NGHIỆP NẶNG LÀM SAO XÓA BỎ

giác ngộ ta bà ha
51 người theo dõi
NGHIỆP NẶNG LÀM SAO XÓA BỎ
#giacngotabaha #conhanday #loidaycuaconhan #phapthoai #nghephapthoai #loiphatday #phatphap
Làm cách nào để trả nghiệp, những căn bệnh chúng ta đang phải chịu,
những sự khổ ác này nhất định là do chính mình gây ra chứ không phải là người khác.
Nếu đời này mình có làm việc đại thiện đại lành đi nữa,
mà mình vẫn bị tai nạn rơi vào cảnh khổ là do trong tiền thiết mình tạo ra
chưa đủ bù đấp nghiệp lành mình tạo ra ở hiện tại.
Thế gian còn có câu, nhất ẩm nhất khét mạc phi tiền định.
Một cái ăn, một cái uống, một cái gặp nhau trong đời này nhất định cũng do tiền định,
thì một cơn đau mà đến với chúng ta cũng vậy.
Vì thế khi bị bệnh và nên hiểu rằng mình đang trả cái nghiệp này trong ngày hôm nay
thì trả xong sẽ khỏi trả.
Hiểu được như vậy thì tự nhiên ta an nhiên đón nhận căn bệnh.
Vậy là ta đã trả lời được câu hỏi làm cách nào để trả nghiệp.
Đó là khi nghiệp đến ta chấp nhận.
Nhưng lưu ý là ta an nhiên đón nhận căn bệnh chứ không phải cầu mong bị bệnh.
Khi tu hành, nhiều người có suy nghĩ sai lầm như
Con nguyện sẽ trả hết tất cả những nghiệp chứng của con để con đi dạng sanh về tây phương cực lạc.
Con quyết tâm giải cho hết mọi ác nạn để rồi con được thành tựu.
Đây là lời nguyện hoàn toàn sai lầm đối với một người niệm Phật.
Đúng ra nên nói rằng ta an nhiên tự tại đón nhận căn bệnh này để trả nghiệp.
Vậy làm cách nào để trả nghiệp?
Có 4 trường hợp mà ta phải trả nghiệp.
Đây là chìa khóa cốt yếu trong luật nhân quả.
Thứ nhất là ta trả nghiệp bằng những tai nạn vô tình.
Thí dụ như mưa bão cuốn người đó chết.
Hoặc đi ngang cây sập xuống để chết.
Đang đi trên cầu thì cầu sập phải rớt xuống sông mà chết.
Đang đi trên đồng ruộng thì bị xét đánh chết.
Đó là những tai nạn vô tình.
Và cũng là trường hợp thứ nhất phải trả nghiệp quá khứ.
Thứ hai là quang gia đối mặt.
Người mà kiếp xưa bị mình hại, bây giờ gặp lại họ đòi nợ mình.
Thí dụ như có 2 người bạn thân sống với nhau rất vui vẻ.
Nhưng một lần họ đã gây gỗ đánh nhau.
Một người không kìm được đơn nóng giận đã cầm cây đập vào gấy của người bạn mình.
Từ kia gãy cổ chết liền.
Trường hợp thứ ba là người đến lúc phải trả báo vô tình gặp người gây nghiệp.
Vậy là 2 người này chẳng có liên hệ gì với nhau trong quá khứ hết.
Nhưng lại có 1 người nổi điên lên.
Đến lúc đó phải gây nghiệp, phải giết một ai đó.
Đồng thời cũng có 1 người khác đã đến lúc phải lãnh quả báo và chết do bị giết hại.
Và 2 người đó vô tình gặp nhau.
2 người này không phải là quang gia nhưng trùng khớp lại là 1 người tới lúc phải trả nghiệp và 1 người có tâm ác đến lúc phải gây nghiệp.
Trường hợp thứ 4 là câu quang trái mà lại không có ác tâm.
Nhưng cũng vô tình gây tổn hại.
Thí dụ có 1 anh sai rượu ngủ đằng sau chiếc xe của người ta.
Người tài xế leo lên xe chạy không biết có người ngủ sao.
Mà khi lái thì phải lui 1 cái.
Còn anh này cũng hơi tỉnh tỉnh nghĩ rằng mình nằm đằng sau ánh xe là an toàn.
Vì xe chạy tới chứ không chạy lui.
Không ngờ rằng tài xế phải lui nên gán lên người anh tử vòng.
Làm sao không tạo cái duyên cái nghiệp cho khỏi nở ra.
Đừng sợ cái nghiệp, đừng mong cái nghiệp, đừng lo cái nghiệp, đừng khổ vì cái nghiệp.
Thì tự nhiên cái nghiệp nó nằm đó, nó chờ trong tương lai 1 kiếp nào đó nó mới hiện ra.
Trong thời gian chờ đợi tương lai hiện ra
thì ta đã được tương ứng với đại nguyện của Đức Ajita Phật đã về Tây Phương Cực Lạc rồi.
Khi chạy tới Tây Phương Cực Lạc ta trở nên Bồ Tát Bất Thối Chuyển,
thần thông đạo lực vô cùng nhẹ màu bao trùm Pháp giới.
Ta dùng cái thần thông đạo lực đó vì chúng sanh chịu khổ mà xuống các quốc độ cứu đồ chúng sanh.
Lúc đó ta trả nghiệp nhưng không phải là ta xuống dưới địa ngục để chịu hành hình,
mà ta trả nghiệp bằng cách dùng thần thông đạo lực và trí quệ của một vị Bồ Tát Bất Thối đi cứu đồ chúng sanh,
giảng kinh thiết đạo dẫn chúng sanh về Tây Phương để mà trả nghiệp.
Chính vì thế xin thưa rằng, nghiệp nó đến với chúng ta là do chúng ta mời nó,
còn nếu chúng ta cứ một lòng một dạ, duyên với Tây Phương Cực Lạc,
nghĩ Ai-di-đạ Phật, nhớ Ai-di-đạ Phật, niệm Ai-di-đạ Phật,
nguyện về Tây Phương với Ai-di-đạ Phật,
thì tự nhiên cái nhân đi về Tây Phương đã chím mùi trong tâm của chúng ta,
nhờ do sức nguyện làm thành cái duyên để nảy đỡ cho chúng ta cái quả báo,
cái quả báo đi về Tây Phương thành đạo.
Nhất định đời này đã có dần hạn rồi, không sao cả,
khi cái tâm chúng ta buôn ra thì tự nhiên cái nghiệp nó cũng buôn chúng ta ra,
nó nằm im đó để cho chúng ta lấy cái nhân Ai-di-đạ Phật
để thành cái quả Ai-di-đạ Phật, gọi là niệm Phật là nhân, thành Phật là quả.
Lâu nay khi gặp những hoàn cảnh bất hạnh đến dồn dật,
thì chúng ta luôn tháng quán đất trời đã là mình khổ.
Nhưng không phải trời đất làm cho mình khổ,
mà chính cái nghiệp của mình làm cho ta sướng hay khổ.
Biết được nghiệp ấy rồi, tự mình chuyển hóa bằng cách tu tập,
sửa đổi cho không nên than trời trách đất.
