Chào Mừng Các Bạn Đến Với Kênh Thiên Hà TV Video Ngày Hôm Nay Của Chúng Ta: Bí Mật Của Những Người Săn Tìm Các Ngôi Sao | Thiên Hà TV ---------------------------- -Tham gia hội viên của Thiên Hà TV để ủng hộ chương trình: https://www.youtube.com/channel/UCTniCbwkP-Hc3lSPiI9tU6Q/join - Thiên Hà TV là kênh chia sẻ những kiến thức bổ ích về khoa học vũ trụ, khoa học hành tinh, vật lý thiên văn cùng những dự án về khám phá không gian, phóng tàu vũ trụ và những công nghệ của tương lai. Nếu thấy video hay hãy like, comment, share, đăng ký kênh và nhấn vào tín hiệu chuông 🔔 để là người đầu tiên nhận được thông báo của BBT chương trình nhé! =============== - Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm bản quyền Chúng tôi không sở hữu đầy đủ tài liệu được biên soạn trong video này. Nó thuộc về những cá nhân hoặc tổ chức xứng đáng được tôn trọng. Chúng tôi sử dụng theo: Tuyên bố từ chối trách nhiệm bản quyền, phần 107 của Đạo luật bản quyền năm 1976. "Sử dụng hợp pháp" được cho phép cho các mục đích như phê bình, bình luận, đưa tin, giảng dạy. học bổng và nghiên cứu. Nếu có vấn đề về bản quyền xin liên hệ: [email protected] - Bản quyền âm nhạc thuộc: Audio Library - YouTube, storyblocks và elements envato - Bản quyền hình ảnh họa thuộc: Storyblocks và Elements envato
Comments are disabled for this video.
Những đêm trời trong chính là lúc người ngắm sao bắt đầu công việc của mình.
Họ là nam và nữ, già và trẻ, có chuyên gia và cả nghiệp dư,
người dùng kính viễn vọng, kẻ dùng ống nhòm, thậm chí chỉ bằng đôi mắt thường.
Họ cất công đi bộ vài cây dố lên các đỉnh đồi để tránh xa ánh sáng đô thị.
Hoặc cũng có người leo lên luân sân thượng hay đơn giản chỉ bước ra ngoài ban công.
Tất cả đều chung một niềm đam mê.
Nếu hỏi tại sao, họ sẽ bảo rằng vì trên đời có quá nhiều vẻ đẹp,
mà tất cả điều ta cần làm là ngước nhìn lên,
để nhớ rằng mình là một phần của thứ gì đó lớn lao hơn,
để được kết nối lại với tự nhiên và thế giới,
để được yên bình, tự tại và hướng tới mục đích,
mở rộng tri thức và chia sẻ cảm xúc với đồng bạn,
những người cùng yêu quý các vị sao.
Họ sẽ bảo rằng những người ngắm sao đã khiến bản thân mỗi người trở nên tốt đẹp hơn,
rằng khi đã hình dung ra sự rộng lớn của vũ trụ,
thật khó để ai đó tự coi mình là trung tâm.
Họ là những nhà thơ, nghệ sĩ,
những hậu bối của một dòng truyền thừa tồn tại từ rất lâu đời.
Bầu trời đêm thật kỳ diệu đối với con người,
thậm chí với cả một số loài vật.
Các nhà nghiên cứu hành vi động vật đã có bằng chứng về vài loài sống về đêm
có khả năng quan sát bầu trời
và nhận biết những điều hữu ích cho bản thân chúng.
Chi sẻ đồng, một chi chim sẻ rất đáng yêu,
có tập tính di cư về đêm.
Chúng biết định vị qua quan sát vòng xoay các vị sao xung quanh sao bắt đầu.
Dù các vị sao này quay rất chậm,
một phần tư độ mỗi phút,
nhưng chúng có khả năng nhận biết được.
Ít dễ thương hơn một chút,
nhưng không kém phần mạnh mẽ.
Một loài bão hung sống ở Nam Phi,
buổi đêm thường bới phân,
tạo thành các quả cầu để lưu trữ thực phẩm,
chống lại sự giành ăn của đồng loại.
