Hóa Hổ Giết Vua Nỗi Oan Khuất Còn Bỏ Ngỏ Của Thái Sư Lê Văn Thịnh Bài Học Còn Giá Trị Đến Nay #hnp.mp4
Anh Đức
212 người theo dõi
3 thg 3, 2025
Hồ Tây của thủ đô Hà Nội, kinh đồ thẳng lòng ngàn năm văn hiến.
Đây chính là địa điểm của vụ án kỳ lạ, số phận éo le của Thải sư Lê Văn Thịnh mà hàng ngàn năm sau vẫn là bí ẩn lịch sử.
Khi nhà vua ngự tuyền nhỏ ra hồ Tây, vua đang ngắm cảnh trợt mây mù nổi lên.
Trong đám sương mù, nghe có tiếng mái treo khua nước.
Một con tuyền lạ áp tới, lù lù một hình con cọc ngự trên tuyền.
Một người tuyền trai quàng lưới, phút chốc bắt được cọc.
Nhưng khi nhìn ký, chính là Thải sư Lê Văn Thịnh.
Triều đình lập tức kết tội Thải sư, liệt vào tội dùng phép hóa hổ để cướp ngôi vua.
Cùng những đóng góp cho đất nước trong thời lý và sự oan khiên của ông.
Đây vẫn là câu chuyện bí mật của lịch sử.
Xong muốn hay không đã đến lúc phải tôn vinh xứng đáng cho Thải sư Trạng Nguyên Lê Văn Thịnh.
Cứ mỗi dịp xuân sàng, vào ngày 6 tháng 2 âm lịch 4 năm một lần.
Những năm thân, tí, thìn tại thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
Nhân dân mười đình của các thôn, xã trong huyện lại tổ chức lễ hội thập đỉnh.
Tưởng nhớ công lao của vị Thải sư Lê Văn Thịnh.
Trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam dưới thời lý cách đây đã gần 1.000 năm.
Có mười đình ở Bắc Ninh là thờ cụ.
Là con ngũ đình nội và ngũ đình ngoại hàng năm đều mở hội.
Tức là ngũ đình nội thì từ ngày mùng 6 đến mùng 8.
Ngũ đình ngoại thì từ mùng 10 đến mùng 12.
Hàng năm thì 4 năm có một lần hội lớn như hôm nay.
Thì như vậy là mười đình về trước.
Sau khi năm 1993 thì cụ được Bộ Văn hóa Thông tin và Sở Văn hóa Thông tin của Hà Bắc.
Cụ được công nhận là doanh nhân văn hóa.
Và đỉnh Bảo Tháp chính thức là được công nhận là di tích quốc gia.
Từ đó tới nay thì các mười đình tiếp tục như vậy là vinh danh của cụ.
Và được nhà nước công nhận là đỉnh văn hóa cấp tỉnh.
Và hàng năm đều mở hội đều đặt để tưởng nhớ đến công an của cụ.
Là con người có công với nước.
Và cũng là người trạng nguyên đầu tiên khai khoa của Việt Nam.
Truyền thống tôn vinh những người có công với dân với nước là nét đẹp văn hóa ngàn đời của người Việt Nam.
Mà nhân dân và lịch sử thì luôn công bằng với điều này.
Bởi sự bất tử của những con người của lịch sử sẽ được phán xét khi đã rời xa khỏi điểm lịch sử.
Câu chuyện cuộc đời và những quan khuất của Thái sư Lê Văn Thịnh
cũng chính là điều chúng tôi muốn lý giải thông qua bộ phim này.
Tìm về thôn Bảo Tháp xã Đồng Cứu huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh hôm nay.
Để cùng lật lại trang sử cách đây đã ngàn năm.
Giúp chúng ta hiểu thêm về trạng nguyên Lê Văn Thịnh.
Vào thời vua Lý Nhật Tổng, bây giờ ở khu Bảo Tháp, trang Đồng Cứu, huyện Gia Định,
nay là Gia Bình, phủ Thuận An, nay đổi là Thuận Thành, đạo Kinh Bắc.
Có gia đình ông bà Trần Thị Tín và ông Lê Văn Thịnh là gia đình nho học.
Sinh được người con trai thông minh, tuấn tú.