Học hiểu đạo rồi, chúng ta phải chuyển đổi nghiệp xấu thành thốt,
cái dở thành cái hay, đó là tu.
Đừng tháng quán trách trời trách đất,
mà phải trách mình trước tiên.
Những gì mình đã làm, ngày nay kết quả đến đúng như hành động của mình,
không sai dạy.
Người không khéo tu, không nói lành, làm lành, nghĩ lành,
nên mọi người chung quanh ghét bỏ.
Khi bị mọi người ghét, trẻ ấy lại đổ thừa tại trời xui,
Phật khiến cho người ta ghét mình.
Cho nên, khi thấy người ta không thương mình,
thì phải tìm lý do tại sao như vậy.
Vì mình không tốt, không giúp đỡ ai hết,
làm sao người ta thương mến gần gũi cho được.
Như vậy, đâu phải Phật trời xui khiến.
Chuyện tốt xấu lành dữ của mọi người,
do nghiệp di phối dẫn dắt mà có các cảnh tốt xấu,
chứ không phải một đấm thần linh nào tạo ra.
Nên nhớ, nghiệp từ lời nói, hành động, ý nghĩ mà ra,
nên ta phải thường xuyên quan sát ba nghiệp của mình.
Lời nói, hành động, ý nghĩ xấu tạo thành nghiệp ác,
thì sẽ chút quả ác.
Lời nói, hành động, ý nghĩ tốt tạo thành nghiệp lành,
thì hưởng quả tốt.
Biết vậy rồi, chúng ta chuyển đổi lại,
bỏ những lời húng ác dữ dặn,
nói lời hiền quà đức hạnh,
thì tự nhiên mọi người chung quanh sẽ thương mến.
Đó là người khéo tu.
Nghiệp từ thân, miệng, ý mà ra,
cũng từ thân, miệng, ý mà thay đổi.
Có thay đổi là biết tu,
không thay đổi là không biết tu.
Không phải trời Phật,
không phải trời Hành,
mà chính nghiệp ác mình gây ra,
khiến cho ta khổ.
Các bậc cổ đức xưa kia
đã hiểu được đạo Phật một cách thấu đáo,
nên Răng và con giáo rất nhiều về điều này.
Nghiệp nó không hình tướng, không thật,
nhưng đã gây tạo thì nó không mất,
chỉ có thể chuyển đổi thôi.
Dù tai nạn xảy ra,
tất cả sự vật bên ngoài bị tiêu quài,
chứ nghiệp theo sát bên mình không bao giờ mất,
vì vậy chúng ta phải sợ nghiệp ác, nghiệp dữ.
Vậy, chữ duyên trong nhà Phật chỉ cái gì?
Chỉ cho tất cả chúng sanh sinh ra đời
đều có duyên trước.
Đã tạo duyên trước rồi,
nên ngày nay mới gặp lại nhau,
gọi là hợp duyên.
Trong kinh kể rằng,
Đức Phật Thích Ca sau khi thành đạo,
mỗi sáng trước khi đi giáo quá hay khất thực,
mẹ dùng thiên nhãn quan sát nơi nào,
người nào có duyên với mình,
ngày mới đến đó,
vừa để khất thực, vừa để độ họ,
gọi là Phật Quá Hữu Duyên Nhân,
tức là Phật độ người có duyên với mẹ.
Hiểu nhân duyên,
nên biết mình nợ nhiều,
cố gắng tu tâm,
để có đủ khả năng đền tả lại cho người,
bằng cách giáo quá hướng dẫn thí chủ tu tập.
Nên trong cách trả nợ,
làm thầy là cách trả nợ cao thường nhất.
Nên nhớ,
cũng chỉ là trả nợ thôi,
không có cái gì phải kêu hãnh cả.
Cho nên,
cúng Phật là để gieo duyên,
mà đã là gieo duyên thì không nên khấn.
Cúng dường Tam Bảo,
nguyện cho Tam Bảo thường còn,
để chúng con có chỗ nương tựa mà tu hành.
Đó là tâm niệm chân tránh,
hợp với đạo lý.
Phật đã từng bảo,
ta không có quyền ban xuống phước quả cho ai.
Phật chỉ là một dị đạo sư,
tức ông thầy dẫn đường,
chỉ cho chúng sanh tránh con đường khổ,
đi con đường lành.
Đó là bổn phận của một bậc đạo sư,
chứ không thể cho ai cái này cái kia,
như người ta dẫn cầu sinh.
Nếu Phật có quyền ban xuống phước quả,
thì ngày đó có cần dạy chúng ta tu,
thực hành đúng theo lý nhân quả.
Đạo lý nhân quả,
dạy người gieo nhân lành,
thì sẽ hưởng quả lành,
gieo nhân ác thì phải chịu quả ác.
Lành giữ, khổ vui,
đều từ nhân mình gieo mà có,
chứ không phải Phật cho.
Phật chỉ ra,
5 kiểu người tu miệng,
nên dễ gặp được quỷ nhân.
Những kiểu người tu miệng,
nên cuộc đời phú quý.
Cũng dìu dì,
họ luôn có lý do để cảm thấy hạnh phúc,
vui vẻ,
thường được mọi người quý mến,
nể trọng,
và đặc biệt là,
không quá bị quản cảnh tác động.
Phú quý hay phước báo của một người,
không chỉ nằm ở số tiền bạc mà họ sở hữu,
nó còn là một cuộc sống an nhiên,
vui vẻ, khỏe mạnh.
Ngay cả những người không cần có quá nhiều tiền,
nhưng nếu họ biết điều chỉnh tâm lý,
biết đối nhân sự thế,
và có thể tạo ra cảm giác sung túc cho cuộc sống của mình,
bất cứ lúc nào.
Thứ nhất,
người không cặn nhặn,
khí chất thanh cao.
Cuộc sống lúc thăng, lúc trầm,
nên sẽ có những chuyện không như ý xảy ra.
Thế nhưng,
nếu trong lúc đó mặc,
giới khó khăn,
mà luôn thăng phiền, cặn nhặn,
sẽ khiến những người xung quanh cảm thấy ái ngại,
hoặc khó chịu.
Thí dụ,
mọi lúc buồn,
liền thanh giản,
kêu ca,
cuộc đời bất công,
tôi hay gặp đen đuổi,
thì chỉ cần thấy cuộc sống của họ trở nên tâm tối,
mọi người tránh xa,
còn thần tài cũng không dám lại gần.
Thế nên,
cổ nhân mới kết luận rằng,
kiểu người tu miệng,
nên cuộc đời phú quý,
là người không cặn nhặn,
cao bẩn,
mỗi khi gặp nghịch cảnh,
vì ở họ,
luôn tạo ra khí chích,
mà không phải ai cũng có được.
Một người hát cặn nhặn,
thường tỏa ra năng lượng tiêu cực,
ngược lại,
một người luôn tích cực,
sẽ mang lại cho chúng ta cảm giác thoải mái,
dễ chịu khi ở gần.
Đồng thời,
tâm thái tích cực của họ,
cũng lan tỏa,
và khích lệ mọi người,
để lại ấn tượng tốt trong lòng người đối diện,
và chỉ chiến,
họ sẽ dễ dàng giành được sự giúp đỡ của quý nhân.