Chúng cũng biết định vị nhờ các vị sao,
thậm chí dường như chúng biết dùng giải ngân hà làm đèn hiệu.
Tổ tiên thời đồ đồng của chúng ta
là những người cẩn mẫn quan sát bầu trời.
Hiển nhiên họ đã quan sát mặt trời và mặt trăng,
nhưng không chỉ vậy,
họ còn quan sát cả các ngôi sao và hành tinh.
Quan sát mặt trời và mặt trăng
đều hữu ích cho việc đo thời gian,
quyết định thời điểm gieo trồng và thu hoạch.
Nhưng không may là chu kỳ trái đất quay quanh mặt trời
không đơn giản là hệ số nhân của chu kỳ
giữa hai lần trăng tròn.
Hàng nghìn năm qua,
các nhà làm lịch luôn gặp khó khăn
bởi sự không tương hợp giữa năm mặt trời
và tháng mặt trăng.
Mười nghìn năm trước,
ở Scotland,
họ đào một chuỗi 12 chiếc hố
gọi là lịch Warrenfeld
nhằm theo dõi các chu kỳ mặt trăng
và căn đúng thời điểm mặt trời mọc
của ngày đông trí.
Theo đó căn chỉnh giữa năm mặt trời
và các chu kỳ mặt trăng.
Vòng Goseck ở Đức
và Gitech Stonehenge ở Anh
nằm trong số các công trình kế tiếp.
Cho tới thời đổi đồng,
Stonehenge được xây trong sáu giai đoạn
từ 3000 tới 1520 chất công nguyên.
Đầu tiên là một vòng các hố
dùng làm nghĩa trang các mộ trôn hỏa táng,
rồi trở thành một quần thể
các tảng đá dựng đứng,
xếp thành các vòng đồng tâm.
Quần thể có trục chính
chỉ về hướng mặt trời mọc ngày đông trí.
Đồng thời có những căn chỉnh
để biểu thị các điểm mặt trăng lặn
thường xuyên nhất phía Bắc và phía Nam.
Không chỉ có chức năng quan sát
mặt trời và mặt trăng
nhằm làm lịch trồng trọt.
Gitech còn chứng tỏ quyền lực
của các tù trường và thầy tế
đã cho xây dựng và được trôn cất gần đó.
Và có lẽ cũng nhằm tưởng nhớ
các tổ tiên ở cõi giới khác.
Một số vật biểu tượng khác
từng là nhân chứng cho ý nghĩa tôn giáo
và giã hội của các thiên thể
trong thời đồ đồng,
gồm đĩa trời Nepra và mũ vàng.
Đĩa Nepra
làm bằng đồng khẳng các biểu tượng bằng vàng
có niên đại khoảng năm 2000 trước công nguyên
ở nơi ngày nay thuộc nước Đức.
Hình khẳng vàng mô tả
mặt trăng khi tròn vào khuyết
cùng tròn sao Pleiades là hình vẽ
thiên văn sớm nhất được biết đến của con người.
Có thể coi là một đồng hồ thiên văn
để theo dõi lịch mặt trăng
trước hàng nghìn năm so với các phương thức
được biết đến khác.
Các mũ vàng được làm từ các miếng vàng mỏng
hình nón phủ lên mũ
làm phổ hiệu tôn giáo của các thầy tế
theo một tiếng ngưỡng thơ mặt trời
từng phổ biến ở Trung Âu.
Có bốn chức mũ như vậy được biết đến ngày nay,
niên đại từ 1.400
đến 800 chức công nguyên.
Suốt chiều dài lên tròng mũ
được quấn các giải trang trí
chủ yếu là các đĩa và vòng đồng tâm,
đôi khi là các bánh xe.
Những trang trí đều thể hiện
trình tự có hệ thống về số lượng
và chủng loại trên mũi giải.
Mũi nghiên cứu chi tiết cho thấy
chúng cho phép sử dụng một thuật toán phức tạp
để tính các ngày tháng
của cả lịch mặt trời và mặt trăng.
