#tgdv#thegioidongvat#NaUyHoangDa Thiên nhiên hoang dã Na Uy mang vẻ đẹp hùng vĩ và nguyên sơ, với những vịnh hẹp (fjord) tuyệt đẹp như Geirangerfjord và Nærøyfjord, nơi có những vách đá dựng đứng và thác nước trắng xóa. Các khu rừng taiga là nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã như gấu nâu, nai sừng tấm và cáo Bắc Cực. Đặc biệt, quần đảo Svalbard là vùng đất của gấu Bắc Cực và những sông băng khổng lồ. Bên cạnh đó, Na Uy còn nổi tiếng với hiện tượng cực quang huyền ảo vào mùa đông và mặt trời lúc nửa đêm vào mùa hè. Với những cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ và hoạt động ngoài trời phong phú, Na Uy là điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích khám phá thế giới hoang dã.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Những thông tin có trong video được chúng tôi tổng hợp từ các trang báo, tạp chí uy tín ở Việt Nam và trên thế giới. Chúng tôi sở hữu quyền thương mại của hầu hết tài liệu hình ảnh trong video. Một số tư liệu khác được sử dụng trong video thuộc về các chủ sở hữu đáng kính trọng. Mọi vấn đề liên quan đến bản quyền, vui lòng liên hệ với chúng tôi: [email protected] --------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Sources: This video did not mean to harm anyone or any companies, is made under the intentions of fair use of educational purposes to only teach the viewer. --------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Copyright Disclaimer! Title 17, US Code (Sections 107-118 of the copyright law, Act 1976): All media in this video is used for purpose of review & commentary under terms of fair use. All footage, & images used belong to their respective companies. Fair use is a use permitted by copyright statute that might otherwise be infringing. ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Thế Giới Hoang Dã, thế giới động vật mới nhất, thế giới động vật thuyết minh ,the gioi dong vat moi nhat, khám phá thế giới, kham pha the gioi, thế giới động vật, thế giới động vật mới nhất, thế giới động vật 2025, the gioi dong vat, thế giới hoang dã, vũ trụ động vật, loài động vật,đông vật hoang dã, dong vat hoang dã, động vật săn mồi, ,vtv2 the gioi dong vat
00:00 Trailer Video 01:03 Giới thiệu đất nước Nauy 03:21 Tuần lộc Nauy 05:30 Cừu Nauy 07:51 Vẻ đẹp rực rỡ của mùa hè Nauy 11:40 Cá hồi và Gấu nâu Nauy 17:00 Chim nhạn bắc cực 17:43 Cách vịnh hẹp và thác nước Nauy 18:23 Chim Puffin Đại Tây Dương 20:31 Cánh rừng phương bắc Nauy và gà gô đen 23:03 Bò xạ hương Nauy 24:45 Chim lặn mào lớn và thiên nga lớn Nauy 28:35 Chuồn chuồn Demoiselles 29:14 Nai sừng tấm 30:31 Hươu đỏ NNauy 33:30 Hạc xám Nauy 34:40 Đường bờ biển Nauy và Hải cẩu cảng biển. 36:42 Các loài chim biển Nauy 39:38 Mùa đông về trên đất nước Nauy 40:37 Kết thúc.
Comments are disabled for this video.
Naui, vùng đất của sự sống. Naui, một quốc gia Bắc Âu với vẻ đẹp tự nhiên hùng vĩ, được hình thành bởi những dòng sông băng khổng lộ trong thời kỳ băng hàng.
Trải qua hàng nghìn năm, dù băng có tàn chảy hay tiếp tục tích tổ, nước vẫn không ngừng kiến tạo và tái định hình cảnh quang đây đây.
Sự thay đổi ấy không chỉ tác động đến địa hình mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của mọi cư dân sinh sống tại vùng đất này.
Là quê hương của một trong những hệ sinh thái hoàng giả đặc biệt nhất thế giới.
Naui là mái nhà của nhiều loài động vật đã thiết nghi hoàn hảo với điều kiện khắc nghiệt ở vùng cực Bắc.
Từ những đàn tuần lộc di cư trên những vùng đồng bằng băng giá, đến loài cấu bắt cực mạnh mẽ sinh sống ở khu vực Svalbard.
Thiên nhiên nơi đây luôn trăng đầy sức sống, bất chấp sự khắc nghiệt của khí hậu.
Nước là một yếu tố không thể tách rời trong bức tranh thiên nhiên của Naui.
Với hệ thống vịnh hẹp tuyệt đẹp và những rác nước hôn vĩ.
Quốc gia này sở hữu một cảnh quang kỳ thú, nơi đất liền và đại dương hòa quyện một cách hài hòa.
Từ Bắc Băng Dương ở phía Bắc đến eo biển Skagorak ở phía Nam.
Naui trái dài hơn 1.570 km, mang đến sự đa dạng phong phú về địa hình và khí hậu.
Bên cạnh những vịnh hẹp và bờ biển dày, Naui còn được biết đến là một trong những quốc gia có nhiều núi nhất trên hành tinh.
Một dãy núi trùng điệp kéo dài xuyên suốt đất nước, tạo nên một cảnh quang ngoạn mục và đầy thử thách.
Hơn một phần tư diện tích của Naui nằm ở độ cao trên 1 ngàn mét so với mực nước biển,
khiến nơi đây trở thành một thiên đường cho những người yêu thích thiên nhiên hoàng giả.
Trên dãy Jotunheimen, ngọn núi cao nhất Bắc Âu, những lớp tuyết cuối cùng vẫn còn vương vấn, dù tháng năm đã gần kết thúc.
Không khí giá lạnh vẫn liên lọi giữa các định núi, nhưng hơi thở của mùa xuân đã bắt đầu chạm tới những vùng cao nguyên càng cổi.
Đây cũng là thời điểm tuần lục bắt đầu cuộc hành trình di cư thường niên của chúng.
Từ những thun lũm ấm áp dưới chân núi, đàn tuần lục tiến lên những vùng cao hơn,
nơi chúng sẽ sinh sống trong vài tháng hè ngắn ngủi trước khi mùa đông khát nghiệt quay trở lại.
Loài tuần lục đã thiết nghi hoàn hảo với môi trường sống đặc biệt này.
Chúng là một trong số ít những loài động vật có thể chịu đựng khí ẩu lạnh giá của vùng núi cao và lạnh nguyên bằng giá.
Bới bồ lông dày và lớp mỡ dày dưới nhà, tuần lục có thể giữ ấm ngay cả khi nhiệt độ xuống rất thấp.
