15 NƠI TẬN CÙNG CỦA TRÁI ĐẤT CÓ NGƯỜI Ở? BẠN CÓ DÁM TỚI ĐÂY SINH SỐNG? (Phần 2)

Thành Phạm
511 người theo dõi
Comments are disabled for this video.
Kể từ khi các cảng hàng không bắt đầu hoạt động,
chúng ta đã có cơ hội biến những giấc mơ khám phá những miền đất xa xôi trở thành hiện thực.
Tuy nhiên, không phải tất cả mọi nơi trên thế giới đều có thể dễ dàng đặt chân đến,
bởi vẫn còn tồn tại những vùng đất mà con người chinh phục chúng thực sự gian nạt
khi không có nhiều sự kết nối với thế giới bên ngoài.
Vậy đâu là những địa điểm có con người sinh sống nhưng khó tiếp cận nhất trên thế giới?
Hãy cùng 5 phút thôi tìm hiểu ngay trong video hôm nay nhé!
Palmerston
Đây là một hòn đảo san hô thuộc quần đảo Cúc ở Thái Bình Dương có diện tích 2,6 km vuông.
Nó cách New Zealand khoảng 2.800 km về phía đông bắc
và cách Tahiti khoảng 1.500 km về phía tây.
Trong quá khứ, hòn đảo này gần như hoang sơ và không có người sinh sống,
cho đến khi thậm mộc William Masters, người đã chế tác ra những thủng rượu gỗ nổi tiếng,
đặt chân đến đây vào năm 1860.
Bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của Palmerston nên 3 năm sau đó,
ông đã cùng vợ và 2 người em gái họ của vợ chuyển đến sinh sống trên hòn đảo này.
Masters cùng với 3 người phụ nữ sinh được 17 người con.
Từ đó đến nay, dân số trên đảo đã tăng lên 62 người.
Mặc dù được quản lý bởi chính phủ quần đảo Cúc thuộc thẩm quyền New Zealand,
nhưng mại đến năm 1954, người dân tại Palmerston mới được cấp quyền sử dụng đất.
Tuy vậy, cuộc sống trên đảo vẫn còn nhiều khó khăn.
Ở đây không có cửa hàng, chỉ có 2 nhà vệ sinh và nước mưa được tận dụng để sinh hoạt và trồng trọt.
Điện được sử dụng 2 ngày 1 lần, từ 6 giờ sáng đến 12 giờ trưa và 1 lần vào buổi tối.
Có 1 trạm điện thoại duy nhất được lắp đặt trong vùng để người dân có thể liên lạc với bên ngoài,
trong khi cá là nguồn thực phẩm chủ yếu và là mặt hàng xuất khẩu duy nhất được ở đây.
Có thể nói, cuộc sống khắc nghiệt tại Palmerston bắt nguồn từ việc hòn đảo này được biết đến
là 1 trong những miền đất cô lập và nhỏ bé ở Thái Bình Dương.
Tại đây không có sân bay và tàu chở hàng chỉ ghé thăm vài lần.
Hàng năm chỉ có 2 chuyến tàu cung cấp các vật tư thiết yếu như gạo và nhân liệu cho đảo,
đồng thời thu mua cá đông lạnh để chuyển về đất liền.
Bên cạnh những tàu hàng, Palmerston cũng tiếp đón khoảng 10 tàu du lịch mỗi năm,
nhưng quãng đường di chuyển thường rất lâu.
Ước tính, cuộc hành trình đến đảo sẽ kéo dài khoảng 2 ngày nếu bắt đầu từ Parotonga,
thuộc quần đảo Cúc, và lên đến 8 ngày nếu khởi hành từ Tahiti.
Ngoài ra, vì không có khung nhỉ dưỡng và khách sạn nên theo phong tục,
gia đình đầu tiên chào đón các du khách sẽ cung cấp chỗ nghỉ ngơi cho họ tại chính ngôi nhà của mình.
Nằm ở khu vực hẻo lánh xa xôi nhất của lãnh thổ liên bang Ladakh của Ấn Độ,
thùng lũng Jhanska rộng khoảng 7.000 km2 từ lâu được biết đến như một trong những thành lũy cuối cùng
của nền văn hóa Phật giáo Tây Tạng cổ.
