Tần Thuỷ Hoàng - Tần Vương Doanh Chính | Tóm tắt lịch sử Trung Quốc

Đình Sự
537 người theo dõi
Tần Thủy Hoàng sinh năm 259 trước Công Nguyên, tên thật là Doanh Chính, là vị vua thứ 36 của nước Tần, đồng thời là hoàng đế đầu tiên của nhà Tần trong lịch sử Trung Quốc.
Ông là con trai của Tần Trang Tương Vương Doanh Dị Nhân, mẹ là Triệu Cơ, một mỹ nhân nước Triệu, đàn hay múa giỏi.
Khi còn trẻ, Dị Nhân phải đi làm con tin của Tần ở nước Triệu.
Tuy nhiên, trong khoảng thời gian đó, nước Tần dưới sự trị vì của Tần Triêu Tương Vương nhiều lần đánh Triệu, trôn sống 40 vạn quân Triệu trong trận Trường Bình, nên Dị Nhân bị nước Triệu bạc đãi.
Một thương nhân giàu có ở Triệu bấy giờ là Lã Bất Vi Thấy Vậy đã kết giao và tru cấp cho Dị Nhân, mưu giúp Dị Nhân làm thái từ nước Tần để mình có thể được hưởng công danh.
Triệu Cơ vốn là thiếp của Lã Bất Vi, được lã dân cho Dị Nhân.
Dị Nhân thành thân với Triệu Cơ, đến đủ tháng thì Triệu Cơ sinh con trai, đặt tên là Doanh Chính.
Tuy nhiên, có nhiều giả thuyết cho rằng Doanh Chính không phải là con ruột của Dị Nhân, mà là con ruột của Lã Bất Vi.
Các nhà sử học cho rằng giả thuyết này là một sản phẩm của sĩ Phu Các Nước Sơn đồng bị Tần Thủy Hoàng tiêu diệt.
Họ căm giận Tần đã đoạt nước của mình, nên nhân việc Triệu Cơ từng là thiếp của Lã Bất Vi đã đặt ra câu chuyện ấy nhằm hạ thấp Tần.
Ngay trong thời đó, những người theo thuyết gán Lã Bất Vi là cha ruột của Doanh Chính cũng không thể lý giải vì sao Triệu Cơ lại mang thai đủ tháng kể từ khi về với Dị Nhân.
Bây giờ, cha của Dị Nhân là Doanh Trụ đang là thái tử của Tần Triêu Tương Vương.
Doanh Trụ có đến hơn 20 người con trai nên cơ hội nối ngôi của Dị Nhân là rất thấp.
Doanh Chính ra đời ở kinh đô Hàm Đan của nước Triệu không lâu sau trận Trường Bình.
Năm 257 trước Công Nguyên, Tần Triêu Tương Vương sai tướng Vương Hột Vầy đánh Hàm Đan.
Triệu Vương Cùng Quẫn muốn giết Dị Nhân.
Dị Nhân và Lã Bất Vi đút lót cho kẻ canh ngục 600 cân vàng để trốn thoát khỏi nước Triệu.
Nhưng Triệu Cơ và Doanh Chính không kịp trốn theo.
Quân Triệu muốn giết cả hai người.
Nhưng Triệu Cơ là con nhà tay mắt ở Triệu, lần trốn được.
Vì thế hai mẹ con đều sống sót.
Thái tử Doanh Trụ rất sùng ái chính thấp là Hoa Dương Phu Nhân.
Nhưng Phu Nhân lại không có con.
Nhân đó, Lã Bất Vi mua nhiều của báu vật lạ dâng cho Hoa Dương Phu Nhân.
Lại kể rằng Dị Nhân là người tài giỏi, khôn ngoan, giao hảo với người các nước.
Bạn hữu khắp thiên hạ, khuyên bà nhận Dị Nhân làm con nuôi.
Hoa Dương Phu Nhân sợ sau này không có chỗ dựa.
Nên lập tức xin với thái tử cho bà nhận Dị Nhân làm con.
Thái tử đồng ý, cho Dị Nhân nhiều của cải và nhờ Cậy Lã Bất Vi giúp đỡ.
Năm 250 trước Công Nguyên, tần Triêu Tương Vương qua đời,
thái tử Doanh Trụ lên nối ngôi, tức tần Hiếu Văn Vương, lập Dị Nhân làm thái tử.