13 tuổi đã am hiểu kinh sử, tinh tường thiên văn địa Lý,
sớm đỗ đạt ngay ở khoa thi đầu của nhà Lý.
Mà tới nay, văn bia vẫn còn lưu truyền rất rõ.
Cả trong thư tịch cỏ, lẫn trong truyền thuyết dân gia này,
thì người ta nhớ ngay, đấy là nhân vật thi đỗ đầu tiên,
trong cái khoa thi đầu tiên có tổ chức của nhà nước,
do triều đình nhà Lý tổ chức.
Thế thì là do cái thành tích lớn như vậy,
thì là cái việc thi đỗ của ngài, được nhân dân,
người ta truyền tụng lên, đấy là cái vị đỗ trạng nguyên,
khai khoa đầu tiên trong cái lịch sử khoa cử của dân tộc.
Và thậm chí là cũng có những cái truyền thuyết,
là còn dính đến cái câu chuyện,
tức là ngài là lưỡng quốc trạng nguyên.
Ông đã từ một cái người gọi là đi thi,
chân trắng, và vào triều,
và đồng thời tiến đến mức độ nước này thái sư,
thái sư đầu triều.
Thế có nghĩa là, ông phải có những cái sự uyên bác, uyên thâm,
đồng thời là phải có những công tích rất là lớn.
Quang sát phòng của các triều đại sau này,
hiện còn lưu giữ tại đền thờ cụ Lê Bàn Thịnh cho thấy rõ,
thời Lý giai đoạn đầu các chức sắc được tiến cử.
Đến thời giữa của vua Lý nhân tổng,
buổi đầu thi cử gọi là thi mình kinh bác học để chọn người tài.
Đó là bước manh nha đầu tiên,
theo tinh thần nho giáo, nho học.
Bản thân danh hiệu trạng nguyên chưa có ở giai đoạn đầu thi cử này.
Thời Lý, xã hội có sự phát triển vượt bậc và phật giáo.
Với những lý thuyết về an hiền ở lành kiếp trước kiếp sau,
thì không đủ sức mạnh để giúp cho triều đại nhà Lý tổ chức xã hội,
và phát triển lịch sử.
Do đó, dần dà xuất hiện yếu tố nho giáo,
với những tam cương, những ngũ thường.
Đấy là những giá trị mà có thể hỗ trợ đắc lực
cho sự phát triển của lịch sử
dưới sự điều hành của triều đại nhà Lý.
Thái sư Lê Văn Thịnh đã xuất hiện trong bối cảnh đó,
như là người tiên phong trong phong trào
mà khởi giấy của thế lực nhò học, nhò giáo, nhò gia.
Đền thờ trạng nguyên Lê Văn Thịnh,
trước đây là nền nhà quả cụ,
nay là ngôi đền nhỏ khiêm tốn ẩn giữa vườn cây hòa trái.
Bức hoành phi 5 chữ treo trong đền để rõ
Lê Trạng Nguyên Cổ Trạch,
tức nhà xưa của Trạng Nguyên Lê Văn Thịnh,
này được nhân dân gìn giữ, thờ cúng tràng trọng.
Quê tôi có truyền thống lễ hội thập đỉnh,
gồm có mười đỉnh, thờ,
thành hoàng của chúng tôi là Thủ Thái Sư Trạng Nguyên Khai Khoa Lê Văn Thịnh,
là người đỗ đầu khoa Minh Kinh Bác Học,
thời vua Lý Nhân Tông năm 1075.
Sau khi đỗ trúng Minh Kinh Bác Học,
thì ngài được triệu vào làm chức thị đọc,
đọc sách và dạy vua Lý Nhân Tông.
Ngay sau khi đỗ đạt đại khoa Nho Học,
Thái Sư Lê Văn Thịnh được mời vào cung
với chức trách trọng đại đầu tiên và nhiều ý nghĩa.
Lúc đứng thời là dạy học cho nhà vua,
khi còn nhỏ đó chính là vua Lý Nhân Tông.
Với chức vụ đó,
Lê Văn Thịnh được truyền dân sang làm quan giữ triều trong suốt 10 năm sau.
Với vị thế của mình, ông được tiến cử đến chức thị làng Bộ Bình.
Triều Lý bắt cho dựng văn miếu năm 1070
và để cho Hoàng Thái Tử ra đây học.