Nhưng không cặn nhặn,
không có nghĩa là đang cam chịu,
hay nhuôn dược.
Thật ra,
những người này,
giống có sự an tĩnh trong tâm của mình,
nên không bị ngoại cảnh tác động.
Người đó,
sẽ đủ dụng khí dược qua nghịch cảnh,
họ đủ khả năng nhìn xa trong rộng,
và hiểu rằng,
khó khăn cũng sẽ sớm qua đi,
trả lại cho họ những ngày bệnh yên.
Không phải ai công động may mắn sinh ra,
là có số mệnh được quý nhân giúp đỡ.
Thế nhưng,
chính bằng việc bản thân biết tu dưỡng,
thì cũng đã có thể cải biến số mệnh,
và thay đổi dần khí của chính mình.
Thái độ quyết định hết tải,
và tính cách quyết định dần mệnh.
Cho nên,
một người có dần mệnh tốt hay không,
quý nhân nhiều hay ít,
đều có quan hệ chặt chẽ
với quá trình tu dưỡng.
Một người biết tu thân,
tu miệng của mình,
ở họ tỏa ra khí chất
khiến người khác cảm thấy nệ phục.
Thứ hai,
người ăn uống biết tiết chế
luôn khỏe mạnh.
Phật dạy,
ta hãy biết đủ,
không chỉ là ở khía cạnh tài chính,
mà còn ở khía cạnh ăn uống
để đảm bảo sức khỏe và sống thọ.
Có người hiện đại không quan tâm tới điều này
vì họ có sợ thích thưởng thức
càng nhiều đồ ngon dật lại càng tốt.
Lòng tham khiến họ mất càng nhiều bệnh tật hơn.
Các bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải.
Ngày càng nhiều loại bệnh ung thư xuất hiện
đã minh chứng cho sự thật đáng buồn này.
Ai chẳng thích được ăn ngon,
nhưng không phải ai
cũng biết cách tiết chế bản thân
vì sức khỏe.
Kết quả là tự làm khổ chính mình.
Có sức khỏe thì áp da dẻ đẹp,
dẻ ngoài thanh thoát.
Đó thực sự là món quà xa xỉ của cuộc sống
mà không phải ai cũng có được.
Chỉ những người biết ăn uống đúng cách
mới hiểu được điều này.
Thế nên, những ai biết kiểm soát tốt
cái miệng của mình,
không ăn uống bừa bãi,
biết cái gì nên ăn,
cái gì không nên,
thì có thể đạt được mục tiêu sức khỏe
lại có thể học cách kỷ luật bản thân
trong việc ăn uống.
Thứ 3
Biết nói chuyện thu phục lòng người
Người biết nói chuyện không phải là người
luôn miệng nói,
luôn miệng phân bua,
kẻ hay canh phần nói của người khác.
Thích áp đặt ý kiến,
sẽ chẳng ai dám chia sẻ tâm sự với họ.
Thế nên,
một người biết nói chuyện
là người biết khi nào nói câu gì,
khi nào cần im lặng lắng nghe.
Thậm chí,
chỉ cần vài câu ngắn ngưỡi,
đơn giản,
cũng có thể chạm tới trái tim của người khác,
khiến đối phương hoàn toàn bị thu phục.
Muốn có được điều đó,
không hề đơn giản,
họ phải biết tu thân,
và quan trọng là tu cái miệng của mình.
Thêm nữa,
họ phải có khả năng thấu cảm,
biết đứng vào vị trí của người khác,
để nhìn nhận vấn đề.
Chuyện kể lại rằng,
một dịp Pha-ra-ông,
gửi tặng nhà hiền triết Pi-át,
một con vật quý hiếm,
để làm lễ trế thần.
Pha-ra-ông,
còn muốn thử thách thêm
về khả năng xử lý vấn đề của nhà hiền triết,
nên gửi yêu cầu,
sau khi cúng tế xong,
phải trả lại cho ngài,
cái gì trong con vật quý hiếm này,
vừa tốt nhất,
lại vừa xấu nhất.
Nhà hiền triết,
đọc thư xong,
điện thoát người hầu,
xẻo lưỡi của con vật,
rồi trao cho thị dệ,
mang về cho Pha-ra-ông.
Nhà hiền triết,
muốn nhắn dụ với vua rằng,
cái lưỡi là phần tốt nhất,
nếu biết sử dụng,
nhưng đồng thời,
cũng là phần xấu nhất,
nếu không biết sử dụng nó.
Một chuyện khác,
kể về anh nô lệ Aesop,
được ông chủ Santo,
vô cùng tình yêu.
Một hôm, nhà có khách,
nên ông chủ xài Aesop,
ra chợ mua thức ăn.
Tuy không được nhận phải mua gì,
nhưng anh chủ động mua đủ các loại lưỡi,
từ lưỡi lợn,
lưỡi bò,
cho tới lưỡi ngựa,
rồi chế biến nấu nướng.
Là miệng ăn ngon,
nên chủ và thực khách đều hài lòng.
Lần khác,
nhà lại thiếp khách,
và Aesop cũng được xài đi chợ,
mà không nhận phải mua gì.
Dẫn như lần trước,
anh lại mua toàn các loại lưỡi,
chỉ có điều khác là,
về cách chế biến thêm mức gia vị,
lần này anh cũng được khen ngợi,
vì món ngon là miệng.
Ông chủ hỏi lý do tại sao lại mua lưỡi,
mà không thử thêm các món khác.
Aesop trả lời rằng,
thưa ông,
mọi sự tốt xấu lợi hại trên đời này,
đều do cái lưỡi mà ra,
đều do người ta có biết sử dụng cái lưỡi,
một cách khéo léo hay dụng về mà thôi.
Vì thế,
hai lần tôi đều mua lưỡi về chế biến,
mà ông chủ và quan khách vẫn không chảm chán.
Cũng vì khéo nói hợp với ý chủ,
nên anh này càng được chủ tính yêu hơn,
và về sau,
còn được giải phóng khỏi thân phận nô lệ,
sống cuộc đời tự do.
Vậy nên,
muốn biết một người có phúc hay không,
chỉ cần để ý tới cách họ nói chuyện.
Phúc quả đều từ miệng mà ra.
Có người,
muốn có mệnh thốt,
hắp phải tu cái miệng của mình.
Thứ trưa,
người biết giữ miệng,
sống đời an nhiên.
Tổ nhân với kinh nghiệm sống ngàn đời của mình,
đã chỉ ra cho chúng ta thấy rằng,
người không quản được cái miệng,
thì khó ăn phận thủ thường,
thường tự rước quài vào thân.
Cuối cùng thì,
những muộn phiền,
chuyện đau lòng của cuộc sống này,
chủ yếu từ việc một ai đó chê bai,
nhận xét hay xì xào,
nói xấu về ta.
Thế nên,
nếu không có những lời đó,
thì cuộc sống của ai cũng đều trở nên an nhiên.
Có thể nói,
mỗi người xuất hiện trong cuộc đời này,
cũng mang theo một tâm sự nào đó,
và đó là điểm yếu của họ.
Thứ bản thân đang canh cánh,
lo âu trong lòng,
càng khiến cho họ khó có thể dự kính.