Những thế kỷ tiếp theo
thiên văn học có sự phát triển quan trọng
ở Babylon, trung tâm lưỡng Hà
và hình thành một chức năng xã hội
quan trọng mới.
Tìm các tín hiệu từ các vị thần cảnh báo
các cuộc chiến, thảm họa mất mùa
và dịch bệnh.
Những người ghi chép tại các điện thờ,
thường là các thầy tế,
có nhiệm vụ nhìn lên bầu trời hàng đêm
và ghi lại các quan sát trên những bảng đất Z.
Tới thế kỷ thứ bảy trước công nguyên,
các nhật ký thiên văn
đã ghi lại những sự kiện
như lần xuất hiện đầu tiên của sao trổi Hanley
hay khi các hành tinh di chuyển
qua tròm Leades,
khi sao kim tái xuất hiện sau chú kỷ
bị ẩn đi bởi ở quá gần mặt trời
hay khi sao mộc có vẻ đứng im
và bắt đầu di chuyển lùi.
Vào khoảng 300 trước công nguyên,
những người ghi chép tại điện thờ
đã có khả năng dùng các thuật toán phức tạp
để dự đoán hành vi
của các hành tinh.
Tuy muộn hơn một chút,
nhưng thiên văn học cũng có sự phát triển sớm
ở Trung Hoa.
Các ghi chép quan sát thiên văn chi tiết
được lưu trữ từ khoảng 6 thế kỷ trước công nguyên
và tới thế kỷ thứ tư trước công nguyên.
Gandhi và Zizen
được coi là những người đầu tiên trên thế giới
lập nên hồ sơ các ngôi sao
và ghi lại những quan sát bằng mắt thường
về Ganymede,
một mặt trăng của sao mộc
và những đốm đen trên mặt trời.
Ở Trung Hoa,
hoàng đế được coi là thiên tử
và việc theo dõi lịch hay khả năng dự đoán
trước nguyệt thực và nhật thực
là rất quan trọng.
Nhiều thư tịch thiên văn khác nhau
được viết mỗi khi có tân hoàng đế lên ngôi,
kèm theo dự đoán các lần nguyệt thực,
nhật thực và sự di chuyển các sao.
Các nhà thiên văn học Trung Hoa
giống như người Babylon trước đó
và không giống người Hy lạp
và châu Âu sau này.
Chủ yếu quan tâm đến quan sát
và ghi chép lại các sự kiện riêng lẻ
như sao trồi,
tân tinh, mưa sao băng,
nhật thực và đốm mặt trời
hơn là khám phá các quy luật
ẩn dưới những hiện tượng này.
Cụ thể, họ ghi chép tỉ mỉ
sự xuất hiện đột ngột,
thứ gọi là sao khách
giữa những sao cố định.
Họ là những người đầu tiên ghi lại vụ nổ siêu tân tinh
năm 185 trước công nguyên.
Hay khá muộn hơn sau này,
vào năm 1054,
họ chứng kiến sự hình thành
tinh văn con cua.
Ấn Độ và Ai Cập
là các ví dụ của những nền văn hóa khác
nơi thiên văn học phát triển,
có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội
và tôn giáo.
Người Ai Cập dùng các ghi chép thiên tượng
để dự đoán
và theo đó chuẩn bị trước các trận luật ở sông Ninh.
Họ xây các kiếm tự tháp
và đền thờ khổng lồ
dựa theo vị trí thiên văn,
như đại kiếm tự tháp ghi ra,
thẳng hàng với sao bắt đầu.
Hàng nghìn km về phía nam
là vòng tròn đá Napta Playa
được xây dựng hơn 7.000 năm trước
bởi những người du mục
thực hành một tiếng ngưỡng thờ gia súc
nhằm đánh dấu mốc ngày hạ trí
và các đợt gió mùa xuất hiện.
Ở châu Mỹ,
các cuộc xâm lược của người châu Âu
và nhà thờ Thiên Chúa Giáo
làm rụt đổ các nền văn hóa tỉnh Columbus
và gây khó khăn cho việc phục dựng,
thuyết phục lịch sử trước đây.
