Mộ Đá Cổ Quận Công Phạm Đôn Nghị vẻ đẹp hoàn hảo còn nguyên vẹn nhất Hoài Đức #hnp.mp4
Anh Đức
212 người theo dõi
1 Lượt xem video·10 thg 3, 2025
Duy Hà Nội Phố xin bến chào quý vị và các bạn
Chào mừng quý vị và các bạn đến với xóm gạo
xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
Hiện tại Duy đứng ở đây thì cách trung tâm thành phố Hà Nội
khoảng hơn 30 km
Thưa quý vị, xã Lại Yên là một trong những
nơi mà người Việt cổ đã định cư ở đây
khá là lâu lắm rồi
Ở phía sau của quý vị đây, đây là lăng mộ của quận Công Phạm Đôn Nghị
Đây, được xem như là một trong những lăng mộ cổ
có giá trị và còn nguyên vẹn tại huyện Hoài Đức
Duy mời quý vị và bạn cùng Duy chúng ta vào
chìm ngưỡng lăng mộ cũng như là tìm hiểu
về quận Công Phạm Đôn Nghị nhé
Đây là am thờ của người và ngay phía đằng sau am thờ này
là
nơi trôn cất của cụ
Trước khi quý vị xem tiếp cũng như tìm hiểu về
lăng mộ đá sóng gạo này
Quý vị nhớ ủng hộ kênh bằng cách nhấn like cũng như chia sẻ video nhé
Đừng quên nhấn đăng ký kênh youtube Hà Nội phố để đón xem những video mới nhất
Cảm ơn quý vị
Lăng mộ đá sóng gạo
Ở địa chỉ số 12, thôn 1, xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
Đây là lăng mộ của quận Công Phạm Đôn Nghị
Lăng được xây dựng vào năm 1734
Chất liệu chủ yếu bằng đá xanh và đá ong
Lăng mộ đá Phạm Đôn Nghị là một trong những di tích đẹp trong các lăng mộ
quần lại được xây dựng trong thế kỷ thứ 18
Đây có thể được xem là quần thể lăng mộ thế kỷ thứ 18 đẹp nhất ở huyện Hoài Đức, Hà Nội ngày nay
Và còn tồn tại khá nguyên vẹn
Khi tới đây, quý khách sẽ ngạc nhiên khi tận mắt chiêm ngưỡng
toàn bộ khu lăng tầm kết thành một khối kiến trúc
được bao bọc bằng một bức tường đá ong dày gần 1 mét
Khu lăng mộ được xây dựng rất kiên cố
Trải qua 3 thế kỷ, dường như vẫn giữ được những nét kiến trúc ban đầu
Lăng mang nhiều nét uy nghi, diễm lệ và mang đậm những dấu ấn và ý nghĩa lịch sử
cũng như giá trị văn hóa nghệ thuật
Lăng đá xóm gạo, lăng đá lại yên
mang những giá trị nghệ thuật, kiến trúc bằng đá quý hiếm
đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng
và đã được cấp bằng di tích lịch sử văn hóa từ ngày 13 tháng 1 năm 1964
Phạm Đôn Nghị là một võ quan
sinh năm 1728 mới năm 1789
từng làm trưởng đốc Sơn Tây và đốc lĩnh Hải Dương, Kinh Bắc
từng là quan kinh lý giữ yên bờ cõi và bình định các cuộc nổi dậy
có công lớn trong việc chấn giữ vùng Lao Bảo, Quảng Trị
nên được phong tước cuộn công
Lăng của ông được gọi là Lăng Ông Cuộn
Thưa quý vị, lăng mộ không chỉ là những di tích để tưởng niệm người chết
mà còn phản ánh nhiều kế cạnh
quan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan của người đương thời về sinh tử
Ngoài ra, việc xây cất lăng còn phản ánh các giá trị nghệ thuật điêu khắc
và kiến trúc của thế kỷ ấy
Trong vô số các lăng mộ quan lại được xây dựng trong thế kỷ thứ 18
