Trung Quốc GẬT GÙ CÔNG NHẬN 2 Người Việt XUẤT CHÚNG Giỏi Hơn Cả Khổng Minh ! | Triết Lý Tinh Hoa
#Trietlytinhhoa #vandehomnay #tintuc24h
Mô Tả Nội Dung: Trung Quốc GẬT GÙ CÔNG NHẬN 2 Người Việt XUẤT CHÚNG Giỏi Hơn Cả Khổng Minh ! | Triết Lý Tinh Hoa
=================
"Triết Lý Tinh Hoa" - Ngôi nhà tri thức về Triết lý và Cuộc sống! bằng Cập nhật tin tức 24h trong ngày …
Comments are disabled for this video.
Trung Quốc gật cù công nhận hai nhân vật xuất trúng của Việt Nam khiến Gia Cất Lượng cũng phải trảo thua.
Mến chào quý vị đang đến với kênh Triết Lý Tình Hòa.
Quý vị thân mến, Gia Cất Lượng vốn là cái tên nổi danh trong lịch sử Trung Quốc.
Thậm chí rất nhiều người Việt Nam cũng đã biết đến nhân vật nổi tiếng này.
Ông được mệnh danh là Ngoạ Long với tài năng liệu sự như thần, túc trí đa mưu.
Nhiều người từng lấy cái tên của ông ra để so sánh với các bậc kỳ tài.
Thế nhưng ít ai biết rằng trong sử sách có hai cái tên nổi danh của Việt Nam
được so sánh ngang tài ngang sức với khổng minh Gia Cất Lượng.
Thậm chí chính dân Trung Quốc cũng phải gật cù công nhận.
Vậy cụ thể hai cái tên xuất sắc của Việt Nam này là ai?
Họ tài giỏi đến mức nào?
Vì sao lại được so sánh giỏi không kém Gia Cất Lượng?
Hãy cùng Triết Lý Tình Hòa tìm hiểu ngay sau đây nhé!
Quý vị thân mến, nhắc đến những nhà giáo nổi tiếng thời Trần,
bậc vạn thế sư biểu Chu Văn An là được người đời biết đến nhiều hơn cả.
Tuy nhiên, ngoài Chu Văn An,
thời Trần còn để lại tên tuổi của nhiều vị danh sư khác.
Đầu tiên đó chính là Lê Phụ Trần,
từ dũng tướng đến thầy dạy của hoàng đế tương lai.
Lê Phụ Trần tên thật là Lê Tần,
người Ái Châu Thanh Hóa thuộc dòng giỏi Lê Đại Hành,
đã từng phụ sự hai đời hoàng đế là Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông.
Năm 1258, giặc Mông Nguyên xâm lược Đại Việt,
hoàng đế Trần Thái Tông đích thân cầm quần trận giặc tại Bình Lệ Nguyên, Vĩnh Phúc.
Thế giặc quá mạnh, quân trần sắp không đương nổi,
Trần Thái Tông nhìn quanh chỉ thấy Lê Tần vẫn đang cưỡi ngựa một mình ra vào trận giặc,
sắc mặt như thường.
Có người khuyên Thái Tông nên ở lại giám trận,
riêng Lê Tần một mực khuyên can hoàng đế mau rút lùi để chờ cơ hội phản công.
Khi Trần Thái Tông quyết định lùi binh, Lê Tần lại chỉ huy quân sĩ trận hậu.
Quân giặc đuổi theo bắn tên như mưa,
Lê Tần phải lấy ván thuyền làm khiên, chè chở cho hoàng đế.
Sau trận này, ông được Thái Tông cho theo bên cạnh, được giữ bàn nhiều việc cơ mật.
Một thời gian sau, quân trần tổng phản công và quân Mông Nguyên bị đánh bật khỏi nước ta,
đất nước trở lại thanh bình.
Ngày Mông Một Tết Nguyên đán năm ấy, hoàng đế Trần Thái Tông tổ chức lễ mừng công ban thưởng cho các tướng sĩ.
Trần Thái Tông xúc động nói với Lê Tần,
chẳng không có khanh thì làm gì được có ngày nay,
khanh nên cố gắng để cung hưởng phút sau này.