Biên lập trong hàng thế kỷ, nơi đây nằm ở độ cao trung bình là 3.600m
và được bao quanh bởi rất nhiều ngọn núi cao của dãi Himalaya hùng vĩ với đỉnh cao nhất lên đến 7.000m.
Các dãy núi này đã hoạt động như một hàng rào khí hậu bảo vệ Jhanska khỏi phần lớn gió mùa,
dẫn đến loại hình khí hậu khô và ấm áp dễ chịu vào mùa hè.
Tuy nhiên, mùa đông thực sự rất khắc nghiệt, nhất là khi có gió mạnh.
Nhiệt độ trung bình trong ngày vào khoảng ấm 10 độ C, ban đêm giảm xuống còn từ ấm 20 đến ấm 25 độ C.
Đặc biệt tuyến đường chính đến Jhanska là tuyến đường Chadar dài 105km,
đường những người đi bộ qua dòng sông Jhanska đóng băng.
Đây là một đoạn đường cực kỳ nguy hiểm,
du khách có nguy cơ gặp tuyết lở, bão tuyết hoặc rơi qua lớp băng vỡ xuống dưới lòng sông.
Trên thực tế, việc di chuyển bằng đường bộ không phải là một lựa chọn lý tưởng do tuyết rơi rất dày
và nguy cơ tuyết lở cao cho dù đường xá trong khu vực đã được cải thiện rất nhiều.
Vào năm 2022, dịch vụ trực thăng đưa đón du khách từ thành phố Ladakh đến thùng lũng Jhanska
đã đi vào hoạt động.
Nhờ đó, du khách chỉ mất 45 phút mà không cần vượt qua hành trình nguy hiểm
để đến được vùng đất xa xôi bí ẩn này.
Tuy vậy, có rất ít khách du lịch đến Jhanska vào mùa đông,
do đó tất cả các khách sạn và nhà khách đều đóng cửa,
phương tiện đi lại trở nên khan hiếm và mọi người chỉ có thể ở ẩn chờ đến mùa xuân.
Với vị trí địa lý biệt lập cùng khí hậu khác nghiệt nên số lượng cư dân ở Jhanska là rất ít,
theo thống kê chỉ vào khoảng 14.000 người, trong đó có đến 95% là người theo đạo Phật Tây Tạng,
số còn lại theo đạo Hồi Suni.
Họ chủ yếu sinh sống bằng việc canh tác và trăn nuôi gia súc.
Đó là lý do tại sao khi đến Jhanska,
hình ảnh của những đàn gia súc lang thang ăn cỏ trên các thùng lũng là rất phổ biến.
Mặc thoát
Trung Quốc là quốc gia có khả năng phát triển cơ sở hạ tầng ấn tượng.
Họ chỉ mất 8 giờ để phá bỏ một cầu vượt, 9 giờ để xây dựng lại ga đường sát cao tốc
và 350 giờ để xây dựng tòa nhà 30 tầng có thể chịu được trận động đất mạnh 9 độ Richter.
Tuy nhiên, có một vùng đất từng được xem là khó tiếp cận nhất tại Trung Quốc,
đó là Mạc Thoát thuộc khu tự trị Tây Tạng.
Với diện tích 6.600 km2 thì đây là nơi sinh sống của gần 15.000 người.
Huyện này nằm sâu trong dãi Himalaya và được bao quanh bởi nhiều hẻm núi,
sơn dốc, vách đá cùng các chướng hại vật tự nhiên.
Do hạn chế về mặt địa lý, việc xây dựng đường đến Mạc Thoát là một nhiệm vụ khó khăn
khi mà những rủi ro về thiên tai như sạt lở đất luôn dình dập.
Đó còn là chưa kể, với độ cao vượt qua 2.000m, khí hậu tại đây rất khắc nghiệt,
với nhiệt độ giao động lớn và lượng oxy loãng gây khó khăn cho quá trình thi công.