Chúng cũng có đuôi gốt rồng, một đặc điểm thiết nghi quan trọng giúp chúng di chuyển dễ dàng trên tuyết dày và bùn lầy,
đồng thời trở thành công cụ hợp ích để đào bới tìm thức ăn.
Vào mùa xuân, khi băng tuyết bắt đầu tàn, nguồn thức ăn của tuần lục vẫn còn rất khang hiếm.
Ở những khu vực núi cao, đề y mọc trên đá là nguồn dinh dưỡng duy nhất của chúng.
Tuy nhiên, ngay cả loài thực vật ít ỏi này cũng bị trồn vùi dưới những lớp tuyết dày.
Nhờ khứ giác nhảy bẻn, tuần lục có thể phát hiện mùi của đề y và các loài cây mọc ẩn dưới tuyết.
Khi tìm được nguồn thức ăn, chúng dùng móng gốt trước rộng lớn của mình để cao xới lớp tuyết,
lộ ra những mảng thực vật bên dưới.
Đây là một công việc tiêu tốn nhiều năng lượng,
nhưng là cách duy nhất giúp chúng duy trì sự sống trong những ngày cuối mùa đông kéo dài.
Dù sống trong điều kiện khác nghiêm, đàn tuần lục vẫn di cư theo một quy luật cố định,
tạo nên những cuộc hành trình vĩ đại kéo dài hàng trăm cây số mỗi năm.
Vào mùa hè, chúng sẽ tận hưởng khoảng thời gian ngắn ngủi trên các đồng cọ núi cao,
nơi thức ăn trở nên phong phú hơn.
Nhưng khi mùa đông quay trở lại, đàn tuần lục lại lặng lẽ xuống núi,
tìm về những thun lụng thấp hần để tránh cái lạnh của mùa đông.
Mùa hè ở Na Uy mang đến một khung cảnh yên bình và thơ mộng,
khi những đàn cửu thông dòng gặm cọ trên các đồng cọ xanh mướp,
trải dài dọc theo những sườn núi và thun lũng.
Dưới bầu trời trong xanh, ánh nắng dịu nhẹ của vùng Bắc Âu
làm bưng sáng những cánh đồng cọ rộng lớn,
nơi hàng triệu con cựu tự do di chuyển và kiếm ăn.
Cựu Na Uy là một trong những giống cựu có khả năng thiết nghi tốt nhất
với khí hậu và địa hình đặc biệt của Na Uy.
Chúng được nuôi thả chủ yếu ở các vùng cao nguyên, thun lũng, sườn núi
và đồng cọ vẹn biển, nơi có điều kiện tự nhiên phù hợp để phát triển.
Trong suốt mùa hè, hàng triệu con cựu được trăng thả tự do
trên các đồng cọ sành mướp ở vùng núi cao, nơi chúng có thể tự do kiếm ăn.
Bộ lông của cựu Na Uy rất dày và soan, giúp chúng chống chịu với giá rén.
Chúng có kích thước trung bình, với con trưởng thành có thể nặng từ 40-80kg,
tùy vào giới tính và điều kiện sống.
Cả cựu đực và cựu cái đều có thể mọc sừng,
nhưng sừng của con đực thường to và cong hơn.
Đặc biệt, cựu Na Uy sở hữu đôi móng cuốc chắc khỏe,
giúp chúng di chuyển dễ dàng trên địa hình đồi núi dốc và băng giá.
Cựu Na Uy là loài sống theo bầy đạn, có tính gắn kết cao
và thường di chuyển cùng nhau để tránh nguy hiểm.
Nhờ tập tính này, chúng có thể bảo vệ lẫn nhau trước các loài son mồi
như sói sám và linh miều.
Chúng có khứ giác nhạy bén, giúp chúng tìm thức ăn
ngay cả khi bị tuyết phủ dày.
Loài cựu này chủ yếu ăn cỏ, đỉi, rêu và một số loài cây dài.
Chúng tận dụng tối đa nguồn thức ăn tự nhiên có sẵn trong môi trường khác nghiệp.
Mỗi năm, hàng triệu con cựu sẽ di cư lên vùng núi cao
vào mùa xuân và mùa hè để tìm kiếm đồng cỏ từ tốt.
Khi mùa đông đến, chúng được đưa về vùng đồng bằng
hoặc các khu vực thấp hơn để tránh rét.
Vòng đời di cư này diễn ra một cách dịp nhằn,
tạo nên một hình ảnh đặc trưng của Na Uy.
Những ngày tháng 5, ngay ở miền bắc Na Uy kéo dài hơn,
khi mặt trời lặng lẽ phương mình trên bầu trời,
sự ấm từng lớp băng giả còn sót lại sau mùa đông khát nghiện.
Ánh nắng đầu hè dịu dàng nhưng mạnh mẽ,
đánh thất cả một vùng đất lạnh lẽo,
làm tan chảy những mạng bằng còn vương vấn trên sườn núi.
Những dòng nước đầu tiên lặng lẽ rời khỏi băng dày,
lấp lánh dưới ánh mặt trời,
như thế vừa được giải thoát khỏi cái lạnh của mùa đông.
Dân dân, hàng triệu dòng nước nhỏ kết lại,
tạo thành những dòng suối mạnh mài uống lượng dọc theo những triền dốc,
rồi ao ạt hợp nhất thành những thác nước trắng xóa,
đổ xuống thun lục bên dưới với âm vàng hù vĩ.
Tiếng nước chạy sóc sách,
hòa cùng tiếng gió thổi qua các khe núi,
mang theo hơi thở của mùa hè
và đánh thất sự sống đã ngủ trong những tháng ngày lạnh giá.
Những dòng nước tăng chảy không chỉ cuốn trôi bằng giá,
mà còn mang theo sức sống,
hồi sinh cả một phùng đất rộng lớn.
Nhờ dòng chảy từ tuyết tăng,
Na Uy sở hữu một hệ thống nước ngọt dô dào,
nuôi dưỡng những khu rừng sanh thẳm và những đồng cỏ mượt mạc.
Khi mặt trời tiếp tục tỏa sáng,
ngày càng nhiều thác nước hiện tràn,
vẽ nên một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ
và biến đổi hoàn toàn cảnh quàng càng cổi
chỉ trong vài ngày ngắn ngủi.
Đất trời Na Uy lại trăng đầy sức sống,
sức sở và hoang dã
như chính vẽ đẹp vốn cỏ của nó.
