
huyết lệ tẩy tiên uynh. Thiền lý phần oanh vi bái tạo, tức xa nhà nghỉ rạm, không san sóc được phần mộ Tổ Tiên.
Chẳng phải ngẫu nhiên Nguyễn Trãi viết rất nhiều thơ về Côn Sơn và bài nào cũng thấm được tình gia đình,
tình quê hương sâu nặng. Sau 10 năm phiêu giạt vì loạn lạc, ngồi trong thuyền trở về Côn Sơn,
Nguyễn Trãi đã tràn trọc đến sáng với biết ba nỗi điểm. Ông bồi hồi nhớ lại những năm dài xa cách
Côn Sơn mà lòng chẳng lúc nào không đau đáu nhớ thương. Thập niên phiêu truyền thán bồng bình,
quy tứ giao giao nhật tự tinh, kỷ thác mộng hồn tầm cố lý, không tương huyết kệ tẩy tiên uynh.
Trích bài Quy Côn Sơn Chu Trung Tát trong Thuyền về Côn Sơn Cảng Tát. Dịch nghĩa là
10 năm phiêu giạt, thàn thần nay đây mai đó như cỏ bồng cánh bèo, lòng mong ước về quê ngay
ngay bị lay động như cờ trước gió, mấy lần nhớ rớt chiếm bao mà tìm về làng cũ,
luống đem nước mắt lẫn máu mà rửa mộ tổ tiền. Từ tháng 11 năm 1437, sau vụ Nguyễn Liễu bị tội do
và một thuẫn giữa Nguyễn Trãi, Nguyễn Liễu đào công soạn với bọn Hoạn Quang, Lương Đăng, Đình Thắng,
Đình Phúc v.v. Nguyễn Trãi xin về Côn Sơn hiểu trí. Đến năm 1439, mặc dù được Lê Thái Tông tin tưởng
cho phục chức, Nguyễn Trãi vẫn xin được ở lại, làm việc tại Côn Sơn cho đến cuối đời vào năm 1442.
Khác với ý kiến cho rằng về sau, tức là sau năm 1390, người như Nguyễn Trãi ít có dịp trở lại
Côn Sơn. Lại nhận thấy, ngoài hai quãng thời gian, tổng cộng khoảng 10 năm, Nguyễn Trãi sống ở Côn Sơn
đã nói trên, trong cuộc đời 62 tuổi của mình, Nguyễn Trãi còn nhiều phen trở lại Côn Sơn, chỉ ít cũng có
thêm hai lần ông về sống ở Côn Sơn như trình bày sau đây. Thứ nhất, sau khi nhà hồ mất, thoát khỏi
vòng kiềm tòa của giặc, Nguyễn Trãi đã về sống ở Côn Sơn. Trước đây, căn cứ vào câu,
bị người Minh giữ lại trong thành của Trần Khắc Kiệm, viết trong lời tựa Ước trai thi tập vào năm 1480.
Và theo một số tài liệu khác, nhiều người tin rằng Nguyễn Trãi bị giam lỏng 10 năm ở thành Đông Quàng,
là tên khác của Thàng Long Hà Nội. Nhưng gần đây, khi thẩm tra, phân tích lại các tài liệu,
nhiều học giả đã nhận thấy không phải như thế. Thực ra, Nguyễn Trãi chỉ bị quân Minh bắt lưu trú tại
thành Đông Quàng thời gian ngắn, sau đó đã lánh về Côn Sơn, tuy còn đi lại nhiều nơi để tìm đường
cứu nước, cứu dân, nhưng chủ yếu là ở Côn Sơn. Nhà bác học Lê Quý Đôn trong toàn việc thi lục,
tại tờ 7Q7, nói rằng nhà hồ mất, ông về ở ẩn, không ra làm quan. Phạm Đình Hổ trong Tàng Thương Ngẫu
Lục nói rõ hơn, nhà hồ mất, ông tránh loạn ở Côn Sơn. Căn cứ thứ ba, mà là căn cứ chủ yếu và sắc
thực nhất về việc này là bài thơ Tự Thán số 37 của chính ông. Bài thơ cho biết rõ Nguyễn Trãi đã