Lê Tần được phong làm ngựa sửa đại phu,
là chức quan có quyền can gián nhà vua, tố cáo lỗi lầm của các quan,
và được ban tin mới là Lê Phụ Trần,
người họ Lê có công giúp dập nhà Trần.
Sau đó ông được cử làm tránh xứ sang Trung Quốc.
Ông đã khéo léo tranh biện khiến nhà Nguyên, kẻ vừa thua trận trước đó,
phải chấp nhận cho nước ta cứ ba năm sang dân cống phẩm một lần.
Trong năm này, Trần Thái Tông nhờ ngôi cho con để lên làm thái thượng hoàng.
Tân quân là Trần Thánh Tông,
vì thưởng thức kinh nghiệm trận mạc và huấn luyện binh sĩ của Lê Phụ Trần,
nên đã phong ông là thủy quân đại tướng quân,
nắm quân thủy trong tay.
Năm 1274, Trần Thánh Tông lập hoàng tử Trần Khâm là thái tử,
bước ngoặt cuộc đời của Lê Phụ Trần cũng bắt đầu từ đây.
Ông được thăng chức thiếu sư, kiêm chức sư cung giáo thụ,
chịu trách nhiệm chỉnh giải rỗ thái tử,
từ ngạch quân sự chuyển sang lĩnh vực giáo dục,
nhất là trực tiếp giải bảo ghen rỗ người gấy vị tương lai.
Lê Phụ Trần cho thấy ông là người văn võ toàn tài,
có đủ mô phạm và kiến thức
để trở thành một nhà giáo được triều đình tin tưởng.
Từ dũng tướng trở thành nhà giáo,
cổ kim không mấy ai được như ông.
Nhà giáo Lê Phụ Trần dốc lòng giáo dục thái tử Trần Khâm,
về sau người học trò của ông đã trở thành vị minh quân Trần Nhân Tông,
nước tiếng của Vương Triều và đất nước,
được sự sách đặc biệt ngợi khen.
Nhân Tông được tinh anh của Thánh Hiền,
có tướng mạo của thần tiên,
thể chất hồn hậu hoàn toàn,
nhân từ hòa nhã giản dị,
xuống chiếu Trần cấp người nghèo,
mà lòng nhân cố kết,
chọn tướng chống cự,
nhung địch mà giặc nguyên dẹp yên,
sự nghiệp trùng hưng rực rỡ thiên cổ,
đủ là một bậc vô hiền của nhà Trần.
Trần Nhân Tông có được công nghiệp và đức nghiệp như vậy,
không thể không gây nhận công lao đào tạo to lớn của nhà sư phạm,
bậc danh tướng Lê Phụ Trần.
Trần Cụ, người thầy thông minh đa tài của Hoàng đế Trần Minh Tông,
Trần Cụ là người tỉnh hưng yên ngày nay.
Dưới triều Trần Anh Tông,
ông giữ một chức quan nhỏ, độc bạ,
phầm hàm thấp,
nhưng ông sớm được triều đình chú ý
bởi các đức tính đáng quý,
cùng sự thông minh đa tài.
Ông là người khoan hậu, cẩn thận, thật thà,
có biệt tài đánh đàn,
bắn nỏ và đá cầu.
Với mỗi ngón nghề,
ông đều có những phát kiến và quan điểm khá độc đáo.
Trần Cụ, mỗi khi sắp đánh đàn,
thì trước hết cắt đầu dây,
buộc lại cho chặt dây,
rồi xong mới gãy.
Có người mới hỏi, cứ làm sao?
Trần Cụ trả lời,
nếu khúc đàn chơi hết mà dây đất thì làm thế nào?
Trần Cụ làm cầu thì cân nhắc
các mũi da
trong 12 mũi cần nhau.
Duy 3 mũi ở miệng cầu lỗ
là chỗ bỏ cái bong lợn vào
thì hơi mỏng và nhẹ,
để cân với sức nặng ở đầu bong bóng.
Cho nên khi đá cầu,
mũi nào ở trên đến nút rơi xuống đất
lại nguyên như cũ,
không bao giờ chuyển khác.