Nước Triệu Bèn đưa Triệu Cơ và Doanh Chính về tần.
Hiếu Văn Vương làm vua không lâu thì chết,
Dị Nhân kế Thừa Vương vị, tức là tần Trang Tương Vương,
Năm 247 trước Công Nguyên, tần Trang Tương Vương mất sau 3 năm trị vị,
Doanh Chính khi ấy mới 13 tuổi được lập làm tần Vương.
Tần Vương Doanh Chính lên ngôi, tôn Triệu Cơ làm thái hậu.
Phòng Lã Bất Vi làm thừa tướng, gọi là trọng phụ, coi như người cha thứ 2 của mình.
Lã Bất Vi vốn là người tình cũ của thái hậu,
thường ra vào hậu cung để tư thông với bà ta.
Tần Vương còn nhỏ không hay biết, hoặc giả vờ không biết.
Sau đó, Lã Bất Vi sợ chuyện bại lộ,
nên ngầm say người tìm kiếm một nam nhân cường tráng tên là Lao Ái dâng vào hậu cung,
giả làm hoạn quan bằng cách nhổ dâu để hậu hạ thái hậu.
Sau một thời gian, thái hậu sợ Tần Vương biết chuyện,
xin rời sang sống tại Ung Thành cùng Lao Ái và sinh được 2 con trai.
Nhờ thái hậu, Lao Ái được phong làm trường tín hậu,
cũng mưu xây dựng thế lực riêng, mở phù nuôi thực khách như Lã Bất Vi.
Năm 238 trước công nguyên, Lao Ái chiếm con dấu của thái hậu và giới binh mưu phản.
Nhưng vì thiếu sự ủng hộ và quân đội lỏng lẻo,
Lao Ái cùng quân của mình nhanh chóng bị quân triều định đánh bại ở Hàm Dương.
Ông ta bị sử ngũ Mã Phanh Thây, cả ba họ và môn hạ đều bị giết.
Tần Vương còn tìm giết 2 con riêng của Lao Ái với thái hậu
và đẩy thái hậu sang đất Ung Giam Lỏng.
Lã Bất Vi bị điều tra và phát giác.
Tần Vương chính muốn giết Lã Bất Vi,
nhưng vì ông có công lớn trong những năm làm thừa tướng,
lại được các đại thần nói đỡ nên không bị xử tử.
Lã Bất Vi bị cách trức, triều định cấp cho một cái ấp nhỏ ở Hà Nam.
Tuy nhiên, danh tiếng Lã Bất Vi vẫn được nhiều người biết đến khắp Trung Hoa,
nhiều tân khách và sứ giả của các trư hầu vẫn thường xuyên đến chỗ ông.
Hơn một năm sau, lo ngại Lã Bất Vi làm phản,
Tần Vương chính bắt ông rời sang đất Thục.
Tự liệu mình sẽ bị sát hại, Lã Bất Vi uống rượu độc tự tử.
Ngoài Lã Bất Vi và Lao Ái,
Tần Vương chính còn phải tranh đấu với em trai cùng cha khắc mẹ của mình là Thành Kiểu.
Năm 239 trước Công Nguyên,
Thành Kiểu cùng tướng Phan-Ô Kỳ làm phản ở Đồn Lưu.
Tần Vương sai vương tiễn dẫn 10 vạn quân đi đánh diệt.
Thành Kiểu thua trận, bị bắt và bị giết,
còn Phan-Ô Kỳ chạy trốn sang nước yên.
Vào thời Chiến quốc, các trư hầu của nhà Chu đánh diệt lẫn nhau.
Cuối cùng ở Trung Nguyên chỉ còn lại 7 nước lớn gọi là Chiến quốc Thất Hùng
cùng một số nước nhỏ và nhà Đông Chu còn tồn tại Thoithop.
Nước Tần từ khi thi hành Tân Pháp của Thương Ứng đã trở nên giàu mạnh,
lấn át 6 nước còn lại.
Tần nhiều lần đánh bại 6 nước phía Đông,
liên tục mở đất và đẩy các nước này vào thế chống đỡ.
Tần Vương chính kế ngôi vào giai đoạn cuối của Chiến quốc.