Người lao động thường phải đối mặt với điều kiện bất lợi như thiếu oxy,
cái lạnh cắt da và gió mạnh. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến họ trong việc xây dựng
cũng như vận chuyển vật liệu.
Từ năm 1961, Trung Quốc bắt đầu thăm dò và lập kế hoạch cho dự án xây dựng tuyến đường kết nối.
Đến năm 1965 thì việc xây dựng đã bắt đầu,
nhưng ngay lập tức gặp khó khăn do địa hình dốc đứng.
Nỗ lực này bị tạm ngừng cho đến năm 1975 thì tái khởi động lại,
tuy nhiên nó lại một lần nữa bị hủy vào năm 1981.
Trong suốt 40 năm sau đó, các công nhân đã vận chuyển vật liệu,
mở đường trong điều kiện khó khăn và vượt qua nhiều trở ngại từ thiên nhân.
Cuối cùng thì vào ngày 15 tháng 5 năm 2021, một tuyến đường dài 67,22km đã được hoàn thành,
kết nối thành phố Lâm Tri với huyện Mạc Thoát,
qua đó kết nối huyện biệt lập này với phần còn lại của đất nước.
Nằm ở đại Tây Dương, đảo Fula thuộc cùng đảo Setlan,
cách khu định cư War trên đảo chính Manlan khoảng 24km về phía tây nam
và cách phần đất liền Scotland khoảng 220km về phía nam.
Với diện tích là 12,65km2 cùng dân số chỉ 30 người,
thì đây là một trong những hòn đảo xa xôi nhất có người ở thường xuyên của Vương quốc Anh.
Người dân Fula chủ yếu sống bằng nghề nông, nuôi cừu và ngựa pony,
nhưng để bán các sản phẩm của mình,
họ không thể dùng máy bay mà phải dùng thuyền chuyên trở vượt đại Dương
mới đưa được hàng hóa đến chợ trên đất liền.
Bên cạnh đó, mặc dù thế giới bên ngoài có phát triển hiện đại đến đâu,
thì cuộc sống tại Fula vẫn mộc mạc và đơn giản như những ngày xưa.
Đặc biệt, dù thời gian trên đảo cũng trôi qua một ngày 24 tiếng như mọi nơi khác trên trái đất,
nhưng lễ Giáng sinh, năm mới hay những ngày lễ khác trong năm tại đây lại luôn chậm hơn đến 2 tuần.
Lý do thật sự là vì người dân sử dụng lịch Julian,
một loại lịch cổ đã không còn được ai dùng từ khi công lịch ra đời vào năm 1582.
Mặt khác, Fula trong tiếng Bắc Âu cổ có nghĩa là đảo chim,
vì nơi đây nổi tiếng với những loài chim biển đẹp và quý hiếm,
thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan vào hè hàng năm.
Tuy vậy, hòn đảo này quá biệt lập, dù có TV, điện thoại cố định và internet,
nhưng chẳng có lấy một quán rượu, cũng rất ít xe cộ, thậm chí không có sóng điện thoại di động,
nên ngoài những du khách muốn hưởng một bầu không khí đơn sơ và không có tiếng ồn,
thì có lẽ chẳng mấy ai chịu được nổi sự tĩnh lặng bao trùm tại nơi đây.
La Rinconada
Tọa lạc trên rãi Andes hùng vĩ của Nam Mỹ,
La Rinconada với độ cao 5.100m so với mực nước biển,
được biết đến như một trong những thành phố cao nhất trên thế giới,
nhưng cũng chính địa hình ấn tượng này đã khiến nó bị cô lập và khó tiếp cận.
Để đến được đây, du khách phải lái xe 4 giờ từ Puno qua những con đường dốc núi và nguy hiểm,
đó còn là chưa kể đến thời tiết băng giá,
khi phần lớn thời gian trong năm nhiệt độ luôn dưới 0 độ C.
Mặc dù điều kiện sống khắc nghiệt,
khu vực này vẫn thu hút một lượng lớn người dân từ khắp nơi đổ về,
chủ yếu là vì mỏ vàng ở đây.
Với khao khát làm giàu nhanh chóng, dân số của thành phố hiện tại đã lên đến gần 30.000 người.