Thế mà,
chuyện tưởng là bí mật,
khi tiết lộ cho một người,
thì sau đó ai cũng biết.
Với một người tự biết cân bằng,
ý thức được lúc nào nên nói,
lúc nào nên im lặng,
và kiểm soát hành trí của mình,
thì luôn có được nội tâm mạnh mẽ.
Nhờ biết giữ miệng,
mà họ có được cuộc sống an nhiên.
Hơn nữa,
khi miệng lợi thế gian cố tình làm tổn thương ta,
khiến ta muộn phiền,
thì chỉ có cách bình tĩnh,
tự chủ trở lại,
tránh nội nóng.
Cần tránh thêm dầu dầu lửa,
khi do phản ứng gây gác do đau phượng.
Trải lại,
nếu ta biết nói lời bình tĩnh,
có tình, có lý,
kèm theo chứng cứ cụ thể,
sẽ có sức mạnh thuyết phục người nghe,
giúp xóa bỏ hận thù,
quá dại xung đột,
và mang lại niềm vui và bình an cho chính bản thân mình
và những người xung quanh.
Thứ 5
Người luôn miệng cười dễ gặp quý nhân
Mẹ Teresa từng nói,
mỗi khi bạn cười với ai đó,
đó là một hành động của sự yêu thương,
một món quà,
một điều đẹp đẽ.
Vì thế, nội cười rất quý,
đó là hành động ban phát lan tỏa tình yêu của mình.
Một người luôn miệng cười
sẽ như ánh sáng sụi ấm trái tim
những người xung quanh mình.
Đó chính là điều đơn giản
giúp bạn hạnh phúc mỗi ngày
mà dường như đã bị bỏ quên
vì cuộc sống bận rộn
với những lo toan, ưu phiện.
Nếu chịu khó quan sát xung quanh mình,
ta có thể thấy
những người luôn rạn rỡ
với khuôn miệng tươi tắng
luôn tạo thiền cảm cho mọi người.
Nhờ thế mà cuộc sống thuận lợi
đi đâu cũng được giúp đỡ, hỗ trợ.
Đồng thời,
tâm thái tích cực
còn có thể cúng hút cảm quá
và khích lại người khác
mà không cần phải dùng tới
bất cứ lời nói
hay sự đe dọa nào đó.
Những người này
sẽ dễ dàng nhận được thiền cảm
và ấn tượng thốt
với mọi người xung quanh.
Do đó,
họ sẽ dễ gặp được
quý nhân trợ giúp.
Đó thật sự là cuộc đời phú quý
mà ai cũng mong có được.
Còn ở khía cạnh khoa học,
mỗi khí cười
sẽ khiến cơ thể giải phóng
hormôn etopin,
một chất có khả năng
giảm đau tự nhiên cho cơ thể
và hormôn serotonin,
chất dẫn truyền thần kinh
mang đến cảm giác hạnh phúc thỏa mãn.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng
những chất khoa học tự nhiên này
nâng đỡ tinh thần,
thư giãn các cơ bắp
và làm giảm nỗi đau thề sắc.
Thế nên,
từ nay về sau,
dẫu có đối phập với nghịch cảnh,
cũng đừng buồn bã,
cũng đừng than khóc
tới mức bi luyện.
Hãy miệng cười đối mặt,
rồi cánh cửa đi tới con đường hạnh phúc
sẽ mở ra trước mắt bạn.
Kinh Vô Lượng Nghĩa
và Định Vô Lượng Nghĩa
Kinh Vô Lượng Nghĩa
và Định Vô Lượng Nghĩa
là pháp căn bản nhất
cho người xuất gia.
Vì vậy,
trí giã đại sư trong Thiên Thái Tông
bảo người tu
phải biết kết hợp giáo pháp và thiền.
Thiền mà không hiểu biết đúng đắn giáo pháp
thì rớt qua ngoại đạo.
Hiểu biết giáo pháp
nhưng không thiền
trở thành pháp sư danh tự,
ví như người giới thiệu món ăn
nhưng không ăn không thể sống,
nghĩa là pháp thân chúng ta không thể sống được.
Nhưng pháp thân chết
mà hình thức tu còn
thì rớt vào tăng thượng mạng,
bị đọa.
Chúng ta ôm hết
tam tàn thanh điển vào lòng,
nhưng kinh Pháp Hoa
rút ra cho mình một câu
là Phật nói
kinh vô lượng nghĩa
và nhập vô lượng nghĩa xứ định.
Đó chính là cốt lõi
của bổn môn Pháp Hoa
mà mình cần thực tập
là định vô lượng nghĩa
và huệ vô lượng nghĩa.
Nghĩa là muốn tìm Phật
phải chuẩn bị hành trang,
không phải nói đi là đi.
Như tôi,
thỏa nhỏ mới 12 tuổi
muốn tu là tu,
không biết gì hết.
Nhưng may mắn
nhờ Phật thương,
Phật cứu.
Nhưng tu như vậy nguy hiểm,
phải chuẩn bị hành trang.
Phật dạy kinh vô lượng nghĩa
đó là chuẩn bị hành trang,
vượt qua 500 do tuần đường hiểm
mới không chết nửa đường.
Không chuẩn bị cũng dễ thoái lui.
Chuẩn bị hành trang là gì?
Phải có sức khỏe,
vì hành trình xa,
không có sức khỏe
không đi được tới đâu.
Lúc tôi ở Nhật,
bạn chủ leo núi Phú Sĩ,
tôi bảo đi thì đi.
Các bạn chuẩn bị áo lạnh,
giày, mũ.
Tôi mặc áo thường,
đến giữa trường núi,
lạnh quá khiến nước mắt,
nước mũi chảy ra,
không thấy đường đi.
Muốn tu,
quý vị phải chuẩn bị đàng hoàng.
Theo tôi,
quý vị phải dò đường trước,
có chùa nào thích hợp,
sưu nào mà mình quý trọng
và họ thương mình.
Mình học được,
thì mới vô đó tu.
Không chuẩn bị mà cạo đầu đại,
không ai chứa,
lúc đó khó khổ,
nằm khóc một mình.
Đi tới không được,
đi lui cũng không xong.
Kinh vô lượng nghĩa
vậy chúng ta chuẩn bị,
không phải chuẩn bị thức ăn.
Trước hết,
phải chuẩn bị đạo đức.
Ai thấy cũng thương,
mới bắt đầu hành trình.
Tới chùa,
mà thầy thương bạn mến,
mới ở tu được.
Chuẩn bị mình ăn ở thế nào,
mà người thương được,
là kinh vô lượng nghĩa
dạy mình đạo đức phải có,
nhưng làm sao để người thương.
Theo kinh nghiệm của tôi,
phải có sức khỏe tốt
và chuyên nhẫn lớn.
Cái gì mình cũng chịu được,
thì người mới thương.
Nếu không làm được,
lại dễ nổi nóng,
gặp ai cũng gây,
làm sao người thương.
Mình như trái banh,
đã đâu cũng được,
nhưng không chết.
Cứ nhớ rằng
ai lỗi là việc của họ.
Còn mình không lỗi,
tức phải có phạm hành thanh tịnh.