Lăng Phạm Đôn Nghị, một cuộn công thời Hậu Lê
là một di tích đẹp, khá nguyên vẹn còn tồn tại đến ngày nay
Lăng được xây dựng cách đây gần 300 năm
Công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo này
được xem là khu quần thể lăng mộ thế kỷ thứ 18 đẹp nhất ở huyện Ngoài Đức
Nếu lăng mộ từ thời Lê Sơ về trước
dường như chỉ có vua hay các bà hoàng mới được xây lăng
rất hãn hữu mới có lăng đại thần
thì sang thời Hậu Lê lại có chiều hướng phát triển ngược lại
Gia đoạn này, trong hệ thống quản lý quốc gia bên cạnh vua Lê
lại có thêm chúa trịnh
Đáng ra sẽ có cả một hệ thống lăng mộ của vua Lê và chúa trịnh
Nhìn thực tế, các lăng mộ vua, chúa còn lại đến ngày nay
với niên đại thời Hậu Lê còn có số lượng rất ít
Một vài lăng mộ có quy mô hơn cả như lăng chúa trịnh doanh
ở Nga My, Thành Hóa lại càng hiếm
Và trên một cơ sở nào đó quy mô của lăng mộ này
có phần tương tự hoặc lớn hơn không nhiều so với các lăng còn lại
Điều này được các nhà nghiên cứu giải thích
trên quan điểm lịch sử đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh nội chiến
và bởi sự chiếm quyền lẫn nhau trong xã hội
Vua Lê thì buồn nhìn và chúa trịnh nắm quyền thế
Các thiết lực này không thể quan tâm một cách sâu sắc
đến việc xây lăng mộ cho chính bản thân mình
Hơn nữa việc trả thù cá nhân của các triều đại tiếp theo
khiến rất có thể vua chúa có lăng nhưng cũng không thể tồn tại đến bây giờ
Hoặc việc xây lăng nhưng lại ẩn danh như trường hợp lăng chúa trịnh doanh
nhưng phải lấy tên là Thái Phi Ngọc Diêm
Mặt khác, các quan đại thần nắm giữ quyền lực trong tay
để củng cố cho địa vị của mình
đã tự mình xây dựng lăng mộ cho bản thân tại quê hương Bản Quán
Có lẽ ở thế kỷ thứ 18, việc xây lăng mộ đã trở thành phong trào
Nó cũng giống như việc cúng tiến tiền để xây đình, chùa
đặt làm tượng hậu để thờ
ý nghĩa của việc lưu danh hậu thế đã khiến người ta không rè sẻng tiền của
Vậy nên các lăng cuộn công xuất hiện chiếm một số lượng lớn như
Lăng Phạm Ấn Trực Hà Tây năm 1713
Lăng Cuộn Thạc Thanh Hóa năm 1716
Lăng Dinh Hương Bắc Giang năm 1729
Lăng Họ Đỗ Băng Ninh năm 1734
Lăng Phạm Đôn Nghị Hà Tây xây năm 1734
Lăng Phú Đa Vĩnh Phúc xây năm 1767
Lăng Nguyễn Diễn Băng Ninh xây năm 1769
Lăng Phạm Huy Đĩnh Thái Bình năm 1772
Các lăng này có phong cách và quy mô ít nhiều tương đồng nhau
Và hình ảnh quý vị đang xem là lăng mộ đã Phạm Đôn Nghị
Có lẽ cũng không nằm ngoài những mô tức chung cho việc xây cất lăng mộ ở thế kỷ thứ 18
Nhưng so với rất nhiều lăng mộ tồn tại hiện nay
Nó lại nằm trong số ít các lăng còn nguyên vẹn với các giá trị về nghệ thuật cũng như kiến trúc
Quần thể lăng mộ Phạm Đôn Nghị có hướng tây nam
Rộng khoảng 850m2
Chiếm một bãi đất rộng ở đầu lảng
Tạo một không gian thoáng đãng
Nét tỉ mịch phủ màu thời gian trên lăng
Nhưng không hoang sơ chìm vào trong quyền lãng như những lăng mộ khác