Đây cũng là lúc hoa đỗ quyền bừng nở,
nhuộm thấm những con đường mòn quanh cò,
những triền đá càng cổi
và những thung lũng sầu thẳm.
Từ xa, những cùng đỗ quyền trải dài
như tấm thảm hòa sức sở,
hoa quyền cùng sắc xanh mứa
của rêu và địa y
tạo nên một khung cảnh trăng đầy sức sống.
Hoa đỗ quyền Na Uy
có nhiều sắc màu khác nhau,
từ hông phấn dịu dàng,
đỏ sực sở đến tím thậm huyền.
Mỗi màu sắc mang đến một vẽ đẹp xiên biệt,
nhưng tất cả đều chung một điểm,
sự mạnh mẽ phương lên giữa thiên nhiên khác nghiệt,
giống như cách mà sự sống không gần trỗi dậy
ngay cả trong điều kiện khác nghiệt nhất.
Không giống như những loài hoa mong manh kháng,
đỗ quyền trên núi Na Uy
sở hữu sức sống phi thường.
Chúng mọc trên các sừng mũi đá treo lẹo,
nơi đất đai càng cổi và gió xét buốt qua năm.
Bộ rễ của loài cây này bắn chặt vào các kẹ đá,
hấp thụ nước từ những dòng chạy tuyết tăng,
giúp chúng tồn tại ngay cả khi nguồn dinh dưỡng khang hiểm.
Lá của chúng thường có lớp sáp bảo vệ,
giúp giảm sự mất nước
và chúng chiều trước những cơn gió lạnh
từ đại dương thổi vào.
Không chỉ bền bỉ trước thời tiết,
hoa đỗ quyền còn là một phần quan trọng
trong hệ sinh thái vùng núi.
Những cánh hoa đầy mật ngọt
thu hút ống, bướm và chìm hút mật
tạo nên một vòng tuần hoàng sinh thái,
giúp duy trì sự cân bằng của thiên nhiên.
Nhìn vào sự nở rộ của đỗ quyền,
người ta không chỉ thấy vẻ đẹp đơn thuần,
mà còn cảm nhận được sự gắn kết kỳ diệu
giữa đất trời và sự sống.
Bên cạnh đó, hoa đỗ quyền
còn được xem là dấu hiệu của mùa hè sắp đến,
báo hiệu thời điểm đất trời chuyển mình
sang những tháng ngày trăng đầy sức sống.
Vào mỗi mùa hoa nở,
người dân địa phương và du khách
lại có dịp tàng bộ trên những con đường núi,
chim ngưỡng vẻ đẹp quyến rũ của loài hoa này.
Những cánh hoa đung đưa trong gió
như kể câu chuyện về những mùa đông đã qua,
về sức sống mạnh mẽ của đất trời Bắc Âu.
Những loài động vật di cư đầu tiên
đã bắt đầu quay trở lại,
báo hiệu sự chuyển mình của vùng đất
sau những tháng dài chim trong băng giá.
Những đỉnh núi phủ tuyết còn sót lại
như những dấu vết cuối cùng của mùa đông khát nghiệt,
trong khi những thác nước hôn vĩ
đang dần trút bỏ lớp băng tuyết
để lộ ra vẻ đẹp trắng lệ vốn có của chúng.
Khắp nơi, mặt đất dần khoác lên mình
một lớp áo xanh mong manh,
dấu hiệu đầu tiên của sự hồi sinh.
Hanense Vida, cao nguyên lớn nhất châu Âu,
trải rộng hơn 9.000 km vùng ở miền nam Na Uy.
Giờ đây như bừng tỉnh sau mùa đông dài.
Nằm ở độ cao hơn 1.100m so với mực nước biển,
vùng đất này được hình thành bởi các dòng sông băng
trong kỵ băng hạ cuối cùng,
để lại những đồng băng rộng lớn,
những thông lũng trầm thiết và địa hình trắng lệ.
Nguồn nước dồi dào từ băng tan
chính là yếu tố quyết định sự sống nơi đây.
Lớp thực vật mỏng mạnh nhưng kiên cường
bám chặt vào mặt đất,
hút lấy dưỡng chất từ những con suối
và hồ nước lạnh giá.
Ở phía tây Hanense Vida,
những dòng nước mạnh mẽ đổ xuống
từ các vách đá dựng đứng,
tạo thành những thác nước hoàng mục,
lao thẳng vào các vịnh hẹp xanh thẳng.
Đây cũng là nơi tỏa lạc
của một số thác nước cao nhất
và ấn tượng nhất châu Âu,
điểm nhấn kỳ vị giữa cảnh quang thiên nhiên
hoang dã và hung vị của Na Uy.
Xa hơn về phía hạ lưu,
những con suối nhỏ hợp lại
thành những dòng sông hung vị,
nơi đánh dấu hành trình quan trọng
của cá hồi châu Âu.
Mùa hè đến, đàn cá hồi vượt qua
quảng đường dài từ đại dương
trở về những dòng sông quê hương
để thực hiện sứ mệnh thiên liên nhất
của cuộc đời.
Tại các cửa sông, nơi dòng nước ngọt
từ núi cao hòa vào lan nước mặn
của biển cả,
một vùng giao thoa đặc biệt được hình thành.
Đối với nhiều loài động vật,
đây là thử thách khác nghiệp.
Những bầy cá hồi buộc phải dừng lại,
dành thời gian thiết nghi
với sự thay đổi độc ngột của môi trường
trước khi tiếp tục hành trình
đầy gian năng của mình.
Khi còn bé, cá hồi từ những dòng sông nước ngọt
di cư ra biển khơi
để sinh trưởng.
Nhưng khi đến tuổi trưởng thành,
bản năng mạnh mẽ thúc giục chúng
quay trở lại chính nơi mình đã nở ra
để thực hiện chu kỳ sinh sản.
Cuộc hành trình này không hề dễ dàng.
Trên đường đi,
chúng phải đối mặt với vô số trở ngại.
Từ thác ghen dưỡng dồi
đến dòng nước chạy xiếc.
Những thử thách tưởng chừng không thể vượt qua.
Tại những đoạn thác cao,
hàng trăm con cá hồi
có thể bị un ứng lại,
kiên trì tìm cách vượt qua dòng nước
cụm xiếc.
Không phải lúc nào nỗ lực đầu tiên cũng thành công.
Nhưng mỗi lần thất bại,
chúng lại kiên trì hơn, mạnh mẽ hơn.
