Cuốn sách "Câu Chuyện của Adam và Eva" của Chan Thomas, bị CIA cấm 50 năm, mô tả các lần dịch chuyển cực trên Trái Đất dẫn đến đại hồng thủy và sự sụp đổ của nhiều nền văn minh. Nhà địa chất J Harlen Bretz đã khám phá cao nguyên Columbia với địa hình lạ, gồm thác nước khô, hẻm núi khô, và đá bazan lộ thiên, mà ông cho là do đại hồng thủy. Dù bị giới khoa học bác bỏ ý tưởng, Bretz kiên trì chứng minh, và đến 1979, ông được công nhận với huy chương Penrose. Cấu trúc Richat ở Sahara, Nan Madol ở Micronesia, và di tích Yonaguni Nhật Bản được cho là tàn tích của đại hồng thủy và các nền văn minh cổ. Lục địa Mu là siêu lục địa thần thoại ở Thái Bình Dương, nơi từng tồn tại nền văn minh tiên tiến nhưng bị hủy diệt bởi thiên tai. Các di tích ở đảo Phục Sinh, Micronesia, và Mexico, cùng truyền thuyết địa phương, gợi ý về sự hiện diện của lục địa Mu và ảnh hưởng lan rộng của nền văn minh này. Chan Thomas tin rằng Trái Đất sẽ trải qua lần dịch chuyển cực tiếp theo trong khoảng 7-200 năm, gây hỗn loạn toàn cầu. Hiện tượng đảo cực xảy ra khi Trái Đất đi vào "vùng không từ", làm từ trường suy yếu và vỏ Trái Đất trượt trên lớp nóng chảy bên dưới. Dữ liệu GPS cho thấy cực Bắc đang trôi nhanh hơn và từ trường Trái Đất suy yếu, củng cố cảnh báo về sự đảo cực sắp xảy ra. Những tiên tri và hiện tượng liên quan dự báo rằng ngày tận thế có thể xảy ra, nhưng cũng hứa hẹn sự can thiệp từ các "sinh mệnh cao cấp".
Trong video hôm nay, chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu về cuốn sách của chàng Thomas có tên Câu chuyện của Adam và Eva, cuốn sách bị CIA cấm trong hơn 50 năm.
Thomas cho rằng trái đất đã từng trải qua nhiều lần dịch chuyển cực, dẫn đến những trận đại hồng thủy và nhiều nền văn minh bị hủy diệt. Vậy ông ấy đã thấy những bằng chứng nào để thuyết phục mọi người?
Nhiều năm trước, nhà điểm chất học người Mỹ J. Harlan Press đã bị cuốn hút bởi những địa hình đặc biệt tại khu vực này và cuối cùng có cơ hội khảo sát thực hiện.
Trên cao nguyên này có hàng trăm thác nước khô với quy mô gấp 5 đến 10 lần thác nước Niagara.
Ngoài ra, nơi đây còn có các hẻm núi khô với dấu tích của những dòng sông cổ, lòng sông gột ẻ.
Những mảnh đá Ba Gian lớn bị lộ diệt cùng các tảng đá hoa cương khổng lồ nằm rải rác khắp nơi.
Tất cả những điều này dường như không phải đặc điểm thông thường của một cao nguyên.
Sau nửa năm nghiên cứu, Press đã nảy ra một ý tưởng táo bạo.
Năm 1923, ông công bố một loạt luận văn cho rằng một trận đại hồng thủy đột ngột và thảm khốc chính là nguyên nhân tạo nên những địa hình kỳ lạ này.
Năm 1927, Press thậm chí đã tái hiện hiện trường trận đại hồng thủy để trình bay với các nhà địa chất uy tín của Mỹ.
Tuy nhiên, các chuyên gia địa chất đặt câu hỏi,
Vậy, nước từ đâu ra?
Press không thể trả lời được.