Mà lăng Phạm Đôn Nghị được con cháu thay nhỏ trồng coi, nhang khói
Bên trong cổng là một khoảng sân rộng
Có nhiều cây xanh quanh năm sò sạc
Tạo cho không gian lăng mộ lúc nào cũng yên tĩnh và trầm lặng
Tương truyền Phạm Đôn Nghị là cháu gọi Phạm Mẫn Trực bằng cậu
Tổ tiên vốn mang họ Nguyễn
Bố là Nguyễn Quý Công
Húy Đổ
Tự viết tiến
Thụy Phúc Lương
Được phong tặng làm mẫu Lâm Lăng Thái Nguyên
Sứ Tán
Trị Thửa
Tránh Sứ Ti
Tham Nghị
Ân Trung Tử
Mẹ là Phạm Quý Thị Húy Du
Hiệu từ Thái là trưởng nữ trong một gia đình
Có ba người con
Gồm một trai và hai gái
Phạm Đôn Nghị là con thứ trong một gia đình
Có sáu anh chị em
Gồm bốn trai hai gái
Sinh giờ nhâm Tuốt
Quý xỉu ngày 15
Bính dần tháng riêng
Năm giáp Tuốt
Tức năm 1694
Đổi theo hòa mẹ
Phạm Đôn Nghị
Được Vương Thượng Ân Sùng
Đến mùa thu năm Bính Ngọ
Lúc ngày 33 tuổi
Vâng bệnh được sai theo hầu Thái Phì
Ngày đêm làm việc rất xứng đáng
Với sự sai khiến
Được Vương Thượng yêu thường
Nhiều lần được hưởng ơn riêng
Cai quản các đội thuyền nội chủ
Tiểu Thủy
Năm ông 37 tuổi
Được thăng chức hữu đề điểm
Lại cho được làm tùy sai
Lệnh sử nhất phiên
Cai quản đội thị hậu nội lực sĩ
Năm 38 tuổi
Ông được thăng chức tả thiếu giám
Chưa đầy một năm
Ông được giữ chức chiên lệnh sử nhất phiên
Thăng chức thị nội giám
Tước hầu
Ông lại được truy ân thăng chức đồng chi giám sự
Năm 41 tuổi
Ông được giữ chức thị hầu hậu nhất
Cai quản các đội thuyền
Kiêm chức chiên lệnh sử nhất nhị
Phiên tăng
Thêm quyền lợi và ơn huệ
Và tiếp tục được thăng chức
Thiêm thái giám
Đồ thái giám
Tổng thái giám
Rồi chức thêm chi thi nội
Thư tả hình phiên
Năm 47 tuổi
Vâng Mệnh Vương Thượng trở về phó tá
Và đã có công lớn
Nên được bàn chức tuyên lực công thần tước quận công
Thăng chức tham đốc
Rồi chức phó chi thi nội
Thư tả hộ phiền
Quản thị hậu vệ Hiếu Thủy Cơ
Vâng làm đốc lĩnh các đạo Hải Dương
Kinh Bắc
Thăng chức Hiếu Hiệu Điểm Vâng
Làm trưởng đốc xứ Sơn Tây
Năm 49 tuổi
Vì bàn bạc việc nước
Và cung tiến tiền bạc
Ông được thăng chức đố đốc thiêm sự
Năm 50 tuổi
Ông được thăng chức đô hiệu điểm
Rồi thăng đến chức thiếu bảo
Năm 51 tuổi
Được làm chức chi thi nội
Thư tả hình phiền
Quản hữu tượng cơ
Tạm quyền chức phó
Đề lĩnh tứ thành quân vụ sự quản
Các cơ tả tượng
Tiền hùng làm đốc lĩnh đạo Đông Bắc
Lại vâng lệnh làm thống đốc đạo An Sơn
Năm 52 tuổi
Được thăng chức thiếu phó
Vâng lệnh làm trấn thủ xứ Sơn Tây
Theo lời kể của các bố lão ở làng
Thì trước đây toàn bộ tường xây bao quanh làng đều bằng đá ong
Cao gần 2 mét
Nhưng hiện nay tường đá ong này không còn
Mà được xây lại bằng gạch
Chỉ cổng bên trái bằng đá là con dấu vết của đá ong cũ
Cổng bên phải được tôn tạo thêm bằng đá ong mới
Vào năm 1999
Dòng họ Phạm xây dựng thêm một tòa nhà nam gian làm nơi thờ
Bước qua gian thờ mới xây
Quý khách đến thăm sẽ phải dừng sốt
Khi bắt gặp toàn bộ khu làng tầm
Kết thành một khối kiến trúc