Nông độ hormone
trong cơ thể tăng cao
kinh tích chúng giải phóng nguồn năng lượng phi thường,
kết hợp với quyết tâm không bỏ cuộc.
Chỉ những con cá
khỏe mạnh và dũng cảm
mới có thể tiếp tục hành trình,
vưng lên những dòng thác khác nghiệt
để đến được nơi sinh sản.
Mùa cá hồi trở về
cũng là thời điểm quan trọng với loài cấu,
khi chúng cần tiết trữ thật nhiều năng lượng
để chuẩn bị cho những tháng mùa đông dài
lạnh giá.
Chính vì thế,
chúng săn mồi không ngừng nghỉ.
Gấu trưởng thành có thể ăn đến
40kg cá hồi trong một ngày.
Những con gấu non
theo chân mẹ tập làm quen
với cách săn cá, vụn về chộp
lấy con mồi, nhưng thường xuyên để
tụt mất.
Trong khi đó, những con gấu da dặn hơn biết rõ
điểm nào là lý tượng nhất
để chẳng bắt cá,
thậm chí còn tranh giành những vị trí đắc địa
nhất bên bờ tháng.
Gấu nâu Na Uy
chủ yếu sinh sống trong các khu rừng phường Bắc,
nơi có địa hình đồi núi
và những con sông băng giá.
Chúng là loài ăn tạp
với chế độ ăn phong phú từ cá,
thịt đến quả mọng và rễ cây.
Khi mùa hè đến,
gấu nâu thường lang thang dọc theo
các dòng sông, chờ đợi
năng cá hồi di cư để sàn bắc,
tiết lụy năng lượng trong mùa đông dài
lạnh giá.
Dù có vẻ ngoài to lớn và đáng sợ,
gấu nâu Na Uy thường sống
đơn độc và hiếm khi tấn công con người.
Chúng có khứ giác nhạy bén,
có thể đánh hơi con mồi
hoặc nguồn thức ăn từ khoảng cách rất xa.
Khi mùa đông đến,
gấu nâu rút lùi vào những hang đồng
sâu trong rừng để ngủ đồng,
chờ đợi mùa xuân quay lại
để tiếp tục chu kỳ sinh tồn.
Ngày nay, gấu nâu vẫn là
một loài động vật hoang dã
mang tính biểu tượng tại Na Uy.
Nhưng số lượng của chúng bị suy giảm
do săng bắn và mất môi trường sống.
Nhờ vào các chương trình bảo tồn,
quần thể gấu nâu đang dần phục hồi,
giúp duy trì sự cân bằng
trong hệ sinh thái tự nhiên
của vùng rừng phương Bắc.
Gấu nâu không chỉ là một kẻ săng mồi mạnh mẽ,
mà còn là một phần quan trọng
của kẻt quan thiên nhiên hoang sơ
tại Na Uy,
nơi con người và động vật hoang dã
cùng tồn tại trong sự hài hòa với thiên nhiên.
Vào mùa hè,
những con chim nhạc bắt cự
bắt đầu làm tổ trên những vách đá.
Chúng là loài chim di cư
có hành trình dài nhất thế giới,
bay từ Nam Cực đến Bắc Cực
và ngược lại mỗi năm.
Khi mùa hè đến,
chúng rời khỏi vùng biển Nam Cực lạnh giá,
vượt qua hàng chục nghìn km
để trở về Na Uy,
nơi có những bờ biển và hoàng đảo hoang sơ,
lý tưởng cho việc sinh sẵn.
Tại đây, chúng làm tổ,
nuôi dưỡng chim non
trước khi bắt đầu chuyến hành trình
quay trở lại Nam Cực vào mùa thu.
Với khả năng bay lượm
không ngừng nghỉ và sức bền đáng kinh ngặt,
chim nhạc Bắc Cực
là biểu tượng của sự kiên trì
và thích nghi trong thế giới tự nhiên.
Na Uy nổi tiếng
với những vịnh hẹp hôn vĩ,
được hình thành từ hàng nghìn năm trước
do băng hà tàn chảy,
để lại những thun lũ sầu giáp với biển.
Những vịnh của Na Uy,
hay còn gọi là offshore,
có cảnh quan ngoạn mục
với những vách đá dựng đứng,
những thác nước đổ từ độ cao hàng trăm mét
và mặt nước xanh thẳm, tỉnh lặng.
Một số vịnh nổi tiếng nhất
bao gồm Sognefjord,
vịnh hẹp dài nhất
và sâu nhất Na Uy.
Karantjofjord, được UNESCO công nhận
là duyên sẵn thế giới,
nơi có phong cảnh đẹp như tranh vẽ.
Những vịnh này không chỉ là
điểm đến du lịch hấp dẫn,
mà còn là nơi sinh sống
của loài chim parfait.
Loài chim Hải Âu rục cổ,
hay còn gọi là Puffin Đại Tây Dương
là một trong những loài chim biển
đáng yêu và nổi bật nhất
vùng Bắc Đại Tây Dương.
Chúng được biết đến
với bộ lông đen trắng tương phản,
chiếc mỏ đầy màu sắc
và đôi chân cam sáng đặc trưng.
Giáng vẽ nhỏ nhắn
cùng khung mặt ngộ nghĩnh
khiến nhiều người bí chúng như những chú hề của Đại Dương.
Nhưng ẩn sau vẻ ngoài đáng yêu ấy
là một cuộc sống đầy thách thức
giữa biển thời.
Loài chim này chủ yếu sinh sống
tại các khu vực lạnh giá của Na Uy,
nơi có những bách đá treo leo
bên bờ biển.
Chúng dành phần lớn cuộc đời
lên đên trên đại dương,
chỉ quay về đất liền vào mùi hè để sinh sẵn.
Nhờ đôi cánh khỏe
và cấu tạo cơ thể đặc biệt,
puffins không chỉ là những tay bơi lội điêu luyện,
mà còn có thể bay nhanh
với vận tốc lên đến 80 km trên giờ.
Để săn mồi,
chúng lặn xuống biển để bắt cá,
đặc biệt là những loài cá nhỏ.
Điều thú vị là puffins
có thể ngầm nhiều con cá cùng lúc
nhờ các sảnh nhỏ trên mỏ,
giúp chúng giữ chặt con mồi
và vẫn có thể tiếp tục bắt thêm cá khác.
Mùa hè
là thời điểm puffins trở về bờ biển
để làm tổ.
Chúng ghép đôi suốt đời,
mỗi năm chỉ đẻ một quả trứng duy nhất.