Ai nói xấu mặt,
mình không nói xấu.
Dù tụng một ngàn bộ kinh pháp hoa
mà không có sức kiên nhẫn,
phạm nhiều lỗi lầm
thì vẫn không tu được.
Thứ hai là chuẩn bị nhẫn lực
và mở rộng trí thức.
Ở trong chúng,
việc nào mình cũng làm,
khó khăn nào cũng gánh.
Kinh nghiệm của tôi,
việc khó làm được,
người mới thương,
còn thấy khó đụng đẩy
thì không ai ưa,
gọi là phô dụng.
Chịu đựng được
và giải quyết được việc khó,
ở đâu người cũng dung chứa mình.
Làm được như vậy,
là chuẩn bị hành trang lên đường.
Điều thứ ba cần chuẩn bị là
ở đâu làm lợi ích chỗ đó,
chắc chắn người chấp nhận mình.
Ăn hại thì ở không được lâu,
làm nhiều,
chi tiêu ích,
thẳng dư mới còn.
Đi tu,
chuẩn bị như vậy xong,
tôi nghĩ chỗ nào làm được,
mình đến đó.
Trước kia,
Hòa Thượng trí tịnh bảo
niệm Phật phản sang cực lạc,
tôi không nghe,
vì tôi nghĩ qua đó
không có việc gì cho tôi làm,
ăn không là không được.
Chỗ nào mình làm được
và người ta quý mình
là ở đó tu được.
Năm 1957
là thời kỳ khó khăn nhất.
Lúc đó,
Hòa Thượng Thiện Hoa
là trưởng bang Hoàng Pháp,
tỉnh Phước Long
lên tỉnh Giảng Sư.
Hòa Thượng hỏi thầy nào đi,
nghe nói đi từ sáng đến chiều mới tới
và còn phải vô sa trong trường.
Tôi làm thị giả cho Hòa Thượng,
ngài hỏi con đi không,
tôi nói ngài cho đi thì con đi.
Tôi nghĩ mình ở Sài Gòn giảng,
ai nghe,
ở đó nghèo khổ,
chắc chắn họ cần nghe Pháp.
Lên đó giảng được,
nhưng người ta nói xứ mù,
trột làm vua.
Vì vùng đó rất nghèo,
mà còn người dân tộc,
họ ở tháp mơ,
nhưng không mặc đồ,
chỗ đó chắc chắn làm đạo được.
Vậy cực là không có việc làm,
nên tôi không về,
vì sợ ăn không bị tội.
Vì vậy khi đã chuẩn bị
đạo đức cao,
chịu đựng được
và hiểu biết rộng
thì tìm chỗ ứng dụng.
Ở Nhật học xong,
tôi nghĩ về Việt Nam
có nhiều việc làm.
Các người bạn nói
ở Việt Nam sau chiến tranh
là chết chốc,
nghèo khổ,
bệnh hoạn,
thì về làm chi?
Tôi nghĩ như vậy,
về Việt Nam làm gì cũng được,
có sao đâu.
Và thực tế đúng như vậy.
Họ mời tôi tham gia
Hội Chữ Thật Đỏ.
Tu hành,
mình cần có việc làm
giúp ích cho cuộc đời.
Vì vậy,
vì thứ ba Phật dạy
vì hạnh phúc cho số đông,
vì lợi ích cho chư thiên
và loài người,
đó chính là
Kinh Pháp Hoa.
Chấu khổ mà trắng
là đỏ.
Học vô lượng nghĩa
hay tam tạng giáo điển
là chuẩn bị hành trang lên đường.
Kinh Pháp Hoa gọi là
ba xe chạy ra khỏi nhà lửa.
Phải có ba xe.
Không có ba xe
thì không có cách nào vào đạo.
Trên bức đường
thượng cầu Phật đạo,
hạ hóa chúng sanh,
chúng ta có chịu đựng được
khó khổ hay không?
Nói trỏ hơn,
bị người đánh,
ta không đánh lại.
Bị người mắn,
ta không mắn lại.
Bị nói xấu,
ta không biện minh.
Làm được như vậy
là đệ tử Phật.
Nếu không,
không được Phật công nhận
là đệ tử,
nói chi đến việc
Phật hộ niệm.
Quyết tâm tu,
thế nghiệm đạo đức,
tri thức
và làm lợi ích cho người
thì được Phật nhận là đệ tử
và được Ngài hộ niệm.
Chắc chắn chúng ta
vượt qua mọi khó khăn
và thăng hoa
trên lộ trình đến Phật quả.
Điều quan trọng là
Phật nhập vô lượng nghĩa sứ ta mùi
không phải chỉ nói kinh vô lượng nghĩa thôi.
Nói kinh vô lượng nghĩa không khó.
Nhập vô lượng nghĩa sứ định
thì không phải ai cũng làm được.
Cũng như nói bất biến thì dễ
nhưng ứng được phản biến
mới ai làm được.
Nhập vô lượng nghĩa sứ định
nhằm chỉ phải thực tập
mới biết được áo nghĩa của kinh.
Họ thường trí tịnh nói rằng
muốn biết thực chất của đạo
phải cạo đầu,
ăn chay,
niệm Phật,
thiền định rồi biết.
Còn biết theo hình thức
thì muôn đời
không vào cánh cửa đạo được đâu.
Vì vậy cả đời hòa thượng
thực tập lý này trong thiền thức
và ai có nhân duyên
Ngài mới nói
không phải ai Ngài cũng nói.
Vì theo Ngài
Phật Pháp đâu phải cá ương
mà Ngài ép bán.
Người ta cầu tìm
nhưng thấy họ không có duyên
chưa độ được
cũng phải tránh mặt.
Vì vậy điều quan trọng
là nhập vô lượng nghĩa sứ ta mùi.
Nói đúng hơn là trong đạo Phật
quan trọng ở hai chữ ta mùi.
Người tu khác nhau
ở điểm có ta mùi hay không.
Thiên ma ngoại đạo
cũng có ta mùi
gọi là bùa chú.
Tôi có người bạn
ở trên núi chuyên luyện bùa.
Ông này nhìn đói lâu hệ
cũng không thấy đói.
Người thầy cho ông lá bùa
và câu thần chú.
Ông vô hạng động
đọc thần chú
và nhìn vào lá bùa.
Đến khi thấy bùa sáng lên
là đắt rồi.
Như vậy cũng là ta mùi do định
nhưng là tà định.
Tôi cũng có bạn là tránh khách
khi có việc khó khăn
không giải quyết được
ông đóng cửa
không tiếp khách
ngồi yên
để tâm thật yên tĩnh
việc tự sáng ra.
Đây là thế gian định.
Ý này cũng được Phật dạy chúng ta rằng
tâm bán loạn
thì không thấy chính xác.
Tâm định
tức tập trung
sẽ thấy vấn đề sáng lên.
Trên bước đường tu
tôi thực tập Pháp này trước.
Bằng cách
nhìn châm chú vào một vật
để cho tâm tập trung.
Vậy sao tôi nhìn tượng Phật
để tập trung
và tiến xa hơn
tôi nhìn một ý tưởng
trong kinh sách
để tập trung.