Cũng như được bác bọc bằng một bức tường đá ong
Dây gần 1 mét
Chạy thẳng vào trong sân
Là trục linh đạo được đổ bê tông
Chiều dài 23,5 mét
Chiều rộng 1,96 mét
Ở hai bên của con đường là vườn rộng trồng cọc và cây ăn quả
Hai bên có hai cổng phụ
Dùng làm nối đi thường xuyên vào làng
Cổng bên trái trước đây đã bị hỏng
Này được thay thế bằng cổng mới
Có kiểu dáng và kết cấu kiến trúc giống như cổng gốc
Cũng được làm bằng đá ong
Và kết dính bằng vật liệu hiện đại
Cổng bên phải vẫn còn giữ được như xưa
Với cột làm bằng đá xanh
Máy làm bằng đá ong
Trên chán cổng có dòng chữ hiền, linh bộn
Tiếp đến là sân
Của nhà tiền thế
Với chiều rộng 4,91 mét
Chiều ngang 11,4 mét
Được lắt gạch bát trạng
Xung quanh sân là hàng gạch xây cao
Có tính chất bó vỉa
Bổ các trụ nhỏ ở góc
Cuối sân là một nếp nhà 3 dàn 2 trái
Được làm lại trên nền cũ của nhà tiền thế
Năm ra trước đây
Toàn bộ tòa tiền thế
Nền nhà lắt gạch xung quanh bó vỉa bằng đá xanh
Từ nhà tiền thế vào đến cửa lăng
Phải đi qua một khoảng sân hẹp được lắt đá xanh
Ở 2 bên có 2 bể nước hình chữ nhật biến thể
Vát ô vàn 2 đầu
Được làm từ phiến đá liền khối
Phía trước 2 chân cột cổng dẫn vào lăng
Có 2 con chó đá được chạm khắp
Theo lối tả thực mang phong cách nghệ thuật
Thời lê mạt
Đôi chó đá được tạc ở 2 bên cổng
Như một quy cách chung
Nhằm bảo vệ trật tự trị an
Ngày đêm canh chừng
Đôi chó được tạc mập mạp
Ngồi phụ phục trên bệ
Cổ đeo chuông nhạc với vòng nhạc tròn
Thể hiện kỹ thuật chạm nổi với chính độ cả
Cổng lăng được tạo dựng bởi
Các phiến đá lắp ráp lại với nhau
Máy cổng mô phỏng dạng máy đỉnh
Chùa với bờ nóc
Bờ dài được làm từ những biên đá ong
Ngọt đéo, cẩn thận, cầu kỳ và tỉ mỉ
Trên chán cổng là
Một tấm bia đá lớn được tạo ô
Mang chức năng như một bức đại tự
Với dòng chữ hiển linh tử
Cùng các hoa văn trang trí đơn giản
Nhưng rất đẹp do các nét chạm khắp mềm mại
Bước qua cổng là
Đến phần thơ tự
Theo trục dọc
Chính giữa là hương án được làm từ
Tấm đá nguyên khối hình vuông
Có trang trí các hoa văn hình
Vân mầy, sóng nước, dòng cuốn
Thủy trầu, chữ thọ
Toà thơ nằm ở chính giữa
Của trục linh đạo
Nơi tiếp giáp giữa khu thở và phần mộ
Toà thơ là kiến trúc bằng đá
Đồ sộ nhất so với các công trình trong làng
Máy dạng long đỉnh
Với đường bờ nóc dài hơi cong
Hai đầu kìm là hình dòng
Với tư thế ngoảnh đầu ra 2 hướng
Đuôi hướng về nhau
4 phía là các đầu đào dạng rồng lá
Hóa rất đẹp
Phần cột và tường của toà thở
Được lắp ghép bởi 3 tấm đá xanh dày
Liên khối
Phía ngoài giật cấp để tạo thành các ô trống không trang trí
Phía dưới là đồ án
Hoa văn, hoa thị, sen kẽ
Với mây trong dạng hình cánh sen
Các đồ án
Có bổ cục khá trình tru, cân đối
Mặc dù các họa tiết được lặp đi
Lặp lại nhưng không gợi sự nhảm chán
Các nghệ nhân chạm khoác
Đã khéo léo sắp xếp hợp lý
Giữa mảng lớn nhỏ
Giữa vị trí đặt để trên và dưới
Nên khiến cho người xem lại cảm thấy