có thời gian lánh nạn ở Côn Sơn. Nẻo tư nước có đao binh, nấn ná am quê cảnh cực thanh,
đình thấu ngọc tiên xanh tuyết nhũ, song mai hoa điểm quyển hy kinh. Có ba cuộc đao binh thời
kỳ đó. Cuộc thứ nhất là nhà hồ thoán đoạt và giết hại dòng tộc nhà Trần. Thứ hai là giặc
Minh diệt nhà hồ, cơm nước ta. Thứ ba là cuộc kháng chiến 10 năm. Cuộc đao binh thứ nhất xảy ra
năm 1.400. Liền sau đó, hai cha con Nguyễn Trãi ra làm quan cho nhà hồ, không đấn ná am quê. Cuộc
kháng chiến do Lê Lợi lãnh đạo, Nguyễn Trãi đã vào tận Thanh Hóa để trực tiếp tham gia. Như thế,
cuộc đao binh Nguyễn Trãi nói trong bài thơ chỉ có thể là cuộc xâm lược của nhà Minh. Rõ ràng là sau
khi giặc Minh xâm chiếm nước ta, Nguyễn Trãi đã trở về ở tại Côn Sơn. Chính Côn Sơn là nơi
ông đã nung nấu ý chí giết giặc và suy nghĩ về kế sách bình ngộ. Nhiều tài liệu cũng nói rằng khoảng
từ 5.429 tới 5.433, sau khi bị hạ gục rồi được tha nhưng không được Lê Lợi trọng dụng nữa,
Nguyễn Trãi trở về ở ẩn tại Côn Sơn. Trong chủ thích bài Mạng thuật số 11, Nguyễn Trãi toàn tập
Tân Biển trang 709 tập 3 có ghi rõ sau vụ trần nguyên hãn, người anh em họ của Nguyễn Trãi bị kết án
và tự xác vì bị tố có mưu phản vào năm 1429. Nguyễn Trãi bị liên lụy và bị hạ gục,
sau đó được tha. Về Côn Sơn từ năm 1429 tới năm 1433, hội đồng biên tập sách cho rằng bài thơ được
viết vào năm 1433, trong đó có những câu cho thấy trong khoảng gần 5 năm mấy tác giả bài thơ
tức Nguyễn Trãi đã về nói ở Côn Sơn. Nói về quê cũ bấy như xuân, vườn còn thông trúc đáng nằm mẫu
cầu ước công danh đội một cần. Đặc biệt trong bài tự thán số 5, nhà thơ cho hay khi ông tuổi đã 50 đầu đá bạc
nằm Nguyễn Trãi 50 tuổi là năm 1429, ông phải lụy vì danh đã hổ thay nên đã về với núi rừng Côn Sơn.
Đám cúc thông quen về bầu bạn, cửa quyền quý ngại lượm chân tay. Trong bài thuật hứng số 2 năm
có những câu thơ nói rõ ông đã trở về Côn Sơn vui với thú Sơn Lâm và có ý thanh minh rằng dầu
người ta có buộc tội vụ an chẳng nữa thì lòng ông vẫn trong sạch chẳng dính buồn.
Lánh trần nấu thú Sơn Lâm, lá thông đàn tiếng trúc cầm, thế sự dầu ai hay buộc bện,
xe nào có bén trong lầm. Như vậy, Nguyễn Trãi đã sống gắn bó máu thịt với Côn Sơn nhiều năm,
nhiều lần, trong các lứa tuổi, các giai đoạn quan trọng của đời mình và trong những cảnh ngộ,
những tâm trạng rất khác nhau, cả khi vui, khi buồn, lúc thất thế cũng như lúc đắc ý.
Sơn Trung Chú ở trong núi rừng Côn Sơn dựng nhà bên hoa đọc sách trà, làm nhà dưới núi mây phủ,
múc nước suối pha trà và hối đầu lên đá mà ngủ, đã trở thành sự thích, thành cái thú Sơn Lâm,
thành thói quen, thậm chí thành tật cũ không thể bỏ, không thể chữa của Nguyễn Trãi như chính ông tự bầu bạch.