Thì khi nghiên cứu
một tác phẩm dài
không đủ thời gian đọc hết
tôi đọc bằng tư tưởng
bằng tâm linh
chỉ đọc cái tên thôi.
Thí dụ
tôi đọc lịch sử
kinh hoa nghiêm
và đọc các nhà trước pháp
biên dịch
là tôi đã biết tổng quát.
Sau đó tôi xếp kinh lại
ngồi tập trung vào những gì
vừa đọc về lịch sử
và các tác giả
tự nhiên lòng sáng ra.
Còn học thuộc lòng
thì sao dễ quên.
Không học thuộc lòng
nhưng tập trung được
không bao giờ quên.
Đó là điều quan trọng
mà tôi muốn chia sẻ
với quý vị
về cách học Phật.
Con đường vào đạo
cần có tâm hồn tập trung
mới lãnh hội được
pháp chân thật.
Chỉ nghe bằng tay thôi
không thể lãnh hội
ý sâu sắc của Phật.
Nói xuống về kinh
thì dễ
nhưng làm hiển thánh
rất khó.
Có nhiều định để thực tập
riêng kinh nghiệm của tôi
khi thực tập
là tôi tập trung
vào các thoại đầu
và một bộ sách
và một tư tưởng.
Do tập trung
mà có cái nhìn sáng hơn
và thấy đúng.
Tập trung như vậy
tôi nhận ra ý nghĩa
đầu tiên của
Kinh Pháp Hoa
nói là
Triền Đà La Ni
sẽ có trí tuệ
mới sử dụng được
hiểu biết đúng đắn.
Vì vậy
Phật dạy rằng
có trí tuệ
thì giải được.
Không có trí tuệ
vô lộ
tự buộc mình vào phiền não.
Triền Đà La Ni
là hội học
do tập trung
thì cái gì sáng
ra trong đầu
không bao giờ mất
và trở về
định vô lượng nghĩa.
Đức Phật
đã thể hiện điều này.
Học
thánh điển xong
nhưng quan trọng
phải tiến sâu hơn
là thể nghiệm thiền định.
Phật
đã thể hiện lý này.
Ngài dạy rằng
học Kinh
vô lượng nghĩa rồi
phải nhập định
vô lượng nghĩa.
Về hình thức
chúng ta ngồi thiền
đơn giản
nhưng nhập định
phải vượt được
biển thức.
Nếu kẹt
biển thức
chúng ta sẽ thấy gì?
Họ thử nhất
hẳn nói rằng
ai thiền thực sự
đều gặp những tảng đá ngầm
là nghiệp chứng nổi dậy
khởi lên hiện hành
đó là tâm thức
hay ai lại gia thức
của chúng ta
tự nổi dậy.
Nếu không
vượt thức ủng
không vào thế giới Phật được.
Vì vậy
chủ yếu chúng ta tu hành
hiểu biết đúng đắn
về giáo pháp xong
phải thực hành thiền
là vượt sắc ủng
thỏ ủng
tưởng ủng
hành ủng
và thức ủng.
Không vượt được thức ủng
thì tướng vô minh hiện ra.
Vô minh
là sai lầm
mới gặp tảng đá ngầm
tức những vấn đề
chúng ta không lý giải được.
Nếu vậy
phải phá vô minh
vì vô minh hiện ra
nâng chiến tướng
là hành ủng
làm sống trở lại
những cái bình thường
mình đã huôn tập.
Nếu vậy
hành ủng cũng do tâm khởi.
Quảng 12 Nhân Duyên
nhận chân rằng
vì vô minh
sanh ra hành ủng
và hành sanh ra
Simla Phạm Tượng.
Cứ như vậy
mà trở thành
chúng sanh xoay vần
trong điện ngục
muôn trùng chiên cố.
Người tu phá được
ngũ ủng
vượt lên đến sắc giới
dù còn thân người
nhưng tâm thức họ
ở trong sắc giới
là trên
tầng trời dục giới.
Ở dục giới
còn tình cảm
nhưng phá tình cảm
chúng ta qua
sắc giới.
Theo Nguyên Thủy
xá lợi phớt
dạy kinh
và một chuyện liên dạy
thiền định.
Nhưng theo Đại Thừa
hay theo Pháp Hoa
thì đổi khác
vì định này
là định vô lượng nghĩa
nên phải được
Bồ Tát Văn Thù
khai thị
và Bồ Tát Phổ Hiền
gia bị.
Bởi thế giới này của Phật
Bồ Tát quá trọng
hàng nhị thừa
không vào được
vì đó là
thế giới đặc thù
khác với thế giới nhị thừa
chứng ly xanh hỷ lạc.
Thế giới nhị thừa
chứng ly xanh hỷ lạc
có nguồn vui khác
với cuộc đời
cho nên
thiền sư nói
khi chưa tu
thấy núi là núi
sông là sông
nghĩa là
chưa tu
thấy cuộc đời
giống như mọi người
nhưng tu
thì thấy núi
không là núi
sông không là sông
vì ta đã bước qua
cửa không
nên thấy tất cả
đều là mộng huyển
bào ảnh.
Vì vậy
thiền sư ngộ đạo
không bị cuộc đời
chi phối
vì đã nhập không môn.
Nhập không môn
tất cả đều là
ảo ảnh
thuộc mê lầm
vô minh
là Đắc La Hán
trụ không
giải thoát
vì biết cuộc đời
là ảo ảnh
nên không lại thuộc
cuộc đời
và trụ nhiếc bàn.
Nhưng theo ngài trí giả
đó là
thú tịch thanh văn
Đắc La Hán
trụ nhiếc bàn
vì cuộc đời này
đối với họ quá khổ
nên nỗ lực tu
vượt qua khổ
hết khổ
thì họ ăn trú
nhiếc bàn
ở đó
thấy an ổn.
Cảm nhận này
trong Kinh Pháp Hoa
diễn tả rằng
xá lệ Phất nghĩ
mình cũng Đắc La Hán
nhưng tại sao
quả vị La Hán
của Phật
lại khác với
quả vị La Hán
của mình
như vậy không biết
mình có khả năng
làm Phật hay không.
Cũng như
trên thực tế
có người nghĩ
mình thọ tỳ kheo
thì tất cả tỳ kheo
đều bình đẳng
nếu chết vô nhận thức
như vậy
là tăng thượng mạng
tỳ kheo.
Giải thoát nhiếc bàn
tu chứng của La Hán
mà Kinh Pháp Hoa
muốn nói qua
là khi dụ người mù
từ thỏa nhỏ
sau khi sử dụng
tứ thánh đế
thấy được sự Phật
vượt ngoài
cuộc sống bình thường
đó là cây thấy
của La Hán
không giống cây thấy
của Phạm Phu
trên cuộc đời.
La Hán thấy
theo người
đã ra khỏi sinh tử
thì xá lệ Phất
đắc quả này rồi
ngàn có sáu pháp
thần thông
do thiền định công phu
mới thấy khác hơn
ở bên bờ sinh tử này
nghĩa là
qua nhiếc bàn
mới thấy ta
và Phật khác nhau.