Rất vui mắc
Các đằng thờ bằng đá hình chữ nhật cao khoảng 1 mét
Khối đặc, chạm trổ tinh vi
Xung quanh mặt bàn khắp
Vân kỷ, hà lồng
Móc vào nhau, đăng đối
Song song với việc tạo ra cách thức chạm khắc
Cân đối và đăng đối trong các mẫu thức
Hoa văn trang trí
Thì bổ cục lăng cũng có tính cách hòa điệu như vậy
Sự đăng đối hai nửa phải trái
Hình thức kiến trúc lăng
Và các lớp cửa trước sau
Đã tạo nên sự tân nghiêm cho khung cảnh tĩnh mịch này
Trong hệ thống tẩm thờ
Ngoài những bệ, sập, ngai thờ
Còn có hệ thống các tượng người
Và thú xếp từng đôi
Một cách đối nhau
Qua trục đường thần đạo
Các tượng này được làm bằng đá xanh
To bằng kích thước người tực
Gây cho người đời sau linh tưởng tới
Công khí trang nghiêm của cảnh phục dịch
Khi nhân vật được thờ còn sống
Trong các dạng trạm khắp lăng
Nói chung dù là hình tượng người hay thú
Phổ biến là hình ngựa
Voi và chó
Được trạm ở dạng tĩnh lặng
Thường ở dạng đứng đồn chiếc độc lập
Nhưng tượng ở lăng Phạm Đôn Nghị
Lại là một trong số ít trường hợp đặc biệt
Là các tượng này được bố trí thành nhóm
Đặt cạnh nhau
Điển hình là phò tượng người và ngựa
Cặp đôi tượng người ngựa này
Có một sự tương đồng với lăng dinh hương
Ở hiệp hòa Bắc Giang
Nhưng ở lăng dinh hương
Cặp tượng này là người dắt ngựa
Tức có sự liên kết gần kề
Thì ở lăng Phạm Đôn Nghị
Tượng người chỉ đơn thuần được đặt cạnh ngựa
Để tạo thành nhóm
Con ngựa được tạc trong một khối đá đặc
Kể cả phần giữa bốn chân
Xong, điểm độc đáo ở đây
Là tính chất hiện thực được gợi tả
Bởi cặp chân mảnh rẻ
Lại được các nghệ nhân khéo léo tạc
Theo dạng phủ điêu trên đá
Do vậy, tuy không đục rỗng phần giữa
Của hai chân ngựa giống như
Các kiểu điêu khắc tượng ngựa thời lê sơ
Nhưng dáng vè của con ngựa
Vẫn hợp lý và thanh thoát
Các khối đặc tưởng như nặng nề ấy
Lại được giải quyết một cách khéo léo
Bằng việc trang trí yên cương
Một cách khá cầu kỳ
Không chỉ vậy, chẳng những tóc và bờm
Đã mang chất trang trí mà yên ngựa được thắng
Đầy đủ làm cho vui mắt hẳn lên
Điều này khiến cho toàn bộ khối tượng
Chắc chắn hơn và vẫn giữ được
Nét hiện thực cần thiết
Tượng quan hầu, lòng phạm đồn nghị
Được đặt sát với ngựa
Ở đây, nghệ sĩ đã vận dụng khéo
Những mảng khối ngang làm mình ngựa
Với khối rọc là thân người
Tạo nên sự đối lập để tôn nhau lên
Trong cùng một tổng thể
Con ngựa hiện ra với bốn chân thẳng
Đầy đủ dây buộc mõm, yên cương
Bàn đạp, vài phủ có hoa văn bay
Bông gù, tua rua
Lục lạc v.v. rất cầu kỳ
Bên cạnh là một võ quang
Mặc áo giác, một tay úp lên ngực
Thể hiện sự trung thành
Một tay nắm cây trùy dài trông rất sống động
Và chân thực. So với Lăng Dinh Hương
Thì nhóm tượng này có phần khác nhau
Về tiền lệ tượng người
Ở Lăng Dinh Hương, tượng người nhỏ nhắn
So với tượng ngựa, còn ở Lăng này
Tượng người có tiền lệ lớn hơn hẳn
Điều này tạo cho nhóm người ngựa
Tùy tách nhau ra trong một khoảng cách vừa đủ