Thì năm 1075,
khi Minh Kinh Bác Học chọn người thầy
để dạy cho Thái Tử.
Nhưng khi đó là vua,
vua còn nhỏ, học ở đây.
Cho nên tìm một người để làm thầy, dạy vua.
Thì Lê Văn Thịnh đổ đầu vào trúng tuyển hình đó.
Thì nếu như hiểu là
người đổ đầu sau này là Trạng Nguyên thì sau này mới có.
Nhưng còn khi đó thì chưa có cái danh sưng của Trạng Nguyên.
Nhưng cũng đổ đầu vào bài khoa
thì Minh Kinh Bác Học để mà chọn người vào dạy cho vua.
Vào năm 1084,
7 năm sau cuộc chiến chống quân Tống
từ năm 1070 tới năm 1077 thắng lợi,
Lê Văn Thịnh được cử lên biên giới Vĩnh Bình,
là Lạng Sơn ngày nay.
Thường thuyết đòi lại đất các châu ở cao bằng Lạng Sơn
bị nhà Tống chiếm đóng.
Nhà Tống lấy cớ thổ tù đất ấy đã dâng nộp,
quản cài trị nhà Tống cương quyết không trả.
Với trí tuệ uyền thầm,
cùng sự kiên trì và khôn khéo sắc xạo trong bằng dao,
cụ Lê Văn Thịnh, vị thái sư đầu tiên của nền ngoại giao hòa hiếu với nhà Tống
lấy lại được 6 huyện và 2 động biên giới phía Bắc.
Với công lao tòa lớn đó,
Lê Văn Thịnh được phong làm quan thái sư,
đứng đầu các quan trong triều.
Muộc là nhà Tống là phải trả lại đất cho Đại Việt.
Và không những thế,
với việc gọi là cuộc đấu tranh giữ đất,
nó rất là gian khổ.
Và nhất là đối với phía Bắc,
thì chúng ta biết rằng rất là nhiều thủ đoạn,
nhưng mà ngài rất kiên quyết.
Và nhiều vị quan của chúng ta ghi là
chưa làm được cái chuyện đấy.
Nhưng mà đến thái sư Lê Văn Thịnh,
thì ông kiên quyết, khôn khéo và sắc xạo
đòi những cái phần đất đã mất của Đại Việt về cho Thổ quốc.
Đấy là cái điểm phải nói là rất là đáng ghi nhớ
đối với những nhân vật lịch sử lớn của Đại Việt Thành Lý.
Do vậy, là cái việc để mà gọi là ghi nhớ
cái công ơn của ngài.
Thì là nhân dân ở vùng quê,
rồi nhân dân ở các nơi,
thì người ta coi như là đã lập đền thờ còn lại cho đến bây giờ.
Từ năm 1980 năm,
đến năm 1996,
Trạng Nguyện Lê Văn Thịnh
có hơn 10 năm làm quan thái sư
ở chiều vua Lý Nhân Tông.
Bằng những chính sách, những cảnh cách,
cùng trí tuệ của người mang tư tưởng nho giáo
được thể hiện bằng việc làm cụ thể,
thiết thực cho đất nước.
Như năm 1988,
đề ra quy định quản lý đền chùa.
Và năm 1989,
cải tổ bộ máy.
Năm 1992,
định lại chế độ dụng đất,
thuế khóa, v.v.
Những việc làm đó động trạm
tới quyền lợi của nhiều người,
dẫn tới sự thù ghét của hai thế lực
qua lại và sự tặng.
Dẫn đến vụ án Hồ Dâm Đàm,
nguyên nhân từ ấy.
Ở cương vị này, ông đã
cùng với triều đình
củng cố chính quyền
trung ương tập quyền
phân loại hệ thống chùa triển
đánh thuế đối với những người
có thu nhập cao
có tầng lớp quỹ tổng
cũng như tầng lớp
quan lại
rồi đặt chùa triển lớn
để tăng gần khố quốc gia.
Kiện toàn bộ máy hành chính
và chính từ
những vấn đề này
nên có nhiều kẻ đã ghen ghét ông
đối kỵ với ông
và đã bố trí thành
một vụ án Hồ Dâm Đàm quan liệt
để kết thúc sự nghiệp
của một người đầy tài năng
đầy tâm huyết
với vương triều lý trong những năm
khởi đầu của vương triều
của quốc gia Đại Việt.