Chính vì thế, ý tưởng của ông bị bác bỏ và giới khoa học đồng loạt công kích gọi đây là một giả thuyết tàn nhẫn là sự xúc phạm khoa học.
Thậm chí ám chỉ ông cố gắng chứng minh những câu chuyện thần thoại như con tàu noa, coi đó là sự thuộc lùi của khoa học.
Đọc đến đây thật khiến người ta thở dài.
Thật đáng tiếc là lúc đó Trang Thomas mới 7 tuổi, nếu không lý thuyết của ông có lẽ đã giải thích được nguồn gốc của trận đại hồng thủy.
Và Press có thể đã không bị xem là kẻ dị dáo trong giới khoa học, chịu áp bức, gạt bỏ và chế diễu khắp nơi.
Tuy nhiên, Press là người rất kiên cường.
Suốt hàng chục năm, ông đấu tranh để bảo vệ sự tồn tại của trận đại hồng thủy.
Dưới áp lực của dư luận, ông cũng phải nhượng bộ ở một mức độ nhất định, chuyển từ ý tưởng về một trận đại hồng thủy duy nhất sang 7 trận lũ lột liên tiếp.
Ông cho rằng, chính 7 trận lũ lột này đã tạo ra địa hình đặc biệt của cao nguyên Columbia.
Về sau, nhờ sự phát triển của công nghệ hàng không và những nhượng bộ của Press, giới khoa học cuối cùng đã chấp nhận giả thuyết đại hồng thủy của ông.
Năm 1979, Hiệp hội Điện chất trao tặng Press giải thưởng danh giá nhất huy chương Penrose.
Những địa hình kỳ lạ được hình thành bởi đại hồng thủy như vậy không chỉ xuất hiện ở cao nguyên Columbia.
Ví dụ, tại Châu Phi, người ta phát hiện một cấu trúc điện lý đặc biệt gọi là cấu trúc Richard hay còn gọi là con mắt Sahara.
Các nhà nghiên cứu tìm thấy những ận sóng khổng lồ gần đó, trông giống như những ngọn đồi nhập nhô cao khoảng 15 mét, được gọi là dấu vân tay của đại hồng thủy.
Điều này cho thấy rằng trong thời cổ đại, khu vực xung quanh con mắt Sahara có thể bị một trận đại hồng thủy khổng lồ nhấn chìm, biến thành biển cả.
Sau khi nước rút, nơi này trở thành sa mạc khô cằn.
Hiện nay, ý tưởng rằng trái đất từng trải qua các trận đại hồng thủy lớn đã dần trở thành nhận thức chung.
Nhưng liệu trái đất có từng tồn tại một nền văn minh cao cấp trong quá khứ hay không?
Vào thế kỷ 19, nhà nghiên cứu cổ vật và nhà thám hiểm khảo cổ người Mỹ gốc Anh Le Blanchard,
sau khi nghiên cứu sâu về các tài liệu cổ của nền văn minh Maya, đã phát hiện ra rằng từng tồn tại một siêu lục địa ở Thái Bình Dương.
Siêu lục địa này kéo dài từ Tahiti ở phía Nam đến Hawaii ở phía Bắc, từ đảo Phục Sinh ở phía Đông đến quần đảo Mariana ở phía Tây.
Với chiều dài khoảng 8.000 km và chiều rộng khoảng 5.000 km, diện tích tương đồng với diện tích của Bắc Mỹ và Nam Mỹ, Le Blanchard đã gọi nó là lục địa mù.
Đến cuối thế kỷ 19, đại tá người Anh James Chalkwood trong thời gian đóng quân tại Ấn Độ đã tình cờ nhận được một phiến đá nắc ca từ một trụ trì tại ngôi đền Hindu cổ.
Loại chữ viết trên đá này rất khó hiểu, nhưng dưới sự hướng dẫn của một vị cao tăng Ấn Độ,
ông đã giải mã được lịch sử hương thịnh và sự suy tàn của một nền văn minh vĩ đại, xác nhận những giả thuyết của Le Blanchard.