Nhưng vẫn tạo cảm giác gắn kết
Nhân vật võ quang ở đây
Có tư cách chủ thể hơn hẳn so với tượng
Giác ngựa của Lăng Dinh Hương
Về mặt điêu khắc chân dung nhân vật
Thì tính chất võ quang
Ở các pho tượng này cũng được thể hiện ra
Một cách rõ hơn với khối cằm bạch
Mũi và má gồ cao
Chân dung của hai nhân vật
Võ quang trong nhóm tượng người ngựa này
Cũng khác nhau khá rõ ràng
Một ông có khuôn mặt bạch hơn
Còn ông kia lại thanh thoát hơn
Việc chú ý đến tà thực chân dung
Cũng là một nét rất đặc trưng
Của nghệ thuật điêu khắc thế kỷ thứ 17-18
Mà các bức tượng này được thường
So với các lăng quan lại khác
Trong thế kỷ thứ 18
Như Lăng Dinh Hương, Lăng Bầu, Lăng Cẩm Bào
Lăng Nội Tròn
Đều thuộc Hiệp Hòa Bắc Giang
Lăng Họ Đỗ, Lăng Nguyễn Diễm thuộc Tiên Sớm Bắc Ninh
Lăng Đoàn Văn Khôi, Ứng Hòa Hà Tây
Vân Vân
Thì cặp tượng quan hầu và ngựa
Ở Lăng Phạm Đôn Nghị và Lăng Dinh Hương
Được xem là những kiệt tác của nghệ thuật chạm khắc đá
Chúng được xuất hiện khá phổ biến
Trong các lăng bộ thời kỳ này
Nhưng đa phần mang quinh hướng tự nhiên
Ít tính trang trí
Các tượng thường được chú trọng vào cách tạo khối trên thân
Khiến quan vật trở nên động chất hiện thực
Do vậy
Việc xuất hiện một số màng trạm tỉ mỉ
Và mang tính cách điệu cao
Như phần yên cường, bờng của ngựa
Ở Lăng Phạm Đôn Nghị và Lăng Dinh Hương
Đã làm hình thức điều khác hiện thực này
Trở nên độc đáo
Các tượng trong lăng bộ thời hậu lề
Về số lượng và đề tài
Thường không theo một sự quy định chặt chẽ
Như Lăng Phạm Mẫn Trực
Chỉ có 2 tượng vòi
Lăng Phạm Đôn Nghị chỉ có 2 tượng người
Đứng cạnh ngựa
Lăng Phạm Huy Đính có cả tượng võ sĩ, ngựa và vòi
Lăng Dinh Hương ngoài tượng võ quan
Rất ngựa, vòi, tượng võ sĩ
Còn có cả tượng người hầu gái
Cầm quạt ôm cháp v.v
Đứng ngay trên sinh phần cạnh ngai thở
Ngay trong số tượng võ sĩ
Cũng có người cầm gương, cầm trùy
Có nhiều lăng có tượng chó gác cổng
Vài lăng còn thêm cả tượng phỗng
Tượng nghê v.v
Nằm trong dòng chảy chung của tượng lăng bộ
Thời hậu lê, các tượng người và thú
Ở lăng Phạm Đôn Nghị vừa có cái chung
Như tượng ở các lăng bộ khác
Vừa có nét đặc sắc riêng biệt
Xét về vị trí chung mà nói
Thì vị trí các tượng trong lăng Phạm Đôn Nghị
Vẫn theo một quy tắc nhất định nhìn từ phía trong ra ngoài
Người, ngựa, chó
Theo trục tuần đạo không có gì đặc biệt
Nhưng việc đặt tượng võ quan
Sát với tượng ngựa
Đã làm thay đổi kết cấu chung này
Khiến chúng tạo thành một nhóm
Thay đổi đi cái nhiệm điệu đơn giản
Của một cấu trúc lăng mang tính tôn nghiệp
Một đặc điểm khá độc đáo nữa
Của lăng Phạm Đôn Nghị
Là hình tượng võ sĩ cầm trùy
Được chạm khắp nổi ở hai bên cột đá
Nhà bia, hai bên phần bộ
Nó khá giống với dạng bố cục
Của lăng Phạm Mẫn Trực
Nhưng khác hẳn lăng họ ngô ở Bắc Giang
Các tượng võ sĩ này được chạm thẳng
Vào bề mặt đá ở tường bao phía ngoài
Cái vẻ rắn chắc của đá xanh