Tuy nhiên, có những căn cứ nghiên túc
cho thấy người Maya gắn lịch
và các nghi lễ của họ với các thiên tượng.
Một số công trình quan trọng
của người Maya được coi là hướng
về phía sao kim mọc và lặn.
Người Maya cổ đại coi sao kim
là thần bảo trợ chiến tranh
và nhiều cuộc chiến được ghi lại
khớp với chuyển động của hành tinh này.
Người Hy Lạp cổ là những người
ngắm sao đầy nhẹ bén.
Họ dựa vào thiên văn để tổ chức
việc làm nông và định vị hải trình.
Nhưng đóng góp lớn nhất họ mang lại
là nỗ lực lý giải những gì được nhìn thấy.
Không chỉ quan sát và ghi chép
sự di chuyển các thiên thể,
họ tìm cách thấu hiểu
tại sao và như thế nào đằng sau trật tự ấy.
Họ bắt đầu biến việc
ngắm sao thành một môn khoa học.
Khoảng 270 trước công nguyên,
nhà toán học và thiên văn học
Eris Tatras, sứ Samos
nhận định chính xác rằng
mặt trời thay vì trái đất
mới là trung tâm của hệ các hành tinh,
rằng trái đất cùng các hành tinh khác
quay quanh mặt trời
và rằng trái đất xoay quanh trục
của trình nó. Nhưng ông đã đi
trước thời đại của mình quá xa
và ý tưởng đã bị chối bỏ.
Phải 18 thế kỷ sau mới được
Copernic khôi phục.
Những thập kỷ sau,
nhà thờ Thiên Chúa Giáo quản thúc Galileo
tại gia và thiêu sống
Giordano Bruno vì tội
ủng hộ thuyết nhật tâm của Copernic.
Phải mất 7 thập kỷ sau đó
Kepler mới xuất bàn các định luật
về chuyển động của các thiên thể.
Quả thực, trong gần 1.000 năm
kể từ sự sụp đổ đế quốc La Mã
tới thời Phục Hưng,
thời đại Trung Cổ phủ bóng đêm lên châu Âu,
trái ngược với thế giới Hồi giáo
nơi có những bước phát triển văn hóa
sáng lặn. Đặc biệt,
giai đoạn được coi là kỷ nguyên vằng
từ thế kỷ IX tới XIII.
Nó lan tỏa từ Trung Đông sang Trung Á,
Tây Ban Nha, Bắc Phi,
sau này sang cả Viện Đông và Ấn Độ.
Nó ngăn chặn sự biến mất
những trí thức con người tiết lũy được
trong các thế kỷ trước bằng cách
nuôi dưỡng sự hồi sinh của khoa học.
Ở Pata,
ngôi nhà của trí tuệ,
một thư viện cổng lồ và viện hẳn lâm
được Alma Mun dựng lên,
đóng vai trò quan trọng
hỗ trợ và phát triển ngành thiên văn học.
Bên cạnh tạo những bảng ghi chép
chuyển động của mặt trời, mặt trăng
và các hành tinh,
các nhà thiên văn hồi giáo bắt đầu phản biện lại
thuyết nhật tông của Ptolemy
và duy trì một số quan sát sử dụng
các thiết bị tân tiến.
Ảnh hưởng của họ mở rộng ra cả thế giới.
Đa số các nền văn hóa cổ
đều có những nhận diện hình ảnh
các tròm sao. Số tích của một
danh một sao được tìm thấy ở thung lũng sông
Euphrates, gợi hình ảnh của một con
sư tử, một con bò đực
và một con bọ cạp.
Những tài liệu tham khảo mới nhất về các tròm sao
có thể được tìm thấy trong Iliad
khoảng 27 thế kỷ trước.
Trong đó Homer
mô tả việc thần lửa tạo ra tấm kiên
Archins khi tất cả
các tròm sao ngựa trên bầu trời.
Leades và Hyades,
Orion hùng mạnh và gấu,
loài duy nhất không xuống tắm
ở đại dương.