Theo các tài liệu của người Maya và biên đà Ấn Độ, lục địa mù từng sở hữu một nền văn minh rực rỡ.
Vua của đế quốc mù được gọi là Ra Mù, trong đó Ra có nghĩa là mặt trời, còn Mù nghĩa là mẹ.
Vì vậy, đế quốc này được gọi là đế quốc của mẹ mặt trời.
Ngành xây dựng và hàng hải của đế quốc mù rất phát triển.
Thủ đô và các thành phố trên lục địa mù đều có những đại lộ lát đá và cành đào ngay ngắn.
Tường thành được trang trí bằng vàng lập lánh và cư dân sống một cuộc sống xa hòa.
Tuy nhiên, cuối cùng lục địa mù đã biến mất do núi lửa siêu khổng lồ phun trào động đất và các hoạt động địa chất.
Liệu có thể tìm thấy di tích của lục địa mù hay không?
Ở dưới đáy biển gần hòn đảo Yonagumi của Nhật Bản có một cấu trúc kim tử tháp được gọi là di tích Yonagumi.
Nhà địa chất biển Nhật Bản Masaaki Kimura cho rằng đây là một công trình nhân tạo đã chìm xuống biển.
Và ông đề xuất rằng kim tử tháp dưới đáy biển này có thể thuộc về lục địa mù trong thuần thoảng.
Ngoài ra, Nanmado ở Micronesia được cho là đã từng nằm ở phía nam của lục địa mù.
Tại đây có 98 hòn đảo nhân tạo được xây dựng bằng những cột đá ba gian khổng lồ.
Cho đến nay, chưa ai có thể giải thích được ai đã xây những công trình này và họ đã làm như thế nào.
Gần đây, các nhà khoa học nghiên cứu và sử dụng công nghệ quét quang học Glaser đã phát hiện rằng
Nanmado từng sở hữu một hệ thống tưới tiêu nước nhân tạo cung cấp nước ngọt cho cư dân trong khu vực,
cho thấy đây từng là một xã hội rất phát triển.
Ở phía đông của lục địa mù, trên đảo Phục Sinh, các nhà khảo cổ cũng có những phát hiện đáng kinh ngạc.
Hầu hết mọi người đều biết về những bức tượng đá mòi khổng lồ trên đảo.
Những cuộc khai quật mới đây cho thấy rằng, những bức tượng mòi lớn hơn chúng ta tưởng tượng rất nhiều,
với phần thân dưới được trôn sâu dưới lòng đất.
Điều này đặt ra câu hỏi mới, tại sao lại thiết kế như vậy?
Để tạo ra hiện trạng này, những người xây dựng phải đào một hố sâu,
đặt tàng đá cao 9 mét nặng 80 tấn vào đó,
sau đó chạm khắc và lấp đất để trôn nửa thân dưới.
Tại sao họ phải làm vậy?
Nếu biết trước sẽ trôn nửa thân dưới, tại sao lại cẩn thận chạm khắc?
Có phải để gây bất ngờ khi được khai quật trong tương lai chăng?
Nếu không phải ý đồ của người xây dựng, thì có một khả năng khác.
Những bức tượng ban đầu được đặt trên mặt đất, nhưng theo thời gian dài,
chúng bị trôn bùi bởi đất đá tự nhiên.
Trên hòn đảo Phục Sinh từng có tới 12.000 cư dân sinh sống.
Những người này đến từ đâu?
Các nhà nhân chủng học chính thống cho rằng,
họ có thể là người Polynesia đi trên những chiếc thuyền độc mộc vượt biển,
may mắn tìm thấy hòn đảo.
Nhưng nếu lục địa mù tồn tại, điều này sẽ đơn giản hơn nhiều,
họ chỉ cần đi bộ tới.