Cả chim bố lẫn chim mẹ
đều thay phiên nhau ấp trứng
trong khoảng 40 ngày
và cùng chăm sóc chim non
cho đến khi chúng có thể tự lập.
Khi đến tuổi trưởng thành,
chim non rơi tổ và bắt đầu
cuộc hành trình trên biển
có thể kéo dài nhiều năm trước khi quay lại sinh sẵn.
Tuy nhiên, số lượng puffins
đang giảm dần do biến đổi khí hậu,
đánh bắt cá quá mức
và ô nhiễm môi trường.
Sự nóng lên của đại dương
ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thức ăn của chúng,
khiến tỷ lệ sống sót của chim con
Đi xa hơn về phía đông bắc Na Uy
là khu rừng Pasvik,
một trong những khu rừng tai cà lớn nhất
và hoang sơ nhất của đất nước.
Nằm gần biên giới với Nga
và Phần Lăng, rừng Pasvik
mang đậm nét đặc trưng
của hệ sinh thái Phần Bắc
với những cánh rừng thông, vân sam,
bạch dường trải dài,
xen lẫn các đâm lầy và hồ nước nhỏ.
Khí hậu ở đây khác nghiệt
với mùa đông kéo dài,
tuyết vũ dày đặc.
Vào những ngày hè ngắn ngủi,
mặt trời sẽ không bao giờ lặn,
tạo nên một cảnh quan thiên nhiên độc đáo.
Trong những ngày hè ngắn ngủi,
những con gà gô đèn
tranh đấu quyết liệt để giành quyền giao phối.
Những con trống phô diễn
bộ lông đen bóng, xoay cánh,
nhảy múa và lau vào nhau
tại những khu đất trống.
Những con chim trống có kết thước lớn,
bộ lông đen ánh xanh
cùng chiếc đuôi dài thường xoay rộng
khi phô diễn,
trong khi chim mái nhỏ hơn
với màu lông nâu sọc
giúp chúng nguy trang trong rừng.
Chúng quen sống trong môi trường sọm sàm
của rừng Pacific,
thiết nghi với khí hậu khác nghiệt
bằng cách đào tuyết để trú ẩn trong mùa đông.
Chế độ ăn của loài này
thay đổi theo mùa,
với lá, nụ cây, hạt thồng
và côn trùng vào mùa hè.
Trong khi vào mùa đông,
chúng chủ yếu tìm hạt dưới lớp tuyết
để duy trì năng lượng.
Loài gà gô phương Tây
có tập tính sống khá đặc biệt,
với sự khác biệt rõ rệt
giữa con trống và con mái
trong cách sinh hoạt hàng ngày.
Những con trống thường sống đơn độc,
dành phần lớn thời gian di chuyển
một mình trong các khu rừng rầm.
Chúng có xu hướng chiếm giữ lãnh thổ riêng
và chỉ thực sự xuất hiện cùng đồng loại
vào mùa sinh sẵn.
Trái ngược với con trống,
những con mái lại sống
thành từng nhóm nhỏ,
thường đi kiếm ăn cùng nhau
để tăng cơ hội sống sót,
đặc biệt là trong mùa đông khá nghiệt.
Chúng thường di chuyển chậm rãi trên mặt đất,
tìm kiếm hạt và côn trụ
để bổ sung dinh dưỡng.
Vào mùa sinh sẵn,
những con mái tách đạn để tự làm tổ và nuôi con,
trong khi những con trống
sẽ phô trương sức mạnh
bằng những giọng gáy vang vòng
và những trận tranh đấu quyết liệt
để giành quyền giao phối.
Sự khác biệt trong tập tính sống
giữa chim mái và chim trống
giúp chúng tối ưu hóa
khả năng sinh tồn trong tự nhiên,
đảm bảo chúng có thể phát triển mạnh mẽ
trong môi trường rừng tai cà Bắc Âu.
Vườn quốc gia Dorifso
được thành lập vào những năm 1970
và là nơi sinh sống
của một loài động vật hoàng giả đặc biệt,
bò xã Hương.
Mặc dù có cái tên gợi liên tượng đến loài bò,
nhưng trên thực tế,
chúng thuộc phân họ Caprini,
có họ hàng gần gũi hơn
với dè và cừu.
Đây là loài Caprini lớn nhất trên thế giới,
mang trong mình những đặc điểm độc đáo
giúp chúng tồn tại trong điều kiện
khác nghiệt của vùng lãnh nguyên Bắc Âu.
Bò xã Hương Dorifso
là quân thể duy nhất
ở châu Âu còn tồn tại
trong môi trường hoàng giả,
được chia thành nhiều đăng nhỏ
lang thang trên vùng đất rộng lớn.
Chúng có nguồn gốc từ Greenland
và được đưa đến khu vực này
trước chiến tranh thế giới thứ hai.
Ban đầu, loài này gặp không ít khó khăn
khi đến nghi với môi trường mới.
Nhưng theo thời gian,
chúng đã dần ổn định và phát triển mạnh mẽ.
Hiện nay, số lượng bò xã Hương
ở Dorifso đã tăng đáng kể
với hàng trăm cá thể
đang sinh sống tại đây.
Bò xã Hương
được ví như sứ giả của thời gian.
Chúng đã tồn tại
từ kỷ Băng Hạc
và vẫn xảy bước
trên những vùng lạnh nguyên mắc cực, lạnh giá.
Với bộ lông dày như áo cháp tự nhiên
và sức chịu đựng phi thường,
chúng là minh chứng sống đồng
cho sự thiết nghị của tự nhiên
trước những thay đổi khác nghiệt của trái đất.
Từng lang thang
trên các thảo nguyên băng giá
cùng voi mammoth và hổ săn kiếm,
bò xã Hương ngày nay
vẫn kiên cường chống trọi
với khí hậu khác nghiệt ở Naui,
trở thành biểu tượng của sức mạnh
và sự trường tồn của thiên nhiên hoang dã.
Tại các vùng trũng của Naui,
rừng lá kim phương Bắc
thống trị cảnh quan,
tạo nên một khung cảnh hoang sơ
và hùng vĩ,
mang nhiều nét tương đồng
với những cánh rừng tai ca của Nga.
Xanh lẫn giữa những khu rừng bạc ngăn
là những hồ nước lớn, vùng trũng và đầm lây,
tạo nên một hệ sinh thái
phong phú và đa dạng.