Quả thời gian
đa số các tròm sao được gắn với những huyền
thoại. Các ngôi sao không chỉ được
gắn với các vị thần và người anh hùng
mà hơn thế tự thân chúng
được coi là linh thiêng.
Trên thực tế chính các
truyền thuyết và huyền thoại kể cho chúng ta nghe
về các tròm sao. Bởi
con người mọi thời đại đều tìm cách
giải mã các tròm sao này dựa trên
kiến thức họ sẵn có.
Những huyền thoại và truyền thuyết
phong phú ở khắp nơi trên thế giới
dệt tan vào nhau trên bầu trời sao.
Với người Hy Lạp,
các ngôi sao là nơi chứa đựng văn hóa dân gian
và thần thoại. Hình ảnh
các tròm sao là của các vị anh hùng
và quái vật, được nhận một vị trí
giữa các vị sao để tôn vinh
những việc họ làm trên trái đất.
Họ được coi là những linh hồn bán
thần, sống, có ý thức
và bước qua các tầng trời.
Bầu trời của người Ai Cập chứa đầy
hình ảnh các động vật, những biểu tượng
và thần linh quan trọng trong kiến giải
của họ về vũ trụ.
Với họ, người chết tiếp tục sống
trên các vị sao, được thống trị
bởi Osiris gắn với tròm
Orion. Những
con chim linh hồn Đại Bằng, Quả,
Thiên Nga và Công
mang linh hồn họ tới các ngôi sao.
Tiểu biểu trong thần thoại
Việt Nam là sự truyền thể
từ truyền thuyết của Trung Hoa về Nhiêu Lang
và Chức Nữ. Hai người yêu nhau
được đồng nhất với các vị sao
Vega và Anthe. Họ
bị chia tách, sống ở hai phía đối diện
của dòng sông trời, dài Ngân Hà.
Ngoại trừ ngày 7 tháng 7
âm lịch, một đàn chim ắc là
sẽ bắt cầu qua sông để họ
đoàn tụ trong một ngày.
Tài liệu tham khảo sớm nhất được biết đến
về huyền thoại này bắt nguồn từ một bài thơ
từ hơn 2.600 năm trước.
Ngày 7 tháng 7 âm lịch
là ngày lễ Quì Xi ở Trung Quốc
dành cho những cặp tình nhân trẻ
giống như ngày lễ tình nhân ở phương Tây.
Ở Nhật Bản,
ngày này được gọi là Tanabata.
Ở Hàn Quốc là Chuseok.
Còn ở Việt Nam gọi là Thất tịch.
Nếu hôm đó trời mưa
thì đó là những giọt nước mắt
hạnh phúc của chất nữ
khi đoàn tụ với người yêu.
Được coi là những vị thần,
các ngôi sao trở thành có chức năng
phục vụ những lời tiên tri.
Hầu hết mọi tôn giáo đều sử dụng
một số hình thức chân tinh để kiến giải
về ảnh hưởng của các sao tới cuộc sống
con người. Hầu hết các nền văn minh
cổ đại tin rằng việc quan sát
chuyển động của các hành tinh có thể
giúp dự đoán tương lai và xác định
hướng đi trong cuộc đời mỗi cá nhân.
Việc ngắm sao ảnh hưởng đến
các quyết định hàng ngày trong
thời Trung Cổ ở châu Âu,
từ khoảng 5.500 đến 1.500.
Các học giả thời Trung Cổ
tiếp thu lời dạy của người Ả Rập rằng
các hành tinh ảnh hưởng đến số phận
của con người thông qua vị trí
của chúng trên bầu trời.
Các sinh viên y khoa, chiết học
và thậm chí cả thần học
quan sát cẩn thận mối quan hệ
chim tinh giữa 12 cung hoảng đạo
và sức khỏe thể chất, tinh thần
và tâm linh của một người.
Thật vậy, nhiều tôn giáo tin rằng
mặt trời dạng dỡ, mặt trăng tròn,
những ngôi sao lấp lánh
và các hành tinh xa xôi
có sức mạnh to lớn đối với cuộc sống,
các mùa và hoạt động hàng ngày của họ.