Chúng ta không giáo hóa
chúng sanh được
vì giáo hóa
thì chúng ta bị lệ thuộc
chúng sanh
nhưng ở nhiếc bàn
chúng ta yên vui
thực tế cho thấy
ai cũng vậy
tiếp xúc cuộc đời
thiền não khởi lên
nên đa số người tu
thích ẩn cư
không tiếp xúc cuộc đời
nên không giáo hóa
chúng sanh được
nhưng tại sao
Phật vẫn ăn trú
nhiếc bàn
mà vẫn giáo hóa
chúng sanh được
đó là vì
Phật khác chúng ta
ở quả vị
như lai
vì vậy
theo Đại Thừa
phải thực tập
việc giáo hóa
chúng sanh
thành tựu tròn vẹn
mới đạt quả vị
như lai
Phật vậy
muốn giáo hóa
chúng sanh
phải phát âm
Bồ Đề
hành Bồ Tát Đạo
và Kinh Pháp Hoa
là giáo
Bồ Tát Pháp
ban đầu
vô lượng nghĩa
đồng với
3 tạng Kinh
nhưng qua Pháp Hoa
thấy khác
là thấy có tạng
của Nghị Thừa
tạng của Bồ Tát
dành cho người
đã vượt Nghị Thừa
mới đi vào
Bồ Tát Tạng
ta đang ở
thế giới Phạm Phu
hay ở Nghị Thừa
mà bác bỏ
thế giới Phật
thế giới Bồ Tát
làm sao đúng được
Tôi nhận ra lý này
nhờ thân tận
Hòa Thượng Trí Tịnh
Hòa Thượng
ở Thiền Thất
vẫn làm được Phật sự
mới quan trọng
đó là Pháp Hoa
Còn ở Thanh Văn Tạng
ta không tách động
được người khác
Trí Giả gọi đó là
Củi Mục Thang Ngùi
hay Thủy Tinh
phí cho La Hán
khác với Ngọc Ma Ni
tiêu biểu cho Phật
Một viên Ngọc Ma Ni
làm trong biển nước
Một ngàn viên Thủy Tinh
vẫn làm cho nước được
Kinh Pháp Hoa nói rằng
dù có tập hợp
vô số người có trí tuệ
bằng với xá lời Phức
cũng không thể hiểu được
việc giáo hóa của Phật
Tại sao Phật không làm
như người người
kính ngữ ngại
trong khi ngoại đạo
dùng đủ cách chiêu dụ
mà kết quả
chẳng là bao
Có thầy thưa với
Hòa Thượng Trí Tịnh rằng
đạo Phật không lo phát triển
Phật tử sẽ bị đạo khác dụ
Hòa Thượng trả lời đơn giản rằng
những người đó đi
cũng tốt thôi
vì họ ở trong chúng
quậy phá
ngoại đạo dụ
là tà chiến
mình gom về làm chi
gom về có hại hơn
Giáo hóa của nghị thừa
Phạm Phu
ngoại đạo làm nhiều
nhưng không hiệu quả
Trong khi giáo hóa của Phật
không giáo hóa
mà giáo hóa
không chúng sinh nào
được độ mới là độ
đó là độ của Bồ Tát
Đặc La Hán vào Đại Định
bắt đầu quan sát
loại hình thứ 2
là thật báo
tra nghiêm tịnh độ của Phật
Chưa vào loại hình thứ 2
còn ở loại hình 1
như các tiểu thuyết gia
diễn tả cuộc đời
của Đức Phật
rất tầm thường
Kinh Pháp Hoa
nói ý này rằng
chúng sinh ở trong ba cõi
chỉ thấy ba cõi
không thể thấy Phật
Phạo Định mới thấy Phật
và Thanh Văn thấy Phật đi một mình
nói rằng
ngày một mình một bát
ăn cơm hàng nhà
nhưng Tu Đại Thừa
thực tập thiền quán
thấy hoàn toàn khác
là thấy có Thiên Long Bác Bộ
thấy có Chư Thiên
Thỉnh Phật Thuyết Pháp
Phật giáo Nguyên Thủy
cũng thấy như vậy
và tiến xa hơn
theo Đại Thừa
thấy Phật giáo hóa Bồ Tát
vì vậy Bồ Tát cách Phật nghìn trùng
nhưng lúc nào cũng gần Phật
còn hàng Tăng Thượng Mạng
ở cạnh Phật
nhưng vẫn cách xa Phật
những thứ sâu sắc lý này
chúng ta cố gắng tu
dù cách Phật ngàn năm
nhưng vẫn vào Pháp Hội Phật
như trí giả
đó là Tu Đại Thừa
hành Bồ Tát Đạo
thực tế chúng ta
lên núi Linh Thướng
để Phật Thuyết Kinh Pháp Hoa
diện tích khoảng 20m2
nhưng có đến 8 vạn Bồ Tát nghe Pháp
làm sao chúng ta thâm nhập
thế giới này
phải nhờ Phổ Hiện
Bồ Tát hướng dẫn
và nhập vô lượng
nghĩa xứ định
mới vào được thế giới Phật
Phổ Hiện nói
trong một hàng trần
đã có trần số cõi nước
là vào thật báo
thấy Phật giáo hóa
vô số Bồ Tát
và Phật báo thân đó
hiện hữu trong
vô số thế giới thật báo
còn thế giới hữu hàng này
thì giáo hóa được mấy người
cảm nhận sâu sắc
thế giới Phật như vậy
chúng ta mới thích Tu Đại Thừa
và hành Bồ Tát Đạo
không chán ngãn
học Kinh Nguyên Thủy Trồi
đến khi chúng ta đọc
Thiên Bá Ước
hóa thân Thích Ca Mâu Ni Phật
thì nghĩ rằng
chắc điều này là giả tưởng thôi
làm gì có thật
vì chỉ có một Phật Thích Ca
thuyết pháp trên cuộc đời
và ngài Niết Bàng là hết
nhưng tôi nói theo Đại Thừa
nhìn khác
hóa thân Phật
không phải là ảo thuật biến hóa
nhưng thấy thực tế
tôi và tất cả các vị tu hình
đều là hóa thân Phật
thật vậy
Phật và Niết Bàng
nhưng chúng ta còn
tuyên dương giáo Pháp Phật
và còn người nghe theo
áp dụng theo
thì giáo Pháp Phật
vẫn còn tồn tại
và có vô số đạo tràng
tu theo Phật
trên khắp 5 châu 4 biển
nếu không có giáo Pháp Phật
làm sao chúng ta thuyết
và không phải Pháp Phật
thì cũng không ai nghe
tất cả giảng sư
đều giảng Pháp của Phật
không phải của mình
tại sao chúng ta phát tâm xuất gia
tu hình khổ hạnh
theo Kinh Pháp Hoa
người có nhân duyên
được Phật hộ niệm
thì họ tự phát tâm
tự hình Bồ Tát Đạo
tự giáo hóa chúng sinh
Điển hình như tôi
chỉ là con số 0
cũng như bao nhiêu người
nhưng nhờ Phật hộ niệm
mà tôi phát tâm tu hình
làm được một số Phật sự
Kinh Pháp Hoa nói
tịch diệt phi diệt
nghĩa là báo thân Phật
và Pháp thân Phật không mất
nhưng sanh thân của Ngài mất
để chúng ta khác ngưỡng
và nỗ lực tu