Một loài chim đặc trưng
của các hồ nước phía Bắc đầy ấn tượng,
chim lặng màu lớn.
Chúng là biểu tượng của sự hoang dã
và thanh bình.
Chim lặng màu lớn là một trong những
loài chim nước đặc trưng của các vùng hồ
phía Bắc xuất hiện phổ biến
tại Naui.
Chúng được biết đến với bộ lông đen trắng
cùng chiếc mõi nhọn,
giúp chúng trở thành những thợ săn cư khôi dưới nước.
Đặc biệt, đôi mắt đỏ rực
của chúng tạo nên một vẻ
bí ẩn và hoang dã,
thiên nghi tốt với môi trường sống lạnh giá.
Loài chim này dành phần lớn
cuộc đời trên mặt nước,
nơi chúng thể hiện tốt khả năng bơi lội.
Khi săn mồi, chim lặng màu lớn
có thể lặng sâu tới 60 mét.
Sử dụng đôi chân khỏe mạnh
để đẩy mình lau nhanh dưới nước,
bắt cá, động vật giáp sát
và động vật thân mềm.
Chúng gần như bất lực trên cạn
vì đôi chân nằm xa về phía sau cơ thể.
Nhưng điều này lại giúp chúng
bơi lội một cách mạnh mẽ và linh hoạt.
Vào mùa hè,
chim lặng màu lớn chọn những hồ nước
yên tĩnh để xây tổ.
Chúng thường làm tổ gần mép nước,
nơi có thảm thực vật sầm sạp che vũ
để bảo vệ trứng khỏi kẻ thù.
Mỗi năm, chim mái
chỉ đẻ từ một đến hai trứng.
Cả chim bố và chim mẹ
thay phiên nhau ấp trứng.
Khi chim non nở, chúng được bố mẹ
chăm sóc cẩn thận.
Sau vài tuần, chim non
bắt đầu tập bơi và học cách săn mồi
dưới sự hướng dẫn của chim trưởng thành.
Thông thường,
đối với loài chim lặng màu lớn,
bố mẹ sẽ cung cấp cho con cái
dịch vụ tác xì nước.
Nghĩa là nó sẽ đưa theo con nhỏ
trên lưng khi đi kiếm ăn.
Nhưng việc này sẽ trở nên khó khăn
nếu chúng có nhiều hơn một con non.
Đây cũng là nhà
của thiên ngà lớn.
Chúng là loài thiên ngà hoang dã lớn nhất
thế giới, với chiều dài cơ thể
lên tới 1,5m
và sải cánh có thể đạp
2,4m, tạo nên hình ảnh uy nghi
khi chúng sải cánh bay trên mặt hồ.
Bộ lông trắng
tinh khôi giúp chúng nổi bật
trên nền nước lạnh.
Trong khi chiếc mỏ vàng với chóp đèn
là dấu hiệu nhận biết đặc trưng,
phân biệt chúng với các loài thiên ngà khác
như thiên ngà cổ đèn hay
thiên ngà trắng nhỏ hơn.
Thiên ngà lớn là loài kép đôi
suốt đời, tạo nên những mối quan hệ
bền chặt giữa các cặp đôi.
Khi đến mùa xuân,
chúng quay trở lại những hồ nước yên tĩnh
để làm tổ, chọn các khu vực
có thảm thực vật rộng ràm và hẻo lánh
để tránh xa kẻ sang môi.
Tổ của chúng
thường được xây dựng trên các ủ đất ven hồ
hoặc giữa các bãi cỏ,
đảm bảo sự an toàn cho chim non.
Chim mái thường đẻ
từ 4 đến 7 trứng,
và cả 2 chim bố mẹ
cùng nhau thay phiên ấp trứng.
Khi chim non nở,
chúng nhanh chóng tập bơi
và theo sát cha mẹ,
bơi lội trên mặt hồ dưới sự bảo vệ nghiêm ngặt.
Những con thiên nga non
có mổ lông xám nhạt,
dần chuyển sang màu trắng khi trưởng thành.
Vào mùa thu, khi nhiệt độ giảm mạnh
và mặt hồ bắt đầu đóng băng,
thiên nga lớn chi cử
về phía nằm đến các khu vực
ung đới ấm áp hơn như Tây Âu
và khu vực ven biển để tránh
cái lạnh khắc nghiệt.
Tuy nhiên, một số quần thể chọn ở lại
nếu điều kiện thời tiết không quá khắc nghiệt
và vẫn có nguồn nước
không bị đóng băng.
Ven bờ hồ, những vùng ngập nước
và đâm lây nguyên sơ,
trở thành nơi trú ẩn quan trọng
cho vô số loài động thực vật.
Đây là thế giới của những chú trùng chùa
Demoiselles,
loài côn trùng duyên gián với đồi cánh ống ánh
phản chiếu ánh sáng mặt trời.
Chúng thực hiện những màn trình diễn
đầy mê hoạt,
bày lượng nhẹ nhàng trên mặt nước,
hy vọng thu hút sự chú ý
của những con cái.
Với những cá thể may mắn,
sự kiên trì của chúng được đền đáp.
Và ngay sau đó, quá trình sinh sản
có thể bắt đầu,
đánh dấu một vòng nơi mới giữa thiên nhiên hoàng giả.
Những đâm lây gần sừng Taika
là nơi sinh sống
của loài động vật trên cạn lớn nhất Na Uy,
Nai sừng Tấm.
Dù ai cũng biết đến chúng,
nhưng không phải ai cũng có cơ hội
nhìn thấy loài động vật bí ẩn này.
Nai sừng Tấm
thường xuất hiện gần các khu vực có nước,
nơi chúng có thể tìm thấy
các loài thực vật thủy sinh giàu năng lượng,
loài thức ăn yêu thích nhất của chúng.
Là loài động vật có vú
lớn nhất ở Na Uy,
chúng có kích thước to lớn
và cặp sưng đồ sổ của con đực.
Con trưởng thành có thể cao tới
2,3 mét và nặng hơn
700 kg,
khiến chúng trở thành biểu tượng
của những khu rừng Bắc Âu hoàng giả.
Chúng là loài ăn cỏ
nhưng có sở thích đặc biệt
với lá cây, cỏ non, canh non
và thực vật dưới nước.
Vì thường xuyên bị săn bắn,
Nai sừng Tấm chủ yếu hoạt động
về đêm và rút lùi vào rừng nguyên sinh
vào ban ngày để tránh nguy hiểm.
Dù có vóc gián công kênh,
nhưng chúng có thể bời hàng chục
km để tìm kiếm thức ăn.