Đời người bắn nỏ,
chân đứng cũng như bắn cung,
tức là kiểu chữ đinh không thành,
chữ bát không ngay.
Trần Cụ thì đứng ngay ngắn,
mà bắn và bảo mọi người.
Phạm bắn cung thì tay trái rờ ra phía trước,
nắm lấy thân cung,
tay phải kéo dây cung về phía sau.
Mình đã nghiêng thì chân cũng phải lệch,
còn bắn nỏ thì đưa cân bằng ra phía trước.
Cho nên khi cầm nỏ mà bắn,
thân mình ngay ngắn thì cỡ gì
chân lại phải đứng lệch.
Nhà ông ta ở và thuyền ông ta đi
đều có hai cửa đối nhau,
xếp đặt bảy biện các thứ
cũng cân đối và phải ngay ngắn.
Vì là bản tâm như vậy,
cho nên biểu hiện
ở mọi việc làm cũng như vậy.
Hoàng đế Trần Anh Tông rất tán thưởng
phẩm chất và tài năng của Trần Cụ.
Năm 1305,
Anh Tông lập Hoàng tử Trần Mạnh
để làm thái tử.
Trần Mạnh lúc ấy 15 tuổi.
Vì thế Anh Tông muốn tìm người đủ tài năng
và đức độ để dạy cho thái tử.
Và rồi ông đã cất nhắc
Trần Cụ vào hàng sư phó
cùng các bé tôi khác
lo việc giáo dục thái tử.
Trần Cụ dốc hết tâm huyết
dạy bảo vị thái tử nhỏ tuổi.
Đó thực sự là quá trình đào tạo rất công phu.
Thái tử sau này lên ngôi,
tức là Trần Minh Tông,
đã trở thành một vị hoàng đế khiêm tốn,
hỏa nhã, thông minh, quyết đoán,
giỏi việc cầm quân,
có nhiều chính sách trị nước tích cực
và biết cách rèn rũ các hoàng tử thành người hữu ích.
Trong sự kết tinh tài năng
và trí tuệ nơi hoàng đế Trần Minh Tông,
có phần đóng góp không nhỏ
của nhà giáo họ Trần.
Quý vị thân mến,
mỗi người có một tính cách khác nhau
và có những tài năng riêng biệt.
Nhờ vậy mà ai cũng đều trở thành
các bậc vĩ nhân góp phần rèn rũ
như một con người lãnh đạo đất nước.
Ngoài hai nhà giáo kể trên,
dưới các triều đại khác trong lịch sử
cũng đã cà ngợi những công lao
của các nhà giáo vĩ đại khác.
Họ chính là niềm tự hào
của dân tộc và đã để lại
nhiều bài học quý giá
cho thế hệ trẻ mai sau học hỏi.
Hãy cùng Triết Lý Tinh Hoa
tìm hiểu thêm nhé!
Thứ nhất, thầy giáo Chú Văn An,
người thầy chuẩn mực môn đời
của Việt Nam.
Chú Văn An sinh năm 1292
tại xã Quang Liệt,
huyện Thanh Đàm,
nay là làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Ông là nhà giáo, thầy thuốc,
đại quan dưới Triều Trần.
Chú Văn An là người có tính cương nghị,
thẳng thắn, sửa mình trong sạch,
không cầu lợi lộng.
Ông ở nhà đọc sách,
học vấn tinh thông, nổi tiếng gần xa.
Học trò đầy cửa,
thường có kẻ đỗ đại khoa.
Tự điển nhân vật lịch sử Việt Nam
viết Chú Văn An là thầy giỏi
nhưng nghiêm khắc, trọng tài năng
của học trò và ghép những người cậy
giỏ ham chơi.
Học trò của ông có nhiều người giỏi,
có công giúp nước như Phạm Sư Mạnh,
Lê Quát, hai quan lớn
của Triều Trần.
Sinh thời ông được dân chúng tôn là
Vạn Thế Sư Biểu,
nghĩa là người thầy chuẩn mực muôn đời của Việt Nam.
Ở thời Chú Văn An,
trường học còn rất hiếm,
cả nước chỉ có một trường quốc lập là
Quốc Tử Giám ở Kinh Đô,
dành cho con vua, con quan
sau mở rộng cho những người tài
trong nhân dân theo học.