Lúc đó thế lực của Tần đã rất mạnh,
tập hợp nhiều nhân tài.
Bên trong có Úy Liêu, Lý Tư Bày, Mưu Kế.
Bên ngoài có tướng tài như Vương Tiễn, Vương Bồn,
Sau khi tiêu diệt các thế lực chống đối, ổn định nội bộ,
Tần Vương liền thực hiện tham vọng thống nhất Trung Quốc của mình.
Năm 230 trước Công Nguyên, Tần đánh Hàn.
Hàn từng bại dưới Tây Tần nhiều lần,
lại là nước nhỏ yếu nhất trong 7 nước nên là nước đầu tiên bị diệt.
Hàn Vương an sợ hãi, vội thu hết sổ sách,
địa đồ trong nước sang đầu hàng.
Tần Vương đặt đất đai còn lại của nước Hàn làm quận dĩnh xuyên.
Năm 229 trước Công Nguyên, Tần Vương sai Vương Tiễn đi đánh Triệu.
Tướng Triệu là Lý Mục cầm quân phòng ngự,
khiến quân Tần không sao tấn công được.
Tần Vương bèn dùng kế ly rán,
sai người sang nước Triệu Tung Tin là Lý Mục đang có âm mưu tạo phản.
Triệu Vương nghe lời giềm pha,
bèn cắt chất Lý Mục và thay bằng Triệu Thông.
Cùng năm đó, Triệu lại gặp phải động đất và mất mùa.
Vương Tiễn chấp thời cơ đánh gấp, dồn Triệu vào đường cùng.
Năm 228 trước Công Nguyên,
quân Tần chiếm Kinh Thành Hàm Đan, bắt sống Triệu Vương Thiên.
Anh Thiên là Triệu ra chạy lên đất đại phía Bắc Sưng Vương.
Thái tử Đan của nước Yên trước kia vốn làm con tin ở Tần.
Ông ta thấy Tần Vương quyết tâm thôn tính các nước, liên trốn về Yên.
Thái tử Đan rất căm thù nước Tần, quyết tâm diệt mối họa cho nước Yên.
Nhưng ông ta không dần luyện binh mã,
cũng không nghĩ tới việc liên kết với các nước để cùng chống Tần,
mà lại gửi gắm vận mệnh nước Yên vào hành động ám sát Tần Vương.
Năm 227 trước Công Nguyên,
Thái tử Đan sai một dũng sĩ là Kinh Kha giả làm sứ thần sang Tần để thực hiện âm mưu ám sát.
Ông ta chuẩn bị một con dao găm cực sắc có tầm thuốc độc,
trao cho Kinh Kha để dùng làm dũng cụ hành thích.
Thái tử Đan và một số tân khách mặc quần áo tang tiễn Kinh Kha ở bên sông Dịch.
Trước khi từ biệt, Kinh Kha cất tiếng hát.
Gió hưu hưu, sông Dịch lạnh ghê.
Tráng sĩ một đi, không trở về.
Nghe lời ca bi tráng, mọi người có mặt đều rơi nước mắt.
Kinh Kha đến Hàm Dương gặp Tần Vương doanh chính.
Mang theo bản đồ vùng đốc kháng của nước Yên
và đầu của tướng Tần bị truy nã là Phan-ô-kì để giả nói cầu hòa.
Khi mở bản đồ, Kinh Kha rút dao đâm Tần Vương.
Vua Tần né được, rút kiếm của mình chém vào đùi Kinh Kha.
Lúc đó, binh sĩ dưới điện cũng lao lên giết chết tên thích khách.
Sau khi bị Kinh Kha ám sát hụt, Tần Vương không kiềm được tức giận,
lập tức sai đại tướng Vương Tiễn cầm quân đánh Yên.
Quân Yên đương nhiên không thể chống lại quân Tần, bị đại bại tại dịch thủy.
Sau đó, quân Tần công phá Kinh Đô kế thành,
Yên Vương hỷ phải cùng Thái Tử Đan dẫn quân lui về Liêu Đông.
Ly Tín xuất quân truy đuổi và giành thắng lợi lớn.
Yên Vương trong thế bị dồn ép đã buộc phải giết Thái Tử Đan,
dâng thủ cấp để xin hòa.