Khiến cho bức chạm khắp này
Ở lăng Phạm Đôn Nghị có phần trở nên sắc nét
Một lần nữa ta lại gặp
Hình thức điêu khoắc chân dung
Trên hai bức phủ điêu mô tả hai nhân vật
Một già một trẻ
Đặc biệt nhân vật già hơn một chút
Với bộ dìa mép như cố tình tạo cảm giác uy vũ
Nhưng thực chất lại rất hiền lành
Trong khi người trẻ lại tỏ ra
Có vẻ bọng trợn hơn
Khi dương cây trùy theo thế nghiền nghiềng
Giám vẻ của họ cũng vậy
Không khuôn vào một cách cứng nhất
Mà có phần uyển chuyển
Hai bức phủ điêu độc đáo này
Khiến cho khung cảnh của khu sinh phần
Của quận công Phạm Đôn Nghị
Bớt đi tính chất khô lạnh
Mà trở nên gần gũi thân quen
Ngoài ra cách chạm khắp
Các trang phục quần áo
Của hai vị võ sĩ này
Cho thấy lối điêu khắc rất đặc trưng
Cho nghệ thuật thế kỷ thứ 18
Đó là lối chạm nông vừa phải
Chí tiết sang nét
Chú trọng đến các nếp và giải áo
Đặc biệt
Hai bên khu thờ cúng là hai nhà bia
Làm bằng đá tảng lớn
Bia bên phải có tên bài văn là
Phạm Công Gia Phạ Bì Ký
Kể lại sự thích của các đời dòng họ Phạm
Bia bên trái có tên là
Hiển Linh Tử Hậu Thần Bì Ký
Mặt trước
Mặt sau ghi
Nhất xã thôn hậu Phật Sư Lệ
Nói về việc bầu Phạm Đôn Nghị
Làm hậu thần hậu Phật cho làng
Vì có công ngóp sức tiền của
Cả hai bia
Đều dựng năm Long Đức thứ 3
Tức năm 1734
Mặt bia phía trên
Chạm đôi dòng trầu được cách điệu
Kiểu dòng hóa mây
Các diềm bia còn lại chạm trang trí
Hoa vằn mây xoắn
Hoa dây uốn lượn
Nhưng có lẽ điều độc đáo phải kể đến ở đây
Chính là nghệ thuật kiến trúc của hai nhà bia này
Cùng đặc biệt giống như
Nhà chứa sập thờ
Khác với kiến trúc của các nhà bia ở các la mẫu khác
Với đặc trưng vòm mái cong
Với những yếu tố mềm mại
Mỗi nhà bia ở làng Phạm Đôn Nghị đều có cấu trúc
Như một long đỉnh với bốn mái
Đá phẳng và góc cạnh
Mỗi đầu đao và hai đầu mái
Chạm khắp đầu dòng
Phần trung khu dạng hình chứa vạn
Mặc dù các kiến trúc được thiết kế
Bằng các khối đá tảng lớn
Nhưng các nhà bia ở đây
Vẫn tạo được dáng vẻ thanh thoát
Phải chăng đã có sự chi phối
Của tâm thức Phật giáo trong kiến trúc long bộ ở đây
Qua khu long bộ và đền thờ
Mộ Phạm Đôn Nghị
Nằm sau cùng được bao bọc
Bởi những bức tường đá ong
Mộ phần bằng đá tảng hình chữ nhật
Nằm giữa những bức tường đá ong kiên cố
Tuy công trình đã khởi xây
Từ thế kỷ thứ 18
Nhưng nhờ bảo quản tốt
Nên các nét chữ khắc trên mộ
Nhìn từ xa hoa văn hoa tiết
Vẫn còn sắc xào
Trải qua thời gian
Khu di tích lăng đá Phạm Đôn Nghị
Được xem là một quần thể kiến trúc
Điều khắc đá hoành tráng
Độc đáo thời hậu Lê
Còn tồn tại đến ngày nay
Các bạn đừng quên nhấn like và chia sẻ video để ủng hộ kênh
Ai là người đầu tiên xem video này
Hãy nhấn đăng ký kênh
Và tích vào bờ tượng chuông
Để khi dưới up lên những video mới nhất
Các bạn không bỏ lỡ chúng
Cảm ơn các bạn đã quan tâm theo dõi
Xin chào và hẹn gặp lại các bạn trong những clip sắp tới
Cảm ơn các bạn đã quan tâm theo dõi