Tư Thiện Đường, Toát Trai Đường
ở Thiên Trường, Nam Định
chỉ dành cho con em tôn thất nhà Trần.
Trường Yên Tử,
Quảng Ninh hay Hương Sơn, Hà Tây Cũ
dành riêng cho nhà chùa.
Bởi trường lớp quá ít,
con em nhân dân phần lớn thất học,
Chú Văn An đã mở
trường Huỳnh Cung tại quê nhà
Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội ngày nay
để dạy học.
Trường có lớp thử Việt,
học trò đến học ở trường Huỳnh Cung
khá đông, đến 3.000
tác giả Trần Lê Sáng
viết trong cuốn Chú Văn An, Quyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Thiếp, ba bậc thầy
của giáo dục Việt Nam.
Thời kỳ dạy học ở Huỳnh Cung,
Chú Văn An chuyên truyền đạt
kinh điển nhò giáo, mục đích
cao nhất của ông không ngoài giáo kính,
giáo trung, giáo văn,
nghĩa là dạy sự cung kính, trung hậu
và văn nhã.
Học trò ở trường Huỳnh Cung cũng chịu
ảnh hưởng của thầy Chu rất lớn.
Trong khoa thi năm 1314,
2 học trò của ông Đỗ Thái
học sinh từng đường học vị
tiến sĩ. Việc này gây
tiếng vang lớn trong giới sĩ tử
đương thời, thầy giáo Chú Văn An
và trường Huỳnh Cung được
cả nước biết đến.
Trường Huỳnh Cung trở thành mốc quan trọng trong lịch sử
phát triển của nền giáo dục Việt Nam.
Kể từ đây bên cạnh trường Quốc lập,
các trường dân lập phát triển,
đông đảo còn em nhân dân có nơi
học tập, sự nghiệp giáo dục nước
nhà mở rộng hơn trước.
Sau khi danh tiếng của Chú Văn An
và trường Huỳnh Cung được cả nước biết tới,
ông Được vua Trần Minh Tông
mời ra làm tư nghiệp
tức hiệu trưởng trường Quốc tử Giám
trong coi việc học cho cả nước.
Dù được phong chức
tư nghiệp trường Quốc tử Giám,
những năm đầu, Chú Văn An chỉ có
trách nhiệm chính là kèm cặp thái tử
Trần Vượng đào tạo vua mới cho nước nhà.
Sau khi Trần Vượng,
tức vua Trần Hiến Tông,
lên ngôi năm 1329,
Chú Văn An mới thực sự
chuyên tâm vào công việc ở trường
Quốc tử Giám.
Ông cho mở mang trường, viết tứ, thư,
thuyết ước, tóm tắt bốn bộ
sách lớn và luận ngữ, mệnh tử,
đại học và trung dung,
làm giáo trình dạy học.
Kể từ thời Chú Văn An trở về sau,
Quốc tử Giám mỗi ngày
được củng cố mở rộng.
Thời gian làm hiệu trường trường Quốc tử Giám
đem đến cho Chú Văn An
nhiều vinh quang mới, nhưng cũng
khiến ông gặp đầy gióng gió.
Vua Hiến Tông, học trò của ông
ở ngôi được 2 năm thì qua đời,
công lao hơn 10 năm đào tạo
khó nhọc và hy vọng
củng cố nhà Trần của thầy trò tiêu tan.
Lúc này, vua Trần Dụ Tông
lên thay, triều chính đất nước
dối ghen, vua ha mê
tựu sắc, nóng nảy, nồng cạn.
Trong triều, quyền gian
liên kết hoành hành, bên ngoài
giặc giã dưới lên cướp bóc.
Thấy chính sự bề bối, nhà giáo
Chú Văn An phẫn nộ, ông đã viết
thất trảm sớ, đòi chém
7 kẻ nịnh thần, đều là người
quyền thế được vua yêu.
Dù bị vua Dụ Tông phớt lở,
tấu sớ của hiệu trường trường Quốc tử Giám
gây chấn động dư luận, bởi
theo quy chế lúc bấy giờ,
chỉ quan ngựa sử mới được quyền can gian vua.