Hồ Tây của thủ đô Hà Nội
kinh đồ thẳng lòng ngã năm Văn Hiến
đây chính là địa điểm
của vụ án kỳ lạ
số phận éo le của Thái sư Lê Văn Thịnh
mà hàng ngàn năm sau
vẫn là bí ẩn lịch sử.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư
vào tháng 3
năm Bính Tí
năm 1096
là năm trị vì thứ 20 năm
trong 56 năm trị vì
kỷ lục của Bùa Lý Nhân Tông
Khi nhà vua
ngự tuyển nhỏ ra Hồ Tây
khi đó có tên là
Hồ Dâm Đảm
khi đó đầm mù sương
vua đang ngắm cảnh trợt mây mù nổi lên
trong đám sương mù
nghe có tiếng mái trèo khua nước
một con thuyền lạ áp tới
lù lù một hình con cọc
ngự trên thuyền
nhà vua và mọi người trên thuyền
đều sợ hái
một người thuyền trài quang lưới
hút chốc bắt được cọc
nhưng khi nhìn kỹ chính là Thái sư Lê Văn Thịnh
triều đình lập tức kết tội Thái sư
liệt vào tội
dùng phép hóa hổ để cướp ngôi vua
nhiều
những chuyện tích
những nhân vật
và
cả những tác phẩm
văn chương
văn học nữa
mà mang tính truyền kỳ
huyền kỳ như vậy
do đó
việc tưởng tượng ra
một vị
Thái sư đầu triều
có nghĩa vụ
có tinh thần
có ý thức trách nhiệm
mà lấy một con thuyền lớn
để đi cứu giá
hộ giá
cho nhà vua
khi mà ở Hồ Tây nổi cơn
sóng gió mây mù lên
mà chỉ có một con thuyền nhỏ để đi như thế
thì việc đó
là việc bình thường
nhưng mà với
cái tư duy hoang đường
cái mặt mẳng dân trí
rất thịnh sự hoang đường
thì người ta rất dễ để
ngộ nhận
một cách vô thức
hay là nếu có một lực lượng nào đấy
đã mang sẵn
cái tị hiểm
cái tinh thần
phản kháng, chống đối
cái chủ chương
cái đường lối
với cái tư duy
nhò học của Lê Văn Thịnh
thì vô thức
hoặc hữu thức
thì họ đều rất dễ dàng
để ứng dụng
cái mặt mẳng dân trí
và cái tư duy hoang đường
để nhận ra
một bóng người lom khom
đi nhiệt tình
cứu giá như thế
trên một con thuyền lớn nhưng mà lại
giữa mây mù như thế này
thì một hình thủ
hóa cọp
rất dễ dàng để tưởng tượng ra
và được ghi nhận
hoặc được công nhận
Tội cướp ngôi hải vua
lẽ thường phải
chu di tạm tộc
từ sự hiểu biết của mình
trong thời gian chỉ vì đã 25 năm
cùng tình nghĩa thầy cho
vua Lý nhân tông hiểu đối oan
của Lê Văn Thịnh
giữa mặt mặng dân trí
và văn hóa tầm lĩnh
cùng những bầu tuẫn nội bộ
không thể xử chết người thầy
người có công lớn với đất nước
cũng không thể tha bỏng
việc đầy đi biệt xứ là giải pháp
chấp nhận được ở hoàn cảnh lúc đó
Lý nhân tông
nhận thức ra là
cái lực lượng
mà chống đối Lê Văn Thịnh
với tư cách là
thủ lĩnh của
ý thức hệ nho ra
của văn hóa
văn minh nho học
thì
Lý nhân tông sẽ phải
chiều
cái lực lượng
cái phe phái đó
và ông biết rất rõ
là cái lực lượng này
nó muốn tiêu diệt
Lê Văn Thịnh nhưng mà
trước hết nếu mà
đẩy được Lê Văn Thịnh
ra khỏi công việc chiều chính
thì cũng là
làm hài lòng
cái phe phái này rồi
mặt khác phía bên này
Lê Văn Thịnh
nếu mà đúng tội
mà hóa hổ để hại vua
thì chắc chắn không những
là tử hình mà còn
tru di tam tộc
nhưng mà làm như thế
thì không thể và không nỡ
vì đây là thầy học
và đây lại là đại diện
cho một phe phái