Ngoài ra, cổng đá khổng lồ trên hòn đảo Tonkatapu,
những đồng tiền đá lớn trên đảo Yap,
các bàn thờ giống kim tự tháp Maya ở quần đảo Tumutu, v.v.
Những di tích trên các hòn đảo xa xôi này lại có những điểm tương đồng rõ rệt.
Hơn nữa, mỗi đảo đều lưu truyền truyền thuyết về một hòn đảo lớn đã từng chìm xuống.
Tại sao lại như vậy?
Nếu tất cả chúng từng thuộc về cùng một hòn đảo lớn,
thì điều này có thể dễ dàng giải thích.
Theo các tài liệu cổ,
Đế quốc Mù trong thời kỳ Hưng Thịnh
đã gửi 3 đoàn thám hiểm tới các nơi trên thế giới để lập thuộc địa.
Ảnh hưởng của họ trái dài từ châu Âu, châu Á, châu Phi đến châu Mỹ.
Điều này có thể giải thích sự tương đồng giữa tiếng Polynesia và tiếng Hy Lạp,
hoặc sự thờ cúng thần mặt trời Ra của cư dân đảo Phục Dinh,
giống với thần Ra trong văn minh Ai Cập cổ đại.
Ngoài ra, các học giả cũng phát hiện sự tương đồng giữa các vị thần
trong các nền văn minh cổ đại như Hy Lạp, Ai Cập và Ấn Độ.
Ở châu Mỹ, nhiều di tích kỳ chép về sự tồn tại của lục địa Mù,
ví dụ tại một thị trấn nhỏ cách thành phố Mexico 8 km về phía Bắc.
Các nhà khảo cổ đã khai quạt được hơn 2.600 bia đá.
Một bia đá mang số hiệu 684 khắc.
Ngôi đền này được xây dựng tại vùng biển khai phá của lục địa Mù,
dưới sự chỉ dẫn của Ra Mù, vị quân chủ vĩ đại của chúng ta,
nhằm bảo vệ xứ dạ của đế chế mặt trời phương Tây.
Tại bán đảo Yucatan ở Mexico,
một ngôi đền bị phá hủy ở Yuma, ghi dòng chữ
tưởng nhớ nơi chúng ta đến lục địa Mù phương Tây.
Trong khi đó, kim tự tháp nổi tiếng ở Teotihuacan,
phía tây nam thành phố Mexico.
Có một bia đá ghi chắc rằng kim tự tháp này được xây dựng
để tưởng nhớ lục địa Mù phương Tây đã biến mất.
Nhà nghiên cứu Thomas đã đưa ra một số bằng chứng mạnh mẽ
để ủng hộ thuyết thảm họa trụ kỳ,
đồng thời giải thích lý do dẫn đến các trụ kỳ thảm họa
và dự đoán thời điểm dịch chuyển cực tiếp theo.
Thomas cho biết,
giống như những quỹ đạo ellipse của trái đất
trong chuyển động quanh mặt trời.
Rất nhiều quỹ đạo trong vũ trụ cũng là hình ellipse.
Chỉ có điều trung tâm rất huyền bí,
rất khó để xác định chính xác.
Trong chuyển động lớn của vũ trụ,
trái đất sẽ đi qua các vùng không có từ trường,
gọi là vùng không từ.
Vỏ trái đất rắn
và lớp vỏ nóng chảy lỏng
nhờ tác động của từ trường vũ trụ
mà giữ được trạng thái ổn định.
Nếu trái đất đi vào vùng không từ,
từ trường của trái đất sẽ bị hỗn loạn,
lớp vỏ nóng chảy sẽ trở thành dầu bôi trơn
và vỏ trái đất sẽ có thể trượt trên đó.
Điều này không chỉ đơn giản là lớp băng bắc cực
không phân bố đều trên lục địa trái đất,
mà còn cung cấp một lực lượng khởi động
dẫn đến sự dịch chuyển