Là loài động vật thiết nghị tốt
với điều kiện lạnh giá của Bắc Âu,
Nai sừng Tấm đóng vai trò
quan trọng trong hệ sinh thái rừng,
góp phần duy trì sự cân bằng tự nhiên
của vùng đất hoàng sơ này.
Trong rừng Bạch Dương,
Cú Diệu Hầu Vườn Bắc gặp phải
một vị khách không mời mà đến,
một con hưu đỏ.
Vào mùa xuân, hưu con được sinh ra.
Bây giờ, chúng theo mẹ
đi ăn trong rừng.
Những con hưu con có thể tìm lá và chùi non,
một món ăn yêu thích của chúng.
Khi mới sinh ra,
những chú hưu con chỉ nặng tới
10 kg. Nhưng khi trưởng thành,
chúng có thể đạt được con số
cân nặng gấp 20-30 lần.
Loài hưu này
là một trong những loài động vật hoàng giả
có mặt rộng rãi nhất
ở Na Uy. Với thân hình mạnh mẽ,
bộ lông nâu đỏ đặc trưng
cùng cặp xưng lớn của con đực,
loài hưu này không chỉ là một phần
không thể thiếu trong hệ sinh thái rừng,
mà còn là biểu tượng
của thiên nhiên hoàng giả Bắc Âu.
Chúng sinh sống chủ yếu
trong các khu rừng ôm đới,
vùng đồi núi thấp và đồng cỏ rộng lớn,
nơi có nguồn thức ăn vui giọng
và địa hình thuận lợi cho việc di chuyển
và sinh tồn.
Hưu đó là loài động vật có vú
có kích thước khá lớn,
chỉ đứng sau nai sừng tấm về trạng lượng.
Con đực trưởng thành
có thể cao từ 1,2-1,5 m,
nặng từ
150-250 kg.
Trong khi con cái
nhỏ hơn, chỉ nặng khoảng
80-130 kg.
Điểm đặc trưng nhất
của loài này là cặp sừng lớn,
phân nhánh mạnh mẽ chỉ có
ở con đực.
Những cặp sừng này phát triển vào mùa xuân
và rụng vào cuối đồng,
sau đó mọc lại lớn hơn
theo độ tuổi.
Ngoài sừng, bộ lông của hưu đỏ
cũng thay đổi theo mùa,
có màu nâu đỏ vào mùa hè
và chuyển sang màu nâu xám vào mùa đồng,
giúp chúng nguy trang tốt hơn trong rừng rầm.
Hưu đỏ thường sống
theo đàng, với nàng con cái
và con non được dẫn dắt bởi
một con cái lớn tuổi, trong khi
con đực trưởng thành có xu hướng sống
đơn độc hoặc tụ tập thành nhóm
nhỏ bên ngoài mùa sinh sẵn.
Chúng hoạt động chủ yếu
vào lúc bình minh và hoàng hôn,
khi ánh sáng yếu và nhiệt độ dễ chịu hần.
Vào mùa đông,
một số đàng có thể di chuyển xuống
vùng đất thấp để tìm kiếm thức ăn,
tránh cái lạnh khát nghiệt ở vùng
núi cao.
Loài hưu này chủ yếu ăn cọ, lá cây,
vỏ cây và quả mọc.
Nhưng vào mùa đông, khi nguồn
thức ăn trở nên khang hiếm,
chúng có thể ăn rêu, địa y và
vỏ cây để duy trì năng lượng.
Đến mùa giao phối,
những con đực trưởng thành trở nên
hung dữ và bảo vệ lãnh thổ hơn.
Chúng sử dụng tiếng sống để
thu hút con cái và cảnh báo
các đối thủ khác.
Trong thời gian này, những trận chiến giữa
diễn ra cái khác, khi chúng hút
sừng vào nhau để giành quyền giao phối.
Con đực chiến thắng
sẽ kếp đôi với nhiều con cái trong đạn.
Sau thời gian mang thai,
chúng sẽ sinh nhật con non
vào mùa xuân hoặc đầu mùa hè.
Trong những khu đầm lệ,
những con hạt xám này
đang tụ tập để kiếm ăn.
Trong một khu vực nước sầu đến
mắt cá chật này, chúng được an toàn
trước hầu hết những kẻ săn bội
tìm năng.
Hạt xám
là một trong những loài chim lớn nhất
vùng Bắc Âu. Với chiều cao
lên tới 1,2m và sải cánh
rộng hơn 2m, loài chim này
tạo nên hình ảnh đầy ấn tượng
khi sải cánh bay lượng trên bầu trời
hoặc khi nhẹ nhàng lướt qua
các đồng cỏ và đầm lầy.
Chúng sinh sống chủ yếu
ở các khu vực đất ngập nước,
hồ nước nông và đồng cỏ ven rừng,
nơi có đủ thức ăn
và không gian rộng lớn để sinh sản.
Hạt xám
là loài chim di cư, dành mùa hè
ở Na Uy và các khu vực Bắc Âu
để sinh sản. Sau đó
thực hiện những chuyến hành trình dài
hàng nghìn km đến các vùng
ấm áp hơn như Tây Ban Nhạc,
Bắc Phi và Trung Đông để tránh
mùa đông lạnh giá.
Khi bay, chúng thường di chuyển
theo đàn lớn, tạo thành đội hình chữ V
để giảm sức cảng không khí,
giúp cả đàn tiết kiệm năng lượng
trong những chuyến bay dài.
Đường bờ biển Na Uy
là một trong những cảnh quan thiên nhiên
hùng vĩ và thơ mộng nhất thế giới.
Khó có nơi nào
có thể sánh được với vẻ đẹp
độc đáo của vùng đất này.
Nếu đo theo đường thẳng,
toàn bộ bờ biển Na Uy,
bao gồm các vịnh hẹp, vịnh nhỏ
và hàng nghìn hòn đảo,
có tổng chiều dài lên đến
101.000 km và gấp 2,5 lần
chui vì trái đất.
Những vịnh hẹp ngoạn mục của Na Uy
vương sâu hàng trăm km vào đất liền,
với một số vịnh
có độ sâu hơn 1 km,
tạo nên những bức tường đá dựng đứng
như những pháo đài thiên nhiên.
Đây là dấu tiết còn sót lại
từ kỷ bằng hàng.
Khi những sông bằng khổng lộ tưng trang xuống biển,
bào mòn và các sâu vào lớp đá cứng,
tạo nên những thun lũng kỳ vĩ.