Họ cố gắng dự đoán tương lai
từ vị trí của các hành tinh.
Qua thời gian, môn chim tinh bói toán này
phát triển, biến đổi
thành thiên văn học của ngày nay.
Ở Việt Nam ngày nay vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc
cùng nhiều sự mê tín gắn với
phong thủy và tử vi.
Những môn thực hành xuất xứ
từ Trung Hoa cổ với kiến giải rằng
có thể dùng các năng lượng
để hòa hợp con người với môi trường.
Theo đó, mặt trời là chúa tể
của cả thế gian, tác động tới
mọi chuyện vui buồn của chúng ta.
Các sao là các vị thần
phụng sự mặt trời, trong đó
có sao tốt và sao xấu.
Những ngày được quản bởi các vị thần tốt
sẽ là ngày may mắn,
thích hợp để làm những việc quan trọng.
Mọi việc theo đó sẽ thuận lợi
và thành công, tránh được rủi ro
và tai họa. Trái lại,
vào những ngày hác đạo quản bởi
các vị thần xấu, nên tránh làm
những việc hệ trọng như xây nhà
hay cưới gà để tránh vận dùi
và thất bại.
Trên khắp thế giới, các ngày trí và điểm
phân của các mùa luôn là dịp
tổ chức các lễ hội và lễ kỷ niệm lớn.
Ngày Hạ Trí,
một tham chiếu để dự đoán thời điểm trồng
và thu hoạch cây trồng, đi kèm
về các lễ hội như Kronia ở
Hy Lạp cổ đại, tôn vinh thần
nông nghiệp Tronos hay
Vestalia ở La Mã cổ đại,
tôn vinh thần Vesta,
nữ thần Lò Sười. Ở Trung Quốc
cổ đại, đất, tính nữ và âm
được tôn vinh trong Ngày Hạ Trí,
trời, tính nam và dương
trong Ngày Đông Trí.
Các bộ lạc Mỹ bản địa
cũng có các nghi lễ giữa mùa hè.
Họ nhảy múa quanh một cái cây
và mặc những màu sắc tượng trưng.
Ở La Mã cổ đại,
lễ hội Saturnalia
mừng Ngày Đông Trí, tôn vinh thần
nông nghiệp giao thổ.
Nhiều truyền thống và yếu tố trong lễ Giáng sinh
ngày nay được kế thử từ đó.
Và từ Jun, lễ mừng Ngày Đông Trí
của các cư dân Scandinavia
và Đức cổ xưa.
Với người Inca, Ngày Đông Trí
xảy ra vào tháng 6,
còn với lễ hội Inchi Rémi
dành cho thần mặt trời.
Tương tự, người Hy Lạp
mừng Ngày Thu Phân,
khi nữ thần Pesephone trở về âm phủ
để đoàn tụ với chồng là thần Hades.
Ngày trăng tròn gần nhất với Thu Phân
được người Trung Hoa cổ đại
gọi là Trăng Thu Hải
được mừng bằng một lễ cúng mặt trăng.
Xuân Phân ấn định phục sinh
vào ngày Chủ nhật sau Trăng Tròn
và tượng nhân sư Ai Cập
được xây hướng về nơi mặt trời mọc
trong Ngày Xuân Phân.
Nói về thế giới của những người ngắm sao,
ta cũng nên dành đôi lời
cho các dụng cụ thiên văn.
Trước thế kỷ 17,
thời điểm kính thiên văn được phát minh,
đa số các dụng cụ nhằm đo phương hướng,
cụ thể là hai góc độ,
nơi các thiên thể được quan sát
và thời điểm quan sát.
Đồng hồ nước sử dụng dòng chảy
từ nơi nhận này sang nơi khác
qua một vòi vuông để đo thời gian
và đồng hồ mặt trời xuất hiện
ở Ai Cập và Babylon
vào cuối thời Đồ Đồng,
làn sang các nền văn minh khác,
độc biệt được cải tiến ở Trung Hoa
và thế giới Hồi giáo.