Nguyễn Trãi không chỉ là nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà quân sự, nhà ngoại giao thiên tài mà còn
là nhà văn vĩ đại, trí tuệ uyên bác, nhân cách cao thượng, người là kết tinh tài năng, khí phách và
truyền thống đạo lý tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam, là vị anh hùng có công hàng đầu trong
sự nghiệp bình ngô, khai quốc mở nên bình trị, đồng thời là bậc danh nhân đi tiên phong trong sự
nghiệp chấn hương văn hóa dân tộc. Vậy nên, ngàn năm ghi tạc, vạn đại lưu danh, dân tộc nhớ ơn,
người dân ngưỡng mộ, mấy trăm năm qua, từ các đấng quân vương như vua Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông,
các danh sĩ thời phong kiến như Lê Quỳ Đồn, Phan Hủy Chú… Đến các vị lãnh đạo của Đảng và
nhà nước ta thời nay đều tôn kính sự nghiệp, công đức của Nguyễn Trãi. Vào năm 1980, kỷ niệm 600
năm ngày sinh của tiên sinh, tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hợp Quốc, UNESCO,
đã công nhận Nguyễn Trãi là danh nhân văn hóa thế giới. Cả cuộc đời kinh bang tế thế khắp thiền hạng,
Nguyễn Trãi vẫn không nguôi nhớ về Côn Sơn, gắn bó với Côn Sơn. Ông qua đây là hương Lý,
cổ Lý, tức làng cũ. Với phong cảnh thiên nhiên thanh tĩnh, tươi đẹp, với rừng thông,
gió gieo, mấy ngàn gió núi đầy hương sắc, cùng chốn thiền môn siêu thoát thấm đẫm tư tưởng tử
bi của đạo vật, nhân nghĩa của đạo nhò, cân kiệm liêm chính của đạo giáo, Côn Sơn đã góp phần
tạo nên cốt cách thành cao, lòng nhân nghĩa, trí thông tuệ kiệt suốt của Nguyễn Trãi.
Hàng năm, tại Côn Sơn có hai kỳ lễ hội truyền thống. Lễ hội mùa xuân tưởng niệm Ngày Viên
tịch của Đệ Tam Tổ Thiền Phái Phật Giáo Trúc Lâm Huyền Quang Tôn Giả diễn ra từ ngày 16 đến ngày
23 tháng Giềng. Lễ hội mùa thu tưởng niệm Ngày mất của anh hùng dân tộc, giành nhân văn hóa
thế giới Nguyễn Trãi diễn ra từ ngày 16 đến 20 tháng 8 âm lịch.
Chiều sâu lịch sử về bề dây văn hóa của Côn Sơn, cảnh sắc tuyệt đẹp và rất tương hợp,
đồng điệu với tâm hồn người nghệ sĩ, vĩ đại, đã khiến cho mỗi ngọn cỏ nhành cây khe suối.
Cụa Côn Sơn đều như có linh hồn, lay động mạnh mẽ, trái tim đa cảm, nuôi dưỡng hồn thơ phong phú,
tinh tế, râu cảm xúc, nhiều cung bậc trở thành nguồn thơ không cạn, nguồn cảm hứng rạt rào của ước trải.
Có thể nói, Côn Sơn đã góp phần cực kỳ quan trọng đối với việc hôn đúc lên trí khí, tài năng,
nhân cách và hồn thơ nguyện trãi. Người là một kết tinh của năm thế kỷ dân tộc độc lập tự chủ,
kể từ khúc thờ dụ khởi nghiệp, rồi ngô quyền xây đắp vững nền là kết tụ của huyết mạch giống nòi
và khí thiêng núi sông Đại Biệt. Trong đó có phần rất đặc biệt của Côn Sơn trốn lâm tuyền, thầm ưu,
hữu tình, cõi Phật thổ trúc lâm linh thiền, đất văn hiến và lịch sử ngàn đời dạng dỡ.
Cảm ơn quý vị đã chú ý theo dõi. Quý vị nhớ nhấn like và chia sẻ video để nhiều
người biết tới địa điểm duy thích lịch sử quan trọng này. Đừng quên nhấn ấn ký kênh youtube
Hà Nội Phố để không bỏ lỡ những video mới nhất. Quý vị hãy bình luận ở phía dưới để góp ý
cho duy những địa điểm, những duy thích lịch sử mà quý vị muốn duy tới, khám phá và trải nghiệm.
Cảm ơn quý vị. Quý vị muốn mua đặc sản trà sạch Thái Nguyên, xin lên lệ số 0989-260-877.
Sản phẩm trà sạch Thái Nguyên được phân phối chính thức bởi Hà Nội Phố, nhận, giao hàng Toàn Quốc.