Sau khi dân
thất trảm sớ nhưng không được vua trả lời,
Chú Văn An rời Kinh Thành
về vùng đất Chỉ Linh Hải Dương,
mà trường tiếp tục dạy học.
Dù là nơi thâm sơn cùng cốc,
số học trò đến với
Thầy Chú vẫn đông. Lúc này,
Chú Văn An lấy hiệu là tiều ẩn,
chỉ lấy việc dạy học làm
thơ cho vui.
Từ khi Chú Văn An về,
Chỉ Linh dưới lên phong trào học tập,
nhiều người học giỏi nổi tiếng,
đặc biệt ở đời nhà Mạc.
Huyện này có bà Nguyễn Thị Duệ,
thi đỗ tiến sĩ, là nữ tiến sĩ đầu tiên
và duy nhất của Việt Nam
thời phong kiến. Ngoài ra còn
có Nguyễn Phong, mới 14 tuổi,
đã cùng trả thi đỗ kỳ thi hương
hay 6 tuổi đỗ tiến sĩ.
Những ngày dạy học
ở Chỉ Linh, Chú Văn An còn trồng
cây thuốc, nghiên cứu y học,
giúp người dân chữa bệnh.
Dù ở xa, nhưng học trò
cũ đã làm quan vẫn về thăm ông.
Khi học trò về thăm,
ai làm điều gì chưa đúng phép,
ông vẫn nghiêm khắc dạy bảo.
Điều này khiến học trò
càng thêm kính mến.
Cuối đời, Chú Văn An sống thanh thản
trong cảnh nghèo, vui với lớp học
văn chương. Triều Đình
nhiều lần mời về, nhưng ông nhất định
từ chối. Thế nhưng lòng ông
vẫn hướng về nhà Trần. Sau
khi vua Trần Nghệ Tông dẹp yên loạn
Dương Nhật Lễ, lấy lại được ngôi vua,
Chú Văn An dù tuổi cao
vẫn về triều chúc mừng.
Việc làm đó của ông khiến
nhân dân và sĩ phu đương thời
quý trọng. Suốt cuộc đời
mình, Chú Văn An không lúc nào
sao nhãn sự nghiệp giáo dục.
Điểm nổi bật trong công lao đóng góp
của ông là việc sáng lập nền trường học
trong nhân dân. Việc học và dạy
có kết quả lớn.
Trường Huỳnh Cung đánh dấu một mốc quan trọng
trong lịch trình phát triển sâu rộng
của nền giáo dục nước ta.
Thứ hai là nhà giáo
Nguyễn Bình Khiêm.
Đỗ trạng nguyên khi đã
hơn 40 tuổi, trạng trình
khiến nhiều người mến phục nhờ tài
tiên tri và triết lý
thiện là dòng dõi của giáo dục.
Nguyễn Bình Khiêm lúc
nhỏ có tên là Nguyễn Văn Đạt
sinh ngày 6 tháng 4 năm 1491
âm lịch ở
làng Trung An huyện Vĩnh Lại
phổ Hạ Hồng, Trấn Hải Dương
nơi thuộc huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng.
Giữa thời vua Lê Thánh Tông
thời kỳ thịnh trị nhất của
nhà Lê Sơ.
Sinh ra trong gia đình của bố mẹ nổi tiếng
học rộng, mẹ là con út
của quàn tiên sĩ thượng thư bộ hộ
triều vua Lê Thánh Tông.
Nguyễn Bình Khiêm sớm được giáo dục cẩn thận
gian luyện cả về thể lực
và trĩ lực, nền to khỏe
thông minh khác thường, chưa đến
một tuổi đã nói sói.
Lên bốn tuổi, Nguyễn Bình Khiêm
được mẹ dạy sách kinh, thơ nôn.
Đến tuổi trưởng thành
nghe tiếng bảng nhãn lương đắc bằng
ở làng Lệch Triều, thuộc huyện
Hoàng Hóa Thanh Hóa ngày nay,
nổi danh trong giới sĩ phu đương thời,
Nguyễn Bình Khiêm đến tận nơi
tầm sư học đạo.
