
Câu đối tết- Truyền thống văn hóa Á Đông #vuitetcotruyen #vtct2025
Trong văn hóa truyền thống Việt Nam, ngoài tục tiễn ông Táo về Trời, dựng cây nêu, gói bánh chưng, làm dưa hành ra... thì tục treo câu đối Tết cũng đã có từ lâu đời, thể hiện trí tuệ và chí hướng, phẩm đức của người Việt.
Trong dân gian còn lưu hành câu thơ về Tết truyền thống người Việt:
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh.
Vậy nên cứ mỗi độ Tết về, nhà nhà đều tìm đến các ông đồ Nho hay chữ, có đức độ, tiết tháo, được mọi người kính trọng để xin câu đối Tết. Câu đối Tết được trang hoàng nhà cửa, cũng nói nên nguyện vọng và mong muốn một năm mới hạnh phúc bình an, làm ăn thuận lợi, sự nghiệp hanh thông:
Xuân an khang đức tài như ý
Niên thịnh vượng phúc thọ vô biên.
Câu đối Tết cũng thể hiện tiễn đưa năm cũ, tống táng vận xấu cũ đi, đón vận mới tốt lành đến với gia đình:
Câu đối tết có khởi nguồn từ đào phù, tức là tấm bùa bằng gỗ cây đào. Đào phù bắt đầu từ thời nhà Chu, là hai tấm gỗ đào hình chữ nhật treo hai bên cửa
Từ đời Tống trở đi, trong dân gian đã phổ biến tục treo câu đối Tết. Các công sở quan phủ, nha môn, các quan đứng đầu đã bắt đầu tự soạn viết câu đối Tết, để biểu lộ nguyên tắc, tiết tháo, phong cách làm quan của mình.
Tương truyền, triều Minh Thái Tổ, vào một năm khi Tết đến, Chu Nguyên Chương truyền chỉ cho dân chúng cả nước phải treo một đôi câu đối trước cửa nhà, để biểu thị niềm vui đón mừng năm mới. Khi Chu Nguyên Chương hóa trang vi hành, đọc thấy nội dung những câu đối vô cùng phong phú thì rất mãn nguyện. Đi tiếp, ông thấy trên cửa nhà của một gia đình nọ vẫn chưa có câu đối; hỏi thăm thì biết được đó là nhà của một người chuyên nghề hoạn lợn, chưa nhờ được người viết cho câu đối. Vị hoàng đế này bèn sai tùy tùng lấy giấy bút, rồi vung tay viết đôi câu đối tặng chủ nhà:
Song thủ tịch khai sinh tử lộ
Nhất đao cát đoạn thị phi căn.
Tạm dịch:
Hai tay động đến đường sinh tử
Một nhát đi đời gốc thị phi.
Ý tứ câu đối này vô cùng xác đáng, chữ dùng cực kỳ khéo léo, lại rất hài hước. Đủ thấy, Chu Nguyên Chương quả là một “đầu lĩnh” về câu đối vậy. Sau đó, việc viết câu đối lan tỏa đến các địa phương, lâu dần bèn trở thành phong tục.
Đến triều Minh Thanh thì tất các các công sở nha môn các cấp, các quan đứng đầu đều tự soạn viết câu đối Tết treo hai bên cửa để biểu lộ chí hướng, lý tưởng làm quan của mình. Câu đối Tết của các quan xưa thường có 5 nội dung là: Không tham nhũng không hối lộ; Yêu dân như con; Luật pháp nghiêm minh, hành sự thận trọng; Ước chế bản thân phụng sự việc công; Chăm lo chính sự, vỗ yên bách tính. Một vài câu đối minh họa như sau:
Dữ bách tính hữu duyên, tài lai tư địa
Tư thốn tâm vô quý, bất bỉ tư dân.
Tạm dịch:
Có duyên với bách tính mới đến nơi này
Không thẹn với lòng mình chẳng tủi dân đây.
Hay là:
Quan danh phụ mẫu tu từ ái
Gia hữu tử tôn vọng cửu trường.
Tạm dịch:
Quan như phụ mẫu nên từ ái
Nhà có cháu con mãi dài lâu.
Câu đối Tết ở nước ta
Thú chơi câu đối và câu đối Tết cũng dần dần lan ra khắp các nước Á Đông như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc. Hiện nay chưa rõ thú chơi câu đối và câu đối Tết vào nước ta từ thời nào, nhưng đến thời Trần thì đã xuất hiện thú chơi câu đối phổ biến, nó còn thể hiện của tài năng trí tuệ.
Tương truyền, vào Một năm ngày Tết đến, vua Lê Thánh Tông cải trang vi hành để xem xét tình hình bách tính. Thấy xã tắc thái bình, bách tính an cư lạc nghiệp, nhà nhà đều treo đèn kết hoa, treo câu đối đỏ, nhà vua trong lòng vui mừng lắm. Vua đi qua một nhà nọ, thấy không đèn, không hoa, không câu đối, không khí ảm đạm trầm trầm, vua bèn vào hỏi han. Chủ nhà nói, do làm cái nghề hèn hạ là hót phân người nên không dám phô ra, không đèn hoa câu đối gì hết.
Nhà vua cười rồi nói: “Nhà bác đây là sang trọng bậc nhất, mà nghề của bác cũng là vẻ vang bậc nhất. Câu đối của bác nếu dán lên cũng hay bậc nhất, việc gì mà lại kêu là hèn”. Nói rồi vua liền lấy giấy bút viết tặng 2 câu đối:
Ý nhất nhung y, năng đảm thế gian nan sự
Ðề tam xích kiếm, tận thu thiên hạ nhân tâm.
Tạm dịch:
Khoác một áo bào, đảm đang khó khăn thiên hạ
Cầm ba thước kiếm, tận thu lòng dạ thế gian.
Khách qua lại, nhìn thấy câu đối ai cũng dừng lại ngắm nghía thưởng thức, từ ý nghĩa, vế đối, đến cảnh giới tâm hồn đều rất cao siêu, nét chữ rắn rỏi lại mềm mại bay lượn, bút lực mạnh mẽ, phóng khoáng khiến ai nấy đều trầm trồ thích thú.
Sau này câu đối mở rộng từ chữ Hán sang chữ Nôm, rồi mấy chục năm gần đây đã chuyển sang dùng cả chữ quốc ngữ (chữ Latin). Câu đối cũng như câu đối Tết là đặc sản của các nước Á Đông vì đặc điểm mỗi chữ một âm tiết, lại có các âm điệu, thanh điệu trầm bổng, bằng trắc khác nhau, nên khi đọc, ngoài ý nghĩa chữ nghĩa ngôn từ cô đọng đặc sắc ra, còn nghe rất vui tai. Cảm ơn quý khán giả đã xem video, chúc mọi người một năm mới sức khỏe và bình an