Tuy nhiên, rất ít người có khả năng thích nghi hoàn toàn với cuộc sống ở La Rinconada,
bởi các con phố lúc nào cũng lầy lội do tuyết tan,
trong khi cơ sở hạ tầng lại thiếu thốn trầm trọng.
Nó cũng không có nước sạch, không có hệ thống nước thải hay nhà vệ sinh công cộng.
Ngay cả các hồ nước gần đó, vốn là nguồn cung cấp nước cho người dân,
cũng bị ô nhiễm nặng nề bởi thủy ngân dư thừa từ quá trình khai thác vàng.
Vì vậy, nơi đây còn được mệnh danh là thiên đường của quỷ.
Mặt khác, tuổi thọ trung bình của người dân cũng chỉ đạt 30-35 tuổi,
do phải đối mặt với các can bệnh về phổi, nhiễm trùng đường hô hấp,
các vấn đề về thần kinh, dị tật, bại liệt và tử vong sớm.
Nằm ở phía vòng bắc cực, Itokotomit là một ngôi làng của Greenland chỉ có 345 người sinh sống.
Họ chủ yếu là người Inuit, những người bản địa kheo léo chịu đựng cái lạnh khắc nghiệt.
Điều đáng nói là hiện không có con đường trực tiếp để đến đây.
Thay vào đó, du khách chỉ có thể tiếp cận khu vực này bằng máy bay
thông qua sân bay Nlerit-i-Na'at cách đó khoảng 40 km,
rồi từ sân bay này di chuyển bằng xe trợt tuyết mới đến được thị trấn.
Ngoài ra, còn có một cách khác đó là đi thuyền từ Đan Mạch hoặc Ireland,
tuy nhiên du khách chỉ có thể đến được vào mùa hè,
bởi 9 tháng còn lại trong năm mặt biển bị đóng băng nên không thể đến được.
Trong khi khu vực xung quanh là môi trường sống lý tưởng cho các loài động vật như gấu bắc cực,
bò xạ hương, cùng hàng triệu con chim biển làm tổ trên những tảng băng trôi.
Giống như nhiều nơi hẻo lánh khác trên toàn cầu,
Itokotomit đang phải đối mặt với tình trạng giảm dân số nghiêm trọng,
khi ngày càng nhiều thanh niên lựa chọn rời bỏ quê hương
để tìm kiếm cơ hội học tập và làm việc ở các thành phố lớn.
Hơn nữa, thị trấn cũng đang phải đương đầu với thử thách lớn từ biến đổi khí hậu,
khi băng tan sớm hơn và hình thành muộn hơn, làm ảnh hưởng trực tiếp đến nền văn hóa.
Supai
Từ lâu, hẻm núi Grand Canyon ở Arizona là một trong những điểm du lịch hút khách nhất của Mỹ.
Trong đó ngồi làng Supai ở hẻm núi Havasu Canyon,
một nhánh rẽ của Grand Canyon nổi tiếng với sự cô lập và bí ẩn.
Đây là nơi sinh sống của bộ lạc Havasupai trong hơn 800 năm qua,
và có lẽ là ngôi làng bị cô lập nhất tại Mỹ.
Tuy tuyến đường vào làng chỉ dài 13 km, nhưng ô tô không thể đi vào khu vực vì đường núi gập gầy.
Cách duy nhất là dùng máy bay trực thăng hoặc cưỡi la dọc theo đường mòn Havasupai,
tuyến đường duy nhất nối Supai với các khu vực khác.
Thực tế, cái tên Havasupai có nghĩa là người của vùng nước xanh,
và nó bắt nguồn từ màu xanh ngọc tuyệt đẹp của dòng sông Havasu
chảy ngang qua hẻm núi cùng tên và làng Supai.
Trước khi đổ vào sông Colorado.
Bộ lạc này là cộng đồng thổ dân da đỏ nhỏ nhất nước Mỹ, với tổng số dân khoảng 600 người.
Trước khi người châu Âu đến, họ sinh sống đông đúc trên vùng đất có diện tích tương đương với tiểu bang Delaware.