một trường phái
mà có ý thức hệ
vào lúc ấy là tiến bộ
là hợp thời
là thích hợp với sự phát triển xã hội
do đó thì
phải nhân nhựa phía bên này
cốt làm sao đấy
bảo toàn là
tối thiểu cái tính mạng
cho cái người trụ cột
nho da nho học
là Lê Văn Thịnh như thế
rung hòa tất cả
các chiều hướng ấy
thì nảy sinh cái quyết định
của vua Lý Nhân Tông
là không giết
không tru di tam tộc
nhưng mà phải ra khỏi
chiều đình
để thỏa mãn
cái yêu cầu của phe chống đối này
vào năm 1991
việc khảo sát trùng tu
lại di tích đền thờ trạng nguyên Lê Văn Thịnh
phát lộ một bức trạm rồng đá
hay còn gọi là xà thần
rất độc đáo ở Việt Nam
xung quanh bức trạm rồng này
các nhà khoa học và nhân dân
đều có nhiều ý kiến rất thú vị
tượng xà thần thì rất nhiều
các lý giải
khi mà
sở văn hóa
Bắc Ninh ấy, người ta tìm thấy
người ta lý giải
là đấy có thể là
một cái tượng rồng
rồng thì gắn với vua
mà vua đây là vị vua lý
tức là
do cái tư thế của cái tượng đó
là nó
cuộn mình nhiều khúc
xong nó uốn cái đầu lên trên cao
và cái miệng nó hơi
nhe ra và nó hơi ngoạm vào phần thân
thì mọi người cho rằng là
đấy là
rồng là tức cắn vào thân mình
nên là diễn tả cái nội tâm
của vua lý
tức là rất là đau khổ
rất là suy tư
khi mà mình nghe
những cái lời nọ lời kia
để mà đầy đoạ một cái vị trung thần
như là Lê Văn Thích
thì cũng có một cái kiến giải như thế
riêng tôi thì kiến giải là
đấy là một cái
linh vật truyền thống của người Việt
trong các tin ngưỡng thờ rắn thần
của người Việt vốn rất phổ biến
từ xưa và còn lưu truyền
cho đến tận ngày nay
và vì rắn thần nó sống
trong nhân dân như thế, nó có nhiều lợi ích
trong nhân dân như thế, có nhiều công tích như thế
mang lại cái phong đăng hỏa cốc
mang lại cái cuộc thái dân an
cho nhân dân, thế cho nên là
nó ở vào cái khu vực
đền và di tích liên quan
tới nhân vật Lê Văn Thích
thì tôi nghĩ rằng là đấy là có thể
là một cái tượng tạo trong thời lý
và nhằm
tôn vinh
nhân vật Lê Văn Thích
sau khi mà
bức tượng rồng này được
trìm từ ở dưới chân
dưới chân
dưới cổng
mà bao nhiêu nghìn năm
bao nhiêu năm rồi nhưng mà không ai biết
mà cũng không có gì ngon
mà không có truyền tục
thì tự nhiên qua một cái thời gian
rồi sâm thực, xói mòn
dần dần chặt cái bức tượng rồng này lên
thì lúc ấy
thì nhân dân chúng tôi chỉ biết đào được
và khiêng lên đây
để chắc chắn là có một cái
linh thiêng của đền cụ
thì mang lên đây để là
thở đây, thế lại nói về
pho tượng rồng này thì mọi các anh
cứ chiêm ngưỡng
tức là miệng
thì cái hàm răng cắn hẳn lên
mà đầu nhô cao mất
trọn ngược
thế mà một bên tay trái
thì lại là có lỗi
nhưng ta phải là đặc
thì người ta coi như là người ta cầm tay biết
thế thì tôi cũng
đồng tình với tôi cho đây là
sự ân hận của vua lí nhân tộc
thế thì
sau đấy thì tôi mới làm
4 câu thơ
trọn mất nghiến răng
tự cắn mình
phải chăng thiên tử
vẫn anh minh
sự đời cam chịu
nghe tay trái
ngượm đá hóa thân
để giải tình
Cũng ở Băng Ninh
cơn nơi Thái sư Lê Văn Thịnh sinh ra