Kinh Pháp Hoa diễn tả ý này
rằng các người con
lấy thuốc cũ sử dụng
là lấy tứ thánh đế
thực hành tứ niệm sứ
tứ chánh trần
tứ như ý túc
ngủ căng
ngủ lực
thất bộ đề
bác chánh đạo
một cách thuần thuộc
thì mắt huệ mở ra
sẽ thấy thế giới Phật
ở thật báo trang nhiên tịnh độ
và Phật vẫn hằng hữu miên viễn
Ngài không chết
Chúng ta ở thế gian
phát tâm tu
là nhờ Phật lực gia vị
để chúng ta hành Bồ Tát Đạo
Hiểu như vậy
chúng ta mới nói
thiền bá ước
hóa thân Phật
trong khi nguyên thủy nói
chỉ có Phật thích ca
và chờ Phật chi lạc ra đời
nhưng Tú Đại Thừa
vượt ngủ ủng
thấy Phật đang giáo hóa Bồ Tát
và tất cả hóa thân Phật
đang giáo hóa khắp mọi nơi
không ngừng nghỉ
Người nào phát tâm
Phật hộ niệm
Người muốn vào Niết Bàn
thì cứ vào Niết Bàn
cứ ở đó
Phật đã giúp họ
đoạn đường đó rồi
Khi nào họ phát tâm
thì trở lại hành Bồ Tát Đạo
Nhập được vô lượng nghĩa sứ định rồi
sự Phật đổi khác
Kinh diễn tả là
mưa hoa mạng đà la
mạng thù sa
đi cúng dường Phật
và tứ chúng
Điều này cho thấy
ý quan trọng rằng
trước khi nói
Kinh Pháp Hoa
phải có hai loại hoa này
có tác dụng
làm tâm đại chúng an tịnh
và vui trong yên lặng
trong thiền định
Học lý này
trước khi thuyết Pháp
phải làm hội trưởng yên tĩnh
hội chúng thanh tịnh
mới có Pháp
Nghĩa là phải có
con người an vui
và giải thoát
hết lòng cầu đạo
mới lãnh hội được Pháp chân thật
Không được như vậy
nói gì cũng thành tà Pháp
Và khi chúng ta
vào vô lượng nghĩa sứ định
thấy hoa mạng đà la
mạng thù sa
như là tâm thanh tịnh
an vui trong thiền định
chúng ta miễn cười được
vì cửa vô lượng nghĩa
hé mở cho chúng ta
thấy tám vạn Bồ Tát
mà Phật đang giáo hóa
Các vị Bồ Tát này
có thể thấy Phật giáo hóa
khắp nơi
tâm tự của họ
trải khắp
trong các cõi nước
được Phật ngợi khen
vì họ đã từng
cứu độ vô số chúng sanh
thoát khỏi khổ não
Mắt Đại Thừa mở
là thấy thế giới
có Phật đang thuyết Pháp
Điển hình như
trí giả thế hội Pháp Hoa
ở núi Linh Thứ chưa tàn
và Ngài bảo
phải chuyển hóa
ngũ ấm thân
thành Pháp thân
Chuyển hóa hoàn toàn
ngũ ấm
thành Pháp thân
thì chân Linh
chúng ta hiện ra
Chúng ta sẽ tham dự
hội Pháp Hoa
của Phật
là loại hình thế giới
trong đó
thể hiện
đức hạnh và trí tuệ
Sau khi đã thâm nhập
thế giới
chỉ có trí tuệ
và đức hạnh
ta nhìn lại
tổng quan cuộc đời
thì thấy hết chúng sanh
trôi lăng
trong sinh tử Luân Hồi
khổ não vô lượng
lại thấy có Phật
tra đời thuyết Pháp
giáo hóa vô số chúng sanh
tuy theo loại hình
mà khai phương tiện
chỉ bậy chân thật
thậm thâm vi diệu
Nói cách khác
Phật xuất hiện
trên thế gian này
làm Thái tử
sĩ Đạt Ta
tu thành Phật
và Ngài nói
tứ thánh đế
thập nhị nhân duyên
là phạm vi con người
hiểu được
và thực tập được
Thấy xa nữa
lại thấy các Bồ Tát
hiện đủ các thân hình
giáo hóa chúng sanh
tới chỗ này
chúng ta mới lý giải được
đạo lực
bất tư nghệ
của đức Phật
Thật vậy
ưu lậu tầng loa ca díp
dùng tất cả chiêu trò
để dụ người tập hợp
Nhưng khi người
theo ông quá đông
cũng làm ông khổ não vô lượng
Điều này dễ hiểu
Trên bước đường tu
chúng ta thấy
một mình cô đơn
Nhưng tập hợp đông
lại không giải quyết được
nhiều vấn đề
phát sinh từ số đông
Thí dụ như tôi đã nói
khi mở học viện này
tất cả mọi người
đều thấy rất nhiều khó khăn
gian khổ
không thể nào giải quyết được
Nhưng đến nay
chúng ta thấy
mọi việc ở trường
đều đã ổn định
hoàn toàn bình yên
Điều này
chúng ta khó suy tính
biết được bằng suy nghĩ thông thường
Vì vậy
những thành tựu vô cùng hoàn hảo
trong việc giáo hóa
độ xanh của đức Phật
nếu hiểu bằng trí phạm phu
thì rất khó lý giải
Nhưng thấy theo Phật
lại hoàn toàn nhẹ nhàng
tự tại
Vì Ngài đã thấy được
bề trái cuộc đời
nên Ngài có cách
giải quyết tương ương tuyệt vời
Điển hình như
5 anh em Kiều Trần Như
3 người thuộc họ cha
2 người thuộc họ mẹ
của đức Phật
Họ sống chung với Phật
mà bất hòa
Nhưng sau khi Phật đắc đạo
Ngài giáo hóa họ
một cách dễ dàng
Tất cả cuộc đời
của mọi người
trong sinh tử Luân hồi
trải qua vô số kiếp
được Phật thấy biết rõ ràng
Nghĩa là
Ngài thấy suy nghĩ
hiểu biết
căng tánh của họ
Cho nên
Ngài giáo hóa họ
đơn giản
Trong ánh quan của Phật
Đại chúng cũng thấy
các Bồ Tát
tùy thuận chúng sanh
hiện tất cả loại hình
để cứu khổ bàn vui
thành tựu lục độ phạm hệ
Thấy như vậy
là thấy thế giới thật báo
của Phật
tức thấy Bồ Tát dự lực
nghĩa là không làm
nhưng thành tựu công đức
Tóm lại
nhận chân sâu sắc lý này
chúng ta nương vào
kinh vô lượng nghĩa
thành tựu giới đức
tuệ giác
và hành Bồ Tát đạo
cứu độ chúng sanh
Từ sở đất này
vào định
thâm nhập
thế giới thật báo
của Phật
Từng bước sẽ khám phá ra
Phật dạy
nhiều cách nhập định
Nhưng vô lượng nghĩa
xứ định
là cao nhất
giúp hành giả
quan sát các Pháp
và sự diễn biến
của môn Pháp
một cách đúng đắn hoàn toàn
và trở lại cuộc đời này
hành đạo