Khi băng tăng
và mực nước biển dần lên,
những thun lũng này bị nhấn chìm,
hình thành nên các vịnh hẹp
Những vách đá sừng sửng
không chỉ dừng lại ở mặt nước,
mà còn tiếp tục kéo dài xuống sâu
bên dưới đại dương,
nơi sự giao thoa giữa đá và nước
tạo nên những cảnh quảng kỳ bí
dưới lòng biển.
Những vịnh hẹp Na Uy không chỉ là
kiệt tác thiên nhiên, mà còn là lời nhắc nhở
về sức mạnh vô tận của thời gian
và sự chuyển mình không ngừng
của trái đất.
Trên bãi đá ven biển,
những con hải cầu cảng biển
thư giãn dưới ánh nắng mặt trời,
tận hưởng những khoảnh khắc bình yên hiếm hoài
trên cảng.
So với những người anh em họ to lớn hơn của mình,
chúng có vóc dáng nhỏ nhắn hơn,
nhưng lại sở hữu
khả năng thích nghi đáng kinh ngạc.
Cả hải cầu cảng và hải cầu sám
đều ưu thích những tảng đá nhỏ
ngập nước làm nơi nghỉ người,
nơi chúng có thể nhanh chóng lặn xuống biển
khi cảm thấy bị đe dọa.
Trên cảng,
chúng nhút nhát và cạnh giác,
sẵn sàng lao xuống nước
ngay khi có bất kỳ sự sáo trộm nào xảy ra.
Những vát đá sửng sửng,
phủ đầy rêu xanh,
nhô ra giữa vùng biển dầu cá
trở thành thiên đường bất tận
cho các loài chim biển.
Cách đó khoảng 800 km về phía nằm,
hòn đảo Vinde nhỏ bé
cũng là một điểm đến lý tưởng,
nơi những đàn chim hội tụ đồng đúc.
Đặc biệt,
khu vực mỏm đá phía tây
vương ra biển khơi
là nơi trú ẩn quan trọng
của vô số loài chim biển.
Mỗi mùa hè, hàng trăm ngàn cá thể
đổ về đây để sinh sản,
tạo nên một bức tranh riêng riêng
sôi động và ngoạn mục.
Từ vát đá treo leo,
chúng dễ dàng cớ cánh
thẳng đến vùng biển trù phú để sang mồi.
Những cư dân oai vẻ nhất của nơi này
chính là chim ó biển phường Bắc,
loài chim biển lớn nhất
ở Bắc Bán Cầu.
Với khả năng bay lượng,
điêu luyện, chúng lướt nhẹ
theo những đợt sóng,
giỏi mắt quan sát từng chuyển động nhỏ bé
dưới làng nước.
Từ độ cao hơn 40 mét,
chim ó biển có thể phát hiện con mồi
với độ chính xác đáng kinh ngạc.
Mỗi năm, khoảng 3.000 cặp chim
làm tổ trên đảo.
Con số này không ngừng gia tăng.
Để bảo vệ con non,
chim bố mẹ khéo léo chọn những gờ đá
hẹp treo leo làm nơi xây tổ.
Tuy nhiên,
Renday không chỉ có những kẻ săn mồi oai vệ,
mà còn là mái nhà
của một cư dân đáng yêu hơn nhiều,
chim Parfait Đại Tây Dương.
Với chiếc mỏ rực rỡ
và dáng vẽ lém lịnh,
loài chim này được bí như những chú hề
của đại dương.
Chúng chỉ xuất hiện trên đảo trong mùa sinh sản,
nhưng với hơn 100.000 cặp,
chim Parfait tạo thành
quan thể sinh sản lớn nhất nơi đây,
trở thành biểu tượng sống đồng của hòn đảo.
Không giống những loài chim biển khác
làm tổ trên vách đá,
Parfait đào hang sâu tới 1 mét
trong lòng đất để ấp trứng.
Đôi cánh nhỏ của chúng
thiết nghi hoàn hảo với biển
lặng bắt cá hơn là bay.
Mỗi lần tiếp đất,
chúng loạn trọn như một cá say rậu leo cầu thang,
nhưng đôi khi cũng có những phà đáp cánh
đầy duyên gián.
Trong thế giới của chim Parfait,
tình cảm gia đình vô cùng bền chặt.
Các cặp đôi
Và khi một con trở về từ chuyến săn,
việc đầu tiên nó làm là mang thức ăn
cho bạn đời trong tổ,
như một nghì thức củng cố mối quan hệ.
Nhưng không phải lúc nào
hàng xóm cũng thân thiện.
Những màng dương mỏ đe dọa là chuyện thường thấy
khi một kẻ không mời
cố gắng xâm phạm lãnh thổ.
Trên những vách đá đồng đúc này,
tướng chừng như hỗn loạn,
nhưng mỗi con chim đều biết rõ vị trí của mình.
Khi mùa sinh sản kết thúc,
cả hòn đảo dường như ngập tràn
trong cảm giác bồn chôn.
Chẳng bao lâu nữa,
những chú hê lông vũ sẽ rời đi,
chỉ trở lại khi mùa xuân mới gọi mây.
Trong khi hòn đảo Rende
dần vắng lặng,
thì ở vùng cao nguyên xa xôi,
mùa đông đã bắt đầu gửi đi
những tín hiệu đầu tiên.
Cuối hè, những cơn bão tuyết tràn về,
báo hiệu sự chuyển mình của thiên nhiên.
Đằng tuần lục
sẽ sớm rời các điểm núi cao
để xuống thung lũng tìm thức ăn.
Trong khi bò xạ hương
lại tụ tập trên những trên núi đầy gió,
nơi tuyết phủ mọng hần
giúp chúng dễ dàng tiếp cận
thảm thực vật thừa thớt.
Mùa hè Na Uy tuy ngắn ngủi
nhưng vô cùng dữ dội và rực rỡ,
để rồi nhanh chóng dân chỗ
cho những tháng ngày băng giá.
Tuyết rơi dày đặc,
bào phủ mọi thứ trong tấm áo trắng lạnh lẽo
suốt sáu tháng rộng.
Nhưng khi mặt trời bừng tỉnh
sau giấc ngủ dài,
một chú kỳ bất tần khác lại bắt đầu.
Từng tia nắng xuân dần dần
làm tăng băng giá,
đánh thức vùng đất bưng lên sức sống mới,
sẵn sàng cho một vòng quầy khác
của tự nhiên.