Vốn sáng giả, lại chăm chỉ học hành,
Nguyễn Bình Khiêm nhanh chóng trở thành
học trò xuất sắc của thầy
và được chính thầy giao con trai
cho nội dạy.
Khi nhà hậu Lê rơi vào khủng hoảng,
Nguyễn Bình Khiêm đã không ra ứng thi sớm.
Tính từ khi trưởng thành,
ông bỏ qua sáu khoa thi
dưới triều Lê Sơ.
Ngay cả khi nhà Mạc lên thay cho Lê Sơ
năm 1527,
xã hội dân ổn định,
ông vẫn bỏ qua hai khoa thi đầu
dưới triều Mạc.
Tới năm 1535,
giữa thời vua Mạc đăng doanh,
thời thịnh trị nhất của nhà Mạc,
ông mới quyết định đi thi và đậu ngay trạng nguyên.
Năm đó, Nguyễn Bình Khiêm đã ngoài
40 tuổi.
Sau khi đỗ đạt, Nguyễn Bình Khiêm
được bổ nhiệm làm nhiều chức vụ,
được phong tước trình tuyển hầu
rồi trình quốc công,
nên dân gian quen gọi ông là Trạng Trinh.
Trong gần 20 năm,
từ 53 đến 73 tuổi,
Nguyễn Bình Khiêm không ra
ở hẳn kinh sư, nhưng vẫn
đảm nhiệm nhiều việc triều chính.
Sách lịch triều hiện trường loại
chỉ viết, vua Mạc tôn
như bậc thầy, khi trong nước có việc
quan trọng vẫn sai sứ đến hỏi ông,
có lúc còn chiều ông về kinh
để hỏi mưu lớn.
Ông học rộng, hiểu
sâu nghĩa lý kinh dịch, mưa nắng,
họa phúc, việc gì cũng biết trước.
Sự sách đều
thừa nhận Nguyễn Bình Khiêm là nhà
dự báo hoạch định chiến lược kỳ tài,
coi ông là nhà tiên tri số 1
nước Việt. Ông từng đưa ra
lời sớm bảo nhà Mạc chạy lên
cao bằng dự nghiệp, sau khi thất
thủ ở Thăng Long và sẽ
tồn tại ba đời. Quả nhiên
điều này đúng, ông còn khuyên
trịnh kiểm giữ chùa thờ Phật
được ăn oản, tìm người
trong tông thất nhà Lê lập làm vua,
nhà trịnh làm theo và từ đó
nối đời cầm quyền.
Nhưng danh nghĩa vẫn là
tôn phò nhà Lê.
Với nhà Nguyễn, từ khi Nguyễn Kim
chết, Nguyễn Uông, con cả
của Nguyễn Kim đã bị trịnh kiểm ám hại.
Trước tình thế nguy nan,
Nguyễn Hoàng, con trai thư Nguyễn Kim
đã cho người đến hỏi
Nguyễn Bình Khiêm và nhận được câu
ẩn ý. Hoành Sơn nhất
đái khả dĩ dung thân,
nghĩa là một giải Hoành Sơn
có thể dung thân được.
Nhờ đó năm 1568, Nguyễn Hoàng
đã xin họ trịnh vào
chấn thủ xứ thuận hóa rồi
dần xây dựng cơ đồ họ Nguyễn ở
Phương Nam. Ngay từ khi
đổ trạng Nguyên, Nguyễn Bình Khiêm đã
dạy học theo cuốn Chùa Văn An
Nguyễn Bình Khiêm, Nguyễn Thiếp,
ba bậc thầy của nền giáo dục Việt Nam.
Học trò được ông đào tạo
thời kỳ này có rất nhiều người
nổi tiếng về sau.
Trong đó có Lương Hữu Khánh,
con trai của Thầy Lương Đắc Bằng,
Đỗ Cử Nhân, trở thành tướng giỏi
văn võ song toàn. Trạng Bùng
Phùng Khắc Khoan thi độ tiến sĩ,
có thể năng toản diện về võ bị,
văn học và ngoại giao.
Nguyễn Dữ, nhà văn nổi tiếng
trong lịch sử văn học Việt Nam.