Quân Tần chấp nhận lời cầu hòa,
nước Yên được tồn tại thoi thóp thêm mấy năm nữa.
Năm 225 trước Công Nguyên,
Tần Vương chính sai con của Vương Tiễn là Vương Bôn dẫn quân tiến đánh Kinh Đô đại lương của Nguyễn.
Quân Tần dẫn nước sông Hoàng Hà làm ngập thành, giết chết hàng vạn người.
Nguyễn Vương giả không chống nổi, phải ra hàng.
Nước Nguyễn từ đó diệt vong.
Năm 224 trước Công Nguyên,
Tần Vương lại sai Lý Tín mang 20 vạn quân đánh Sở.
Lý Tín bị tướng Sở là hạng Yên đánh bại.
Tần Vương bèn sai lão tướng Vương Tiễn dẫn 60 vạn quân ra mặt trận.
Vương Tiễn đánh Sở trong 2 năm,
đánh bại hạng Yên và bắt sống Sở Vương Phụ Xô.
Hạng Yên vượt Trường Giang, lập vua khác và tiếp tục thu thập lực lượng để chống lại.
Vương Tiễn chở đóng thuyền chiến,
huấn luyện thủy quân rồi vượt sông Truy Kích.
Hạng Yên thấy đại thế đã mất, liền rút kiếm tự sát.
Nước Sở mất.
Năm 222 trước Công Nguyên,
Tần Vương doanh chính lại sai Vương Bôn tiến quân vào Liêu Đông để diệt rốt nước Yên đang thoi thóp.
Yên Vương thì bị bắt, nước Yên bị diệt.
Trên đường trở về, quân Tần tiến sang đánh đất đại.
Đại Vương triệu ra thua trận tự sát.
Đến lúc này, chỉ còn lại duy nhất nước Tề.
Các đại thần của Tề đã bị Tần dùng vàng bạc mua chuộc hết.
Tề Vương kiến xưa nay không dám đắc tội với Tần.
Lần nào các nước khác sang cầu cứu, ông cũng đều cự tuyệt.
Ông ta cho rằng Tề ở xa Tần,
miễn là một mực văng theo Tần thì sẽ không bị tiến công.
Đến khi thấy 5 nước kia đã lần lượt bị Tần thôn tính hết thì mới cuốn cùng vội vã,
đưa quân ra phòng giữ biên giới phía Tây.
Nhưng đã muộn rồi.
Năm 221 trước Công Nguyên,
Tần Vương doanh chính lấy cỡ Tề Vương kiến đem quân phòng thủ ở biên giới là hành động ngây hấn.
Bèn Sai Vương bồn mang quân từ nước đại tiến thẳng xuống phía nam đánh vào kinh Đô Lâm Tri.
Nước Tề suốt mấy chục năm không động binh đao, dân quen liềm hái hơn cung nỏ.
Vì vậy, Thế quân Tần hùng hậu tiến vào thì mau chóng tan vỡ.
Tề Vương kiến đầu hàng.
Như vậy, cả 6 nước đã hoàn toàn bị thôn tính.
Tần Thủy Hoàng rời hết các vương công quý tộc của 6 nước về kinh Đô Hàm Dương để dễ bề khống chế.
Đất đai của họ đều bị sung công.
Để tránh họa trư hầu cắt cứ đời nhà Chu,
Hoàng đế loại bỏ phong đất đặt trư hầu mà triệt đề thi hành chế độ quận huyện.
Ông chia cả nước thành 36 quận.
Các quận thú, huyện lệnh đều do trường đình bổ nhiệm,
không được tra truyền con nối và có thể bị điều động đi nơi khác bất cứ lúc nào.
Ở trên quận có một viên giám ngự xử trịu trách nhiệm với nhà vua.
Vì vậy quan lại không thể truyền quyền, làm chúa ở cõi riêng.
Người dân không được gọi theo tên các nước cũ trước đây
như người nước Sở, người nước Yên mà đều là con dân của nhà Tần.
Trong những năm cầm quyền của mình,
Tần Thủy Hoàng và Thừa Tương Lý Tư đã thống nhất đơn vị đo lường và tiền tệ trên toàn Trung Hoa.