Thổ dân Havasupai canh tác ở các phần đất mở rộng, nơi hẻm núi,
sử dụng nguồn nước dồi dào từ các con sông để trồng ngô, bí, dưa hấu và các cây họ đậu.
Vào mùa đông, người dân thu hoạch hoa màu,
sau đó chuyển đến rìa hẻm núi để đàn ông săn bắn hiêu và linh dương, còn phụ nữ thì đan dỏ.
Nhưng lối sống bình dị trên đã bị gián đoạn từ những năm đầu thế kỷ 19,
khi các thợ mỏ và chủ trang trại xuất hiện, chiếm đất đai và dồn người Havasupai vào sâu trong hẻm núi.
Mãi cho đến năm 1975, sau gần một thế kỷ hệ thống tư pháp Mỹ đấu tranh,
chính phủ mới khôi phục lại vùng đất xưa cho người Havasupai.
Hiện bộ tổng này vẫn trồng cây và đan dỏ, nhưng nguồn thu nhập chính của họ dựa vào ngành du lịch.
Mỗi năm có hơn 20.000 lượt khách đến tham quan ngôi làng
và chiêm ngưỡng cảnh tượng ngoạn mục tại các thác nước ở hẻm núi Havasupai Canyon.
Trong làng có rất nhiều dịch vụ dành cho khách du lịch như quán cà phê, cửa hàng tạp hóa, nhà nghỉ, biểu điện.
Làng Supaii cũng có trường học, nhà thờ và nhiều tòa nhà quan trọng khác.
Tuy nhiên, vì tọa lạc ở một khu vực khó tiếp cận, nó cũng là nơi duy nhất ở Mỹ phân pháp thư bằng những con lừa,
với mỗi gói biểu kiện gửi từ Supaii đều được đóng dấu đặc biệt
và đã trở thành một kỷ niệm thú vị cho du khách.
South Yorkshire
Nằm tại phía nam Đại Tây Dương và thuộc quyền sở hữu của Vương quốc Anh,
South Yorkshire ở cách đảo Coronation 830 km về phía đông bắc
và cách đảo Zavodovsky 550 km về phía tây bắc, với tổng diện tích lên đến khoảng 3.528 km2.
Trên đảo không có cư dân định cư lâu dài, chỉ có khoảng 30 người đang thực hiện các hoạt động nghiên cứu,
bao gồm các viên chức chính phủ Anh, nhân viên biểu điện,
các nhà khoa học cùng những cán bộ thuộc cơ quan đo đạc Nam cực Anh.
South Yorkshire không có sân bay, do đó phương tiện duy nhất để tiếp cận hòn đảo này
là tàu biển từ Tierra del Fuego hoặc quần đảo Falkland.
Và đây đều là những hành trình kéo dài ít nhất 2 ngày đêm,
đi qua những vùng biển thường xuyên bị vùi dập bởi những cơn bão bất ngờ
và những trận cuồng phong dữ dội nhất thế giới.
Hiện nay, 3 phần tư diện tích của đảo bị đóng băng vĩnh kiểu,
với những dạy núi quanh năm tuyết phủ ở độ cao gần 2.000m và chìm sâu xuống những vịnh hẹp,
nơi những giải băng hà xanh biếc như pha lê rơi vỡ và hòa tan vào nước biển lạnh
tạo nên những âm thanh sấm rền vang vọng trong không gian bao la, một cảnh tượng cực kỳ ngoạn mục.
Hòn đảo này cũng là nơi sinh sống của hàng triệu loài chim biển, hải cầu và chim cánh cụt.
Amsterdam
Đây là một hòn đảo biệt lập thuộc quyền sở hữu của Pháp tại Ấn Độ Dương.
Với diện tích là 56,6km2, thì Amsterdam hiện là nơi sinh sống của khoảng 28 người.
Nó nằm cách phần đất liền của Madagascar, Australia và Nam Cực,
cũng như lãnh thổ Ấn Độ Dương của Anh và quần đảo Cocos cùng một khoảng cách hơn 3.200km.
Do nằm ở trung tâm của Ấn Độ Dương cùng vị trí địa lý xa xôi,
nên việc tiếp cận đảo này là điều không dễ dàng.
Khó khăn duy nhất hiện nay đó là không có sân bay trên đảo.
Vì vậy, cách di chuyển duy nhất cho những ai muốn ghé thăm nơi đây là di chuyển bằng tàu,
và hành trình này thường kéo dài trên một tuần tùy vào địa điểm mà du khách xuất phát.
Có thể nói, sự cô lập trong một khoảng thời gian dài đã giúp Amsterdam phát triển hệ sinh
thái độc đáo nhất hành tinh. Đặc biệt, đây chính là nơi sinh sống của nhiều loài đặc hữu,
như chim hải ô Amsterdam. Hiện nay, hòn đảo này đang trở thành điểm đến lý tưởng cho việc cắm chạy,
đi bộ đường dài và hòa minh vào thế giới tự nhiên tuyệt đẹp.
Tuy nhiên, trên đảo vẫn còn thiếu nhiều cơ sở hạ tầng,
nên chỉ có thể đáp ứng một vài nhu cầu cơ bản của khách du lịch.
Villalax Escherach
Nằm trên hòn đảo King George thuộc Chile ở giề nam cực,
thị trấn Villalax Escherach chỉ có dân số khoảng 150 người.
Cư dân sinh sống ở đây hầu hết là các nhà nghiên cứu, những người phục vụ nghiên cứu khoa học.
Từ lâu, chính quyền địa phương đã áp dụng một quy định kỳ lạ,
đó là yêu cầu tất cả mọi người phải cắt ruột thừa trước khi chuyển đến sinh sống.
Điều này bắt nguồn từ địa hình đặc biệt của Villalax Escherach.
Mặc dù nằm gần một sân bay, nhưng nếu bị đau ruột thừa,
người dân sẽ không thể tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế kịp thời.
Thị trấn nằm trên hòn đảo hẻo lánh luôn phủ đầy băng tuyết,
cách xa khu vực sinh sống của phần lớn dân cư trên thế giới.
Nơi đây cách bờ biển nam cực 120km và cách bệnh viện có khả năng làm phẫu thuật gần nhất là hơn 1.000km.
Do vậy, việc cắt ruột thừa trước giúp người dân hạn chế các tình huống phải đi cấp cứu.
Tại Villalax Escherach, chính phủ Chile cũng cho xây dựng một khu chữa trị,
tuy nhiên điều kiện thời tiết khắc nghiệt khiến các bác sĩ không thể thực hiện một ca phẫu thuật khẩn cấp.
Gió ở đây luôn thổi rất mạnh với tốc độ lên đến 200km trên giờ và đi kèm theo mưa đá.
Máy bay cũng rất khó cất cánh, hạ cánh trên đường băng dài sỏi.
Vì vậy, chỉ có các chuyến bay không cố định từ khu vực phía nam Chile đến đây,
nhưng tần suốt thường diễn ra không nhiều.
Thậm chí vào mùa đông, lớp tuyết ở đây dày đến vài mét,
nhiệt độ trung bình là âm 3 độ C và nhiệt độ lạnh nhất từng ghi nhận được là âm 47 độ C.
Điều này khiến cho người dân hầu như không thể làm gì hơn là hạn chế ra đường
và ngồi trong nhà suốt những tháng mùa đông rét buốt.
Nhiều người đã miêu tả điểm đến này như là một nơi ở hành tinh khác.
Ellesmere
Đây là một hòn đảo rộng lớn có diện tích là 196.236 km2,
nằm ở phía bắc vùng Nunavut của Canada, nó cách bắc cực khoảng 800km và Greenland hơn 37km.
Với dân số khiêm tốn chỉ 144 người vào năm 2021,
cư dân nơi đây chủ yếu sống tập trung tại 3 khu vực định cư đó là Alert, Eureka và Grisefjord.
Do nằm gần vị trí sát vùng cực nên Ellesmere mang cho mình khí hậu lạnh nguyên khắc nghiệt
với băng tuyết bao phủ quanh năm.
Vào mùa đông, nhiệt độ có thể hạ xuống tới âm 50 độ C.
Và ở mức nhiệt độ này, nếu con người không được bảo vệ đúng cách
thì sẽ gây nguy cơ đóng băng rác mạc, da và cơ bắp.
Địa hình và khí hậu khắc nghiệt đã biến hòn đảo này
Việc tiếp cận Ellesmere không hề dễ dàng bởi nơi đây không có đường bộ cũng như đường hàng không
khiến cho việc vận chuyển hàng hóa và di chuyển hành khách phụ thuộc hoàn toàn vào các chuyến tàu thuyền.
Những khó khăn trong việc tiếp cận càng làm tăng thêm sự bí ẩn và thu hút cho hòn đảo này,
biến nó thành một điểm đến đặc biệt cho những ai đam mê khám phá vùng đất này.
Nằm ở trung tâm nước Úc giữa Adelaide và Alice Springs,
Cooperbeddy là thị trấn duy nhất giữa một vùng đất đỏ hoang vắng,
hình thành từ những người thợ mỏ đến từ hơn 45 quốc gia trên thế giới.
Với dân số gần 1.500 người, nó nằm cách thành phố Adelaide khoảng 846 km về phía Bắc
và được mệnh danh là thủ phủ đá mắt mèo vì có khoảng 70% lượng khoáng vật này được khai thác ở đây.
Khoảng 150 triệu năm trước, khu vực này được đại dương bao phủ.
Khi nước biển rút đi, biến đổi khí hậu đã khiến mực nước ngầm hạ thấp
và silica lắng động trong các hang và khe nứt gãy dưới lòng đất, hình thành đá mắt mèo sau hàng triệu năm.
Đến năm 1915, việc phát hiện ra loại khoáng sản trên đã thúc đẩy người dân đến đây định cư
và thành lập một thị trấn với tên gọi là Cooperbeddy.
Do nhiệt độ ở vùng này có lúc lên đến 52 độ C nên họ đã nghĩ ra cách xây nhà dưới lòng đất để ở,
vừa tránh nắng nóng mùa hè vừa giữ ấm vào mùa đông.
Chúng được xây dựng sâu dưới lòng đất 4 mét và người dân đã dùng đá sa thạch cũng như đá bột kết để xây nhà.
Có thể thấy, đây không chỉ là câu chuyện về sự thích nghi với thiên nhiên khắc nghiệt
mà còn là minh chứng cho tinh thần kiên cường và khả năng sáng tạo vô hạn của con người.
Khi mà giữa một vùng đất hoang vắng, họ đã biến thử thách thành cơ hội
tạo nên một thị trấn độc nhất vô nhị trên thế giới.
Hay mày
Tọa lạc ngoài khơi bờ biển phía nam của Iceland, Hay mày là một viên ngọc sáng của quần đảo Westman.
Với diện tích khoảng 13,4 km2, hòn đảo này là nơi cư trú của khoảng 4.500 cư dân.
Mặc dù chỉ cách đất liền khoảng 10 km, nhưng do địa hình đặc thù và những trở ngại tự nhiên khác nhau,
việc tiếp cận Hay mày trong quá khứ đã không hề đơn giản.
Giờ đây, nhờ sự bùng nổ của ngành du lịch, du khách có hai con đường để đến với hòn đảo,
đó là chuyến bay ngắn từ Reykjavik hoặc là một chuyến phà từ cảng Lente-Gjallhorp.
Tuy nhiên, cả hai phương thức vận chuyển này đều phải chịu ảnh hưởng của thời tiết
và mỗi lựa chọn đều có những yêu nhược điểm riêng.
Và ít ai biết được rằng, Hay mày vốn là một hòn đảo được cấu thành hoàn toàn từ nham thạch
ngọn núi lửa Elfvell với lần phun trào đầu tiên diễn ra vào năm 1973
đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử của hòn đảo.
Để bảo vệ Hay mày khỏi dòng dung nham,
người dân địa phương đã khéo léo bơm nước biển lạnh vào những dòng chảy nóng bỏng,
nhằm chuyển hướng chúng.