Đến khi lui về quê, ông đã
dựng Am Bạch Vân, lấy hiệu
là Bạch Vân Cư Sĩ,
lập quán Trung Tân, làm cầu Nghìn Phong,
trường Xuân cho dân qua lại thuận tiện
và mở trường dạy học bên cạnh
sông Tuyết hay sông Hàn
ở quê nhà. Vì vậy sau này
các môn sinh tôn ông là
Tuyết Giang Phu Tử.
Nguyễn Bình Khiêm đã giáo dục cho nhân dân
và học trò rất nhiều về đạo
làm người, đạo lý ở đời,
sự học, cách học.
Ông coi việc giáo dục phải thực hiện được
vai trò định hướng ý chí
và hành động cho người học.
Nhất là việc gắn ý chí học hành với
lý tưởng công hiến hết mình cho đất nước.
Ông đặc biệt
đề cao trách nhiệm công hiến
xã hội không ngừng, cho rằng tác dụng
cao nhất của giáo dục là cứu nhân độ thế,
hướng con người trở về
tịnh thiện, bởi thiện là dòng
dõi của giáo dục,
đúng như Phương Trâm sư phạm xưa.
Trên cơ sở giáo dục cái thiện,
thầy giáo Nguyễn Bình Khiêm
vẫn dạy kinh, truyện
theo đúng chương trình thi cửa lúc bấy giờ.
Theo các thư tịch cổ,
việc thi cửa lúc bấy giờ
rất quy mô, học sinh học
vất vả, thầy giáo phải bỏ nhiều công
kèm cặp. Việc các học trò
của thầy giáo Nguyễn Bình Khiêm chiếm gần
hết thứ hạng cao ở các kỳ thi
chứng tỏ việc dạy học của thầy quy
củ nghiêm khắc.
Thầy giáo Nguyễn Bình Khiêm còn khác
người ở chỗ muốn đào tạo học trò,
thành những người có thực học, có
trí thức toàn diện để giúp đỡi.
Nhiều nghiên cứu về sau
chỉ ra rằng Nguyễn Bình Khiêm
luôn chủ trương thúc đẩy con người
nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh,
có cách hành sửa đúng mực trong đời
sống. Ông coi việc học
phải nhắm hành đạo, yêu cầu các học trò
nêu gương bậc thánh hiền,
để cao vai trò của sự tìm tòi,
học hỏi. Nguyễn Bình Khiêm
cũng coi trọng đạo lý hơn văn trương,
điều này thể hiện rõ
trong tác phẩm Thơ Văn. Ông
sáng tác rất nhiều thơ văn,
bằng cả chữ Nôm và chữ Hán.
Về thơ chữ Hán, Nguyễn Bình Khiêm
có bạch vân am thi tập với khoảng
1.000 bài. Về thơ chữ
Nôm, Nguyễn Bình Khiêm có bạch vân
quốc ngữ thi tập, nhưng không rõ
tất cả bao nhiêu bài. Ngoài ra
ông để lại nhiều bài văn bia
và sấm ký. Ông được
coi là người viết nhiều thơ văn nhất
trong năm thế kỷ đầu tiên của nền
văn học nước nhà.
Nguyễn Bình Khiêm mất năm 1585,
trong rất nhiều đóng góp
của ông cho nền văn hóa dân tộc,
đóng góp lớn lao cho sự nghiệp giáo dục,
được nhiều nhà khoa học đánh giá cao.
Tất cả thanh tựu giáo dục
ở thời mạc, không thể
không nhắc tới công lao của chàng trình
Nguyễn Bình Khiêm.
Ngày nay, nhiều trường học được đặt tên
theo tên ông, nhằm tưởng nhớ đến
bậc thầy vĩ đại.
Thứ ba là nhà giáo Lê Quý Đôn,
túi khôn thời đại.
Năm 1739,
Lê Quý Đôn, theo trà lên học
ở kinh đô Thăng Long, đến
năm 17 tuổi, dưới thời
vô lời hiển tông, ông dự thi
hương và đỗ đầu, giải nguyên.
Sạch những thầy trong sở Việt
viết quyền thi của Lê Quý Đôn
qua bốn kỳ đều được phê ưu.
Các quan chức thi hết lời
khen ngợi. Hôm sướng danh,
câu đầu tiên của người lính phát ra
từ chiếc loa giải nghêu, vang lên
thật rành giọt. Cử nhân
giải nguyên Sơn Nam Lê Quý Đôn
thập bát tuế.
Tuy đỗ đầu, thi hương
nhưng Lê Quý Đôn thi hội mấy lần đều không
đỗ. Ông ở nhà dạy học
và viết sách. Mãi đến năm
1752, khi bước vào
tuổi 27, Lê Quý Đôn
mới lại dự thi hội, và lần
này đỗ hội nguyên.
Vào thi đỉnh, ông đỗ luôn bảng nhãn.
Đây là danh hiệu dành cho người
đứng thứ 2 trong tam khôi,
giới trả nguyên trên thám hoa.
Tuy nhiên, kỳ thi này không
lấy đỗ trả nguyên, nên ông lần thứ 3
là người đỗ đầu.
Ngày sau khi đỗ đạt, Lê
Quý Đôn được bổ nhiệm làm quan
và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong
chiều lê trịnh, như thị thư,
thị giảng ở Viện Hàn Lâm,
toản tu quốc sử, thừa
chỉ Viện Hàn Lâm, học sĩ
ở bí thư các, tư nghiệp
quốc tử giám hay bồi tụng.
Theo khâm định Việt sử thông giám
Cương Mộc, đến năm 1783,
ông được giữ đến chức thượng
thư bộ công. Là mệnh quan
chiều định, Lê Quý Đôn được đi
nhiều, thấy nhiều, nghe nhiều.
Nhờ vậy mà chuyện gì
ông cũng nắm rõ ngọn ngành.
Ông từng được cử đi sang nhà thanh,
rồi đi gặp sứ thần Triều Tiên,
và khiến họ phải tôn trọng khen ngợi.
Lê Quý Đôn nổi tiếng là tác giả
của nhiều tác phẩm khảo cứ
về lịch sử địa chí văn hóa Việt Nam,
về lịch sử địa lý.
Ông có tác phẩm Đại Việt Thông Sử,
tên gọi khác là Lê Triều Thông Sử,
với 30 quyển ghi chép
về hơn 100 năm của Triều nhà Lê,
bắt đầu từ Lê Thái Tổ
đến Lê Cung Hoàng.
Một số tập sách nổi tiếng khác
của Lê Quý Đôn có thể kể đến như
phổ biên tạp lục 6 quyển,
ghi chép về tình hình xã hội
đằng trong từ thế kỷ 18
trở về trước, văn đài loại ngữ,
chính quyển, bách khoa thư
đồ sộ nhất thời phong kiến,
với nhiều tri thức về chít học, khoa học,
văn học sắp xếp theo thứ tự,
vũ trụ luận, địa lý,
điển lệ, chế độ văn nghệ,
ngôn ngữ, văn tự,
sản vật tự nhiên, xã hội.
Ngoài ra ông còn nhiều sách
bàn giảng về kinh,
truyện, sách khảo cữ về cổ thư,
sách thơ văn.
Trong lời tựa Sách Kiến Văn Tiểu Lục
chép vặt những điều nghe thấy,
Lê Quý Đôn tự nhận trong thời gian phụng mệnh
làm việc công, bốn phương rong rủi,
ông đi tới đâu cũng để tìm tòi,
làm việc gì mắt thấy tay nghe
đều dùng bút ghi chép.
Lại phụ thêm lời bình luận xưa qua
do cho Tiểu Đồng
Quý vị thân mến, Chú Văn An,
Nguyễn Bình Khiêm và Lê Quý Đôn
đều là những nhà giáo lỗ lạc
để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử,
giáo dục và văn hóa Việt Nam.
Tư tưởng và bài học của họ
vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay,
nhắc nhở chúng ta về vai trò
quan trọng của tri thức,
sự chính trực và lòng yêu nước.
Họ là biểu tượng của
truyền thống hiếu học, sự tận tụy
và tinh thần khai sáng, góp phần
làm dạng danh nền văn hóa Việt Nam.