Hoàng đế cũng cho thống nhất chiều dài trục bánh xe để tiện việc vận chuyển đường bộ,
xây dựng thêm nhiều hệ thống đường xá,
canh mương, kết nối các vùng miền với nhau để thuận tiện trong việc đi lại.
Thời chiến quốc, văn tự ở mỗi nước ít nhiều có những sự khác nhau,
dẫn đến người nước này đôi khi không hiểu chữ viết của nước khác.
Vì vậy, Tần Thủy Hoàng ra lệnh mọi văn bản trên toàn quốc
đều sử dụng một loại văn tự được chuẩn hóa bởi Lý Tư,
nhờ đó mà thống nhất được chữ viết trên toàn quốc.
Trong thời kỳ Xuân Thu và chiến quốc, chiến tranh xảy ra triển miên,
nó cũng được xem như là thời kỳ của tự do tư tưởng.
Tuy nhiên, đến thời Tần Thủy Hoàng,
ông ra lệnh cấm hết tất cả các trường phái tư tưởng khác,
trường phái pháp ra thời tần bài, trừ chế độ phong kiến cũ
và khuyến khích các hình phạt nghiêm khắc,
đặc biệt là khi không tuân lệnh hoàng đế.
Quyền cá nhân bị gạt đi khi trúng mâu thuẫn với mong muốn của chính quyền,
thương nhân và học giả không được coi trọng.
Năm 213 trước công nguyên,
quan đại phu thuần vu Việt xin vua phong đất lập trừ hầu
và noi theo lệ của người xưa,
nhưng bị thừa tướng Lý Tư phản đối.
Lý Tư cũng nhân đó dâng thư đề nghị cấm học theo sách cổ
để phê phán những điều hoàng đế làm thời nay.
Tân Thủy Hoàng nghe theo,
giả lệnh đốt bỏ hết phần lớn các sách đương thời,
chỉ giữ lại những cuốn sách bói toán,
nông nghiệp, y học, thần thoại và lịch sử nhà Tân.
Việc này cũng phục vụ cho việc thay đổi văn tự
bằng cách loại bỏ các văn bản chứa văn tự lỗi thời.
Kẻ nào không tuân lệnh mà lén lút giữ sách thì bị phạt nọc.
Sử ký Tư Mã Thiên ghi lại,
có 460 nhò sĩ bị trôn sống ở Hàm Dương
vì sở hữu sách cấm vào năm 212 trước công nguyên.
Công tử Phù Tô đứng ra can ngăn vì sợ thiên hạ không yên.
Hoàng đế nổi giận sai Phù Tô đi lên miền Bắc
để giám sát tướng Mông Điểm ở Thượng Quận.
Bản sao các sách cấm vẫn được cất giữ trong thư viện của triều đình,
nhưng hầu hết chúng đều bị phá hủy
khi hạng vũ đốt cháy cung điện Hàm Dương
vào năm 206 trước công nguyên.
Từ sau khi bị Kinh Kha ám sát bất thành,
Tân Thủy Hoàng ra lệnh truy nã
tất cả người thân và bạn bè của Kinh Kha.
Cao Tiệm Ly là người nước yên,
trước đây là bạn thân của Kinh Kha,
thường cùng uống rượu hàng ngày.
Khi Tân Thủy Hoàng diệt 6 nước,
Thống nhất toàn Trung Hoa vẫn tiếp tục truy nã ông.
Vì Cao Tiệm Ly chơi đàn trúc rất hay
nên nhanh chóng nổi danh trong thiên hạ.
Tân Thủy Hoàng biết được, liền bắt giữ ông.
Nhưng vì tiếc tài chơi đàn của Cao Tiệm Ly
nên vô tần bèn ân xá,
nhưng sai chọc mù hai mắt
và lệnh cho ông gãy đàn.
Tân Thủy Hoàng nghe Cao Tiệm Ly chơi đàn rất thích thú
nên mỗi ngày một xích lại gần.
Cao Tiệm Ly biết vậy,
nuôi trì báo thủ cho Kinh Kha.
Ông lén đổ trì vào bầu đàn
rồi nhân dịch vô tần ngồi cạnh mà đánh.
Nhưng vì mắt mù nên đánh không trúng.
Cao Tiệm Ly sau đó bị sử tử
còn Tân Thủy Hoàng từ đấy không bao giờ gần
gũi người từ các nước trư hầu khác nữa.