Nhờ sự sáng tạo và quyết tâm, họ đã thành công trong việc bảo vệ hòn đảo
và thậm chí còn tạo ra một tuyệt tác không ngờ đến, đó là tảng đá voi.
Ngày nay, Hay mày không chỉ là một địa điểm du lịch nổi tiếng ở Iceland
mà còn thu hút du khách bởi vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên
và những tour ngắm động vật hoang dã vào mùa hè.
Ốc đảo Siwa
Nằm cách biên giới Ai Cập, Libby khoảng 50 km về phía đông,
Siwa có diện tích là 201 km2 và là một trong những điểm dân cư hẻo lành nhất ở Ai Cập
với dân số khoảng 23.000 người, chủ yếu là người bơ bơ.
Ốc đảo này được bao quanh bởi những hồ muối trong xanh,
từng bị lãng quên cho đến khi người ta nhận ra tiềm năng kinh tế từ việc khai thác muối.
Trong những năm gần đây, một số hồ nước đã được đầu tư cho ngành du lịch,
mang lại trải nghiệm độc đáo cho du khách.
Nồng độ muối cao tại đây giúp người bơi dễ dàng nổi bồng bình mà không cần tốn chút sức lực nào,
mang đến những khoảnh khắc thư giãn tuyệt vời khi đến đây.
Dù sở hữu nhiều tiềm năng phát triển, Siwa lại gặp phải trở ngại lớn do vị trí xa trung tâm đất nước
và nằm giữa vùng sa mạc bao la, khiến việc vận chuyển thực phẩm trở nên cực kỳ tốn kém.
Do đó, người dân phần lớn vẫn phụ thuộc vào nguồn thực phẩm tự cung tự cấp từ thiên nhiên,
như các loại cá được đánh bắt từ bờ biển hoặc những dòng sông gần kề.
Đó là còn chưa kể, khí hậu khắc nghiệt cùng những cơn bão cát của sa mạc
đã phần nào gây khó khăn cho việc tiếp cận ốc đảo này.
Nằm cách thủ đô Bơn hơn 200 km,
Zatfe là một ngôi làng nhỏ được bao quanh bởi dạy núi Anpơ.
Với diện thích là 40,6 km2, thì đây là nơi sinh sống của khoảng 1.600 người.
Để đến được thị trấn Yên Bình này, du khách sẽ bắt đầu hành trình bằng chuyến tàu từ Bơn đến Vis,
thuộc bang Vale của Thụy Sĩ.
Các chuyến tàu hoạt động liên tục suốt cả ngày
và cứ một tiếng lại có một chuyến để phục vụ nhu cầu di chuyển của du khách.
Sau khi đến Vis, hành trình tiếp tục với chuyến xe buýt uốn khúc qua những con đèo núi,
dẫn lối đến Zatfe.
Sau đó du khách phải tự đi bộ về khách sạn hoặc kiếm xe điện
bởi ô tô không được phép đi vào thị trấn.
Từ năm 1951, nơi đây đã có quy định về thị trấn không khói.
Khi chính quyền địa phương cấm tất cả mọi loại xe cơ giới,
ô tô, xe máy để tránh gây ô nhữa môi trường.
Trong khi các phương tiện công cộng như taxi hay xe buýt đều chạy bằng điện.
Mặc dù việc đi lại rất khó khăn do địa hình núi cao và dốc,
nhưng Zatfe vẫn rất thú hút du khách bởi nhiều hoạt động như trượt tuyết,
leo núi, đi bộ trong cánh rừng thông xanh mướt
hay đơn giản là tham quan các ngôi nhà gỗ trong thị trấn.
Trong đó điểm đến nổi tiếng nhất đó là đỉnh núi Alalin có độ cao 4.027m,
cùng khu tổ hợp trượt tuyết lớn nhất trong vùng.
Để đến được đây, bạn sẽ trải nghiệm gần 30 phút trên cáp treo
và ngắm nhìn cảnh vật nên thơ từ trên cao nhìn xuống.
Và trên đây là 15 địa điểm có con người sinh sống nhưng khó tiếp cận nhất trên thế giới.
Xin chào và hẹn gặp lại các bạn trong những video tiếp theo.