Trong thiên niên kỷ thứ nhất sau Công Nguyên,
đồng hồ cắt đo thời gian
từ dòng cắt mỏng chảy xuất hiện
ở châu Âu và đồng hồ hương
sử dụng cây hương cháy đều
cũng như đồng hồ nến xuất hiện
ở Trung Hoa.
Phải tới thế kỷ 14,
con người mới có đồng hồ thuần cơ khí
chạy bằng một vật nặng
và điều chỉnh bằng con lác.
Chúng giúp cải thiện độ chính xác và sự tinh sảo,
độc biệt với các đồng hồ thiên văn
hiển thị những thông tin,
nhiều vị trí tương đối của mặt trời,
mặt trăng, các tròm sao hoàng đạo
và những hành tinh chính.
Astrolabe, thiết bị tính toán
analog có nguồn gốc Hy Lạc cho biết
những thông tin như thời điểm mặt trời
và các ngôi sao mọc hay lặn
hay độ cao của mặt trời
tại thời điểm cao nhất trên mặt nước biển.
Nó được sử dụng rộng rãi
ở thế giới Hồi giáo thời Trung Cổ.
Loại máy tính Astrolabe
tinh sảo theo dõi thời gian
với cơ chế hộp số được chế tạo
ở Ba Tư vào thế kỷ 11.
Cơ chế Antikythera
có lẽ được phát minh bởi Archimedes
là một mô hình điện tâm
có thể dự đoán các châu kỳ mặt trăng
và nguyệt thực.
Nó nằm dưới đáy biển trong hơn 1.000 năm trước
khi được tìm thấy từ một sác tàu đắm
ngoài khơi đảo Antikythera
của Hy Lạp năm 1901.
Một số thiết bị
giúp phổ biến kiến thức thiên văn
và biểu diễn chuyển động tương đối
của các thiên thể.
Hỗn dịch cầu, một mô hình cầu một không hình cầu
với các vòng trung tâm là trái đất
hoặc mặt trời
được phát minh riêng biệt
ở Trung Quốc cổ đại, có thể sớm nhất
là vào thế kỷ thứ tư trước công nguyên
và ở Hy Lạp cổ đại
trong thế kỷ thứ ba trước công nguyên
và sau đó được sử dụng
trong thế giới Hồi giáo
và châu Âu thời Trung Cổ.
Một ví dụ khác là Oray,
mô hình cơ học của hệ mặt trời,
sự đoán vị trí và chuyển động tương đối
của các hành tinh và một số mặt trăng
của chúng. Nó thường được vận hành
bởi cơ chế hoạt động nồng hồ
với một quả cầu tượng trưng cho mặt trời
ở trung tâm và với một hành tinh
ở cuối mỗi cánh tay.
Các quả cầu thiên thể còn được sử dụng
trong việc định hướng và trở nên phổ biến
trong các chuyến thắm hiểm dài ngày vượt biển.
Một thế kỷ trước,
các nhà thiên văn vẫn đang làm công việc
nối lên dòng chảy những quan sát bắt đầu
từ năm thiên niên kỷ trước.
Họ nhìn vào những tấm ảnh chụp
bầu trời đêm, trung thành với di sản
của những tiền bối lễ lừng,
rồi bộng nhiên mọi thứ trợt thay đổi.
Các nhà vật lý, hóa học
và thậm chí sinh vật học cũng bước chân
vào lĩnh vực này.
Chẳng mấy chốc, vật lý lượng tử
và thuyết tương đối làm đảo lộn hình dung
của chúng ta về vũ trụ.
Các loại thiết bị, kính thiên văn điện tử,
radio, hồng ngoại, cực tím,
tiê x, tiê y,
từ mặt đất vào không gian
cùng tham gia cuộc khám phá.
Các siêu máy tính được chế tạo
để phân tích các quan sát mới.
Rồi một loạt những câu hỏi mới xuất hiện
đến nay vẫn chưa có lời đáp.
Thay vì đặt tên chúng theo các vị thần,
người ta giờ gọi chúng bằng những cái tên
bị chuyển như vật liệu tối,
năng lượng tối, Big Bang,
giãn nở, thang lenh.