Trương Lương thuộc một gia đình đại sĩ tộc
của nước Hàn trước kia.
Khi Hàn bị Tân tiêu diệt,
Trương Lương thể trả thù vô tần.
Năm 218 trước Công Nguyên,
Trương Lương bán hết gia sản,
thuê sát thủ và cho làm chiếc trùy sắt
120 cân, tức khoảng 80 kg
ngày nay, lập mượn ám sát Tân Thủy Hoàng.
Lương và sát thủ mai phục
trong bụi cây dọc theo tuyến đường
Tân Thủy Hoàng đi du ngoạn,
và khi đoàn xa giá đến gần thì ném trùy làm vỡ
tan chiếc xe đi đầu.
Tuy nhiên, Tân Thủy Hoàng khi đó đang ở trong
chiếc xe thứ hai giống hết chiếc xe thứ nhất nên thoát chết.
Hoàng đế cho trùy lùng khắp thiên hạ
nhưng cả hai thích khách đều trốn thoát.
Ở phía Bắc Trung Quốc,
tộc người du mục hung nô thường xuyên cấp phá biên giới.
Để chống người hung nô xâm lấn,
Tân Thủy Hoàng đã ra lệnh
xây dựng một bức tường phòng thủ rộng lớn.
Bức trường thành này chính là tiền thân
của vạn lý trường thành ngày nay.
Trường thành được xây dựng bằng cách kết nối
nhiều khúc tường thành đã được xây dựng
bởi các nước tần Triệu, Yên,
trải dài hơn 5.000 km từ Lâm Thao
ở phía Tây đến Liêu Đông ở phía Đông,
tạo nên một mạng lưới những bức tường thành
đối các tuyến phòng thủ ở sông
và rất ít phần còn tồn tại cho đến ngày nay.
Vạn lý trường thành hiện nay được xây dới
thời nhà Minh.
Một trong những công trình lớn mà Tân Thủy Hoàng cho xây dựng
là cung A phòng nằm ở phía Nam sông Vị.
Ước tính, triều đình đã phải dùng tới
hơn 70.000 người để xây dựng
cung A phòng và lăng mộ Tân Thủy Hoàng.
Theo sử ký tư Mã Thiên,
riêng phần tiền sảnh của cung A phòng rộng tới
mức triều từ Đông sang Tây dài hơn 800m,
triều từ Nam sang Bắc dài hơn 150m
có thể ngồi được 1.000 người.
Ngay từ khi xây dựng, cung A phòng
đã là một công trình gây tranh cãi,
làm hao tiền tốn của, kiệt quệ sức dân
và mang tới cho vị Hoàng đế
không ít lửa hận thù từ muôn dân trăm họ.
Khi chiếm được kinh đô một nước trừ hầu,
Tân Thủy Hoàng sai người vẽ kiểu
cung điện của nước đó để về xây dựng
lại y hệt tại Hàm Dương,
ở bên cung điện của ông, thành một dãy dài
cả mấy dặm. Bao nhiêu châu báo,
nhạc công và vũ nữ của lục quốc,
ông gom cả về để làm vui tai vui mắt.
Tương chuyển rằng, vào cuối thời nhà Tân,
kinh đô Hàm Dương bị chiếm
và cung điện nhà Tân bị đốt cháy,
lửa cháy hơn 3 tháng mới tắt.
Mới hoàn thành sự nghiệp thống nhất Trung Hoa chưa lâu,
Tân Thủy Hoàng đã nghĩ đến việc
mở mang bờ cõi. Biên cương phía bắc,
ngay từ thời Thương Chu vẫn thường
có giao tranh với các bộ tộc du mục.
Người hung nô thường xâm lấn biên giới,
có chỗ sống lẫn lộn với người trung nguyên.
Đến đầu thời Tân, Tân Thủy Hoàng
bèn trong mông điểm và vương ly cầm quân
rồi đưa những người bị đầy đến đấy để ở.
Lần đầu biến những nơi này trở thành huyện của nhà Tân.
Năm 214 trước công nguyên,
Tân Thủy Hoàng lại đưa 5-10 vạn quân
xuống phía nam để chinh phục lãnh thổ
của các bộ tộc Bách Việt, chiếm được nhiều đất đai
thuộc các tỉnh Chiết Giang, Quảng Đông,
Quảng Tây, Vân Nam ngày nay.
Sau đó, ông cho rời hơn 10 vạn tù nhân
và người bị tù đầy đến ở để khai khẩn.
Trong những năm cuối đời,
Tân Thủy Hoàng trở nên lo sợ cái chết
và tuyệt vọng tìm kiếm thuốc trường sinh.
Ông bị ám ảnh bởi sự bất tử
và bị lừa bởi nhiều người nói có thể
cung cấp thuốc trường sinh.
Năm 210 trước công nguyên,
Tân Thủy Hoàng đi Kinh Lý phía Đông
trên đường trở về phía Tây đến Bến Bình Nguyên thì bị bệnh.
Tân Thủy Hoàng ghét người ta nói đến cái chết
cho nên quần thần không ai dám nói với nhà vua
về việc chuẩn bị cho việc ông qua đời.
Khi bệnh càng nặng, nhà vua viết thư
đóng dấu của Hoàng đế gửi đến Hoàng tử Phù Tô
Bức thư chưa giao cho xứ giả
thì Tân Thủy Hoàng đã qua đời ở Bình Đại
cách Kinh Thành Hàm Dương khoảng 2 tháng đi
bằng đường bộ vào ngày 10 tháng 9 năm 210
trước công nguyên, thọ 49 tuổi.
Ông là vua nước tần được 26 năm,
xưng đế được 11 năm.
Sử liệu phương Tây cho rằng
có thể ông chết do uống phải thủy ngân
trong thuốc trường sinh do các nhà giả kim thuật
và các ngự y chế ra.
Cái chết của ông cùng với âm mưu của Hoạn quan Triệu Cao
và Thừa tướng Lý Tư đã khiến cho Triều Tân
lớn mạnh nhanh chóng sụp đổ chỉ 4 năm sau đó.
Một trong những công trình lớn
mà Tân Thủy Hoàng cho xây dựng
là lăng mộ của chính mình.
Bố cục của lăng mộ được mô phỏng
theo Kinh Thành Hàm Dương, được chia thành
khu nội thành và khu ngoại thành.
Chu vi của khu vực nội thành là 2,5 km
và khu vực ngoại thành là 6,3 km.
Nguồn mộ chính có chứa sát của Tân Thủy Hoàng
vẫn chưa được mở ra và có bằng chứng cho thấy
rằng nó vẫn còn tương đối nguyên vẹn.
Điểm độc đáo trong khu lăng mộ
là đội quân đất nung, được tạo ra
với một loạt các hỗn hợp khuôn đất xét
và sau đó tiếp tục được cá nhân hóa
bằng tay của các nghệ sĩ.
Nguồn mộ hiện vẫn chưa được khai quật hoàn toàn
do hàm lượng thủy ngân cao bất thường,
giao cản về công nghệ và vấn đề bảo quản
các cổ vật.
Trong truyền thống biên soạn lịch sử
của Trung Quốc thời phong kiến,
Tân Thủy Hoàng luôn được miêu tả
như một vị vua tàn bạo,
người bị ám ảnh bởi các vụ ám sát.
Sau này, ông bị các nhà sử học
khổng giáo lên án việc ông cho đốt sách
và trôn sống nho sĩ.
Họ cuối cùng đã biên soạn danh sách 10 tội ác
của Tân để làm nổi bật hành động bạo ngược
của Thủy Hoàng. Ngày nay,
vai trò của Tân Thủy Hoàng đã được đánh giá lại.
Ông được xem như là một nhà lãnh đạo
nhìn xa trong rộng, tiêu diệt sự chia rẽ
và thành lập nhà nước tập trung đầu tiên.
Tân Thủy Hoàng muốn con cháu sẽ đời đời
chuyển ngôi cai trị thiên hạ,
nhưng sau 15 năm thì Vương Triều đã sụp đổ.
Dù vậy, ông đã chú ý thiết lập
một đế chế và một bộ máy quốc gia hoàn chỉnh,
khai sáng cơ nghiệp cho đế quốc Trung Hoa
kéo dài hơn 2.000 năm.
Từ góc độ này mà xét thí nghĩ mãi mãi
của Tân Thủy Hoàng không hẳn là thất bại.