tại chợ riêng xưa
nay là xóm nghè thuộc xã
Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Băng Ninh
Tại đây cũng có
Đình Tổ
nơi thơ ông Tổ của Trạng Nguyên
cách ngôi đình này khoảng 800m
có một ngôi mộ
tương truyền sau khi đi đầy trở về
ông bất tại đây
nhân dân đã xây mộ, thờ cúng
tôn vinh công đức của vị Trạng Nguyên
khai khoa của Việt Nam
ngôi mộ nằm giữa một hồ sen
rất đẹp và được chính quyền
cùng nhân dân giữ gìn, tôn tạo, thờ cúng
cho tới ngày nay
gần quê Hương Âu còn có một mộ
của quán
Thái sư Lê Văn Thịnh
người ta nói rõ đây là mộ của Thái sư Lê Văn Thịnh
có thể nói đây là một mộ
được xây dựng khá là quy mô
rất là kiên cố
nhưng mà ở trong không có dấu tích quan tài
không có dấu tích gì cốt
thì là
đúng là như vậy
hiện trạng mộ như vậy
nó gắn với chuyện
cuộc đời của ngài
và cuối đời nó có những
ổn khuất như thế
trong vụ án Hồ Dâm Đạt
và như vậy
di tích nhân vật
nó gỡ cho mình những suy nghĩ
rằng là có một chuyện như thế
thật xảy ra trong lịch sử
nhưng mà thực như thế nào
thì như tôi nói là các nhà sử học
các nhà nghiên cứu còn phải lâu dài
để giải quyết được cái lõi của nó
Qua những sắc phòng và văn bia còn lại
một điều rất rõ
một nhân cách lớn của vị trạng nguyên
khai khoa đầu tiên của nước Đại Việt
cùng những đóng góp
cho đất nước trong thời lĩ
và sự oan khiên của ông
đây vẫn là câu chuyện bí mật
của lịch sử
xong muốn hay không đã đến lúc
tôn vinh xứng đáng cho thái sư trạng nguyên
Lê Văn Thịnh
có nhiều sắc phòng qua các triều đại
các người thái sư Lê Văn Thịnh
mà điển hình là sắc phòng của vua Trần Thái Tông
và vua Lê Thái Tổ
đều các người nhân cách của ông
nội dung sắc phòng của vua Trần Nhân Tông
có ghi
Thịnh công đại vương
tề thế hậu quốc
phu cảm linh ứng
triệu mưu tả tích
thiện văn hoàng bác
thông minh tuệ trí
hùng lược dũng quyết
bản cảnh thanh hoàng trì tần
sắc phòng của vua Lê Thái Tổ có ghi
hiển ứng linh thông
triệu mưu thẳng toán
phò kế cương nghị
anh linh đại vường
trong hội thảo lần thứ 2
hội sự học Hà Nội đã phối hợp
với lại trung tâm bảo tồn di sản Hàng Nồng Hà Nội
cùng các nhà khoa học
và nhiều lĩnh vực đã làm sáng tỏ thêm
những vấn đề
mà hội thảo lần thứ nhất đã nêu
và khẳng định
ông là người đỗ đầu
là người thầy đầu tiên
của Văn miếu quốc Tử Giám
và như thế
rất xứng đáng có một ghi nhận
nào đó
ở một vị trí ở Văn miếu quốc Tử Giám
dù rằng
Văn miếu quốc Tử Giám
chức vị tam khôi
chỉ được đặt
từ thời Trần
và thời Lý thì chưa có
nhưng trong dân gian
vùng Băng Ninh
cũng như nhiều nhà nghiên cứu
vẫn coi ông là trạng nguyên khai khoa
đầu tiên của Việt Nam
với công lao
trong việc hòa đàm
để đòi đại đất
ông xứng đáng có một vị trí
trong
khu vực Hoàng Thành Thăng Long
cũng như
đường phố của Hà Nội
và đặc biệt với
cương vị là thái sư
ông có nhiều công lao đóng góp với đất nước
tất cả những công hiến của ông
xứng đáng
được thế hệ này ghi nhận
và đánh giá
để làm sao trả lại
vị trí xứng đáng của một vị
đỗ đầu tiên
vị
thầy đầu tiên của Văn miếu
và là thái sư
không phải trong
dòng tộc của nhà Lý
có thể nói gần như là cho nay là đầu tiên
như vậy chúng ta nên
đánh giá những nhân vật lịch sử
những người có công với đất nước
cách công bằng hơn
thì tôi nghĩ rằng
ở Hà Nội thì rõ ràng là
thái sư Bến Linh Thịnh
có nhiều dấu ấn
và nhiều công lao
với Thăng Long
ngày xưa và với Triều Đình nhà Lý
thì riêng cái chuyện tức là
ông mới là người
đỗ đầu trong cái kỳ thi nho học
và cũng là người
dạy ở Văn miếu
đầu tiên thái học
ở đó cũng là
gắn với Thăng Long
gắn với Hà Nội ngày nay
và hai nữa là người thay mặt
cho Triều Đình
để giải quyết
những vấn đề về tranh chức
về biên giới, giải quyết vấn đề về lãnh thổ công vực
thì cái đó là cái công lớn
và riêng những cái đó thôi
thì cũng hoàn toàn có thể là
phải có một tôn vinh
xứng đáng
ở Hà Nội
ví dụ một cái tên phố, một cái chỗ vị trí nào đó
ở Văn miếu thì tôi nghĩ hoàn toàn nên mà
Cứ mỗi độ xuân về
vào ngày 6 tháng 2
âm lịch vào những
năm Thận, Tí, Thìn
Nhân dân huyện Gia Binh
lại tổ chức lễ hội thập đỉnh
để tưởng nhớ một vị trạng nguyên
đầu tiên của đất nước
với những công lao gìn giữ
chủ quyền của Tổ quốc
cùng niềm tự hào của vùng đất
đỗ đạt khoa bảng của cha ông
mà câu chuyện về Thái sư
Lê Văn Thịnh là minh chứng điển hình
Chúng tôi đi lễ hội
thì nói chung là di tích
nịch sử của đỉnh
được thờ thánh
chúng tôi đi lễ hội rất vui
và nông trọng
từng đoàn thể
các đoàn thể đi
chúng tôi thấy khí thế
vui lắm
Cháu thấy rất vui
và tự hào vì truyền thống của ta
vẫn giữ được
cháu muốn nó vẫn mãi giữ
được cái trí như thế
Trạng nguyên Lê Văn Thịnh
đã trở thành niềm tự hào của nhân dân
và ông được tôn vinh
là thành hoàng của đất Gia Bình
Câu chuyện của ông sẽ sống mãi
trong lòng mỗi người dân nơi đây
và ông mãi là của nhân dân
Nhân dân yêu quý
khâm phục
kính trọng
những anh hùng của mình
những anh hùng chiến trận đã đành rồi
nhưng còn là những anh hùng
văn hóa nữa như Lê Văn Thịnh
do đó thái độ của nhân dân
là binh vực
là bảo vệ
là ca ngợi
Lê Văn Thịnh
đấy là một thái độ tất yếu
và đúng đắn
chỉ có điều là nhân dân
bao giờ cũng là thần dân
là cái tầng lớp cơ bản đấy
nhưng mà là ở dưới đáy
dưới nền
do đó quyền hành của họ
không nhiều
nhất là ở trong thời
quân chủ chuyên chế nữa
vì vậy cái cách tỏ thái độ
của nhân dân
của văn hóa dân gian
nó cũng cần phải có
sự mềm mại
bóng gió ẩn rụ
đó là
cái hình thức biểu hiện ra
của phản ứng
của nhân dân
của văn hóa dân gian
đối với sự tiện
Thái sư Lê Văn Thịnh
bị sử trí oan
ở cái thời đại
của ông
thời gian trôi đi
sẽ xóa nhòa tất cả
câu trả lời cho vụ án Hồ Dâm Đàm
và cuộc đời oan khuất
của Trạng Nguyên Lê Văn Thịnh
vẫn còn vào ngỏ
nhưng câu chuyện về Trạng Nguyên khai khoa đầu tiên
sẽ sống mãi với non sông đất nước
và trong lòng mỗi người dân Việt Nam
đó cũng là điều
mà chúng ta suy ngẫm
khi lật mỗi trang sự hào hùng
đầy những thăng trầm của biết bao con người
suốt đời vì dân, vì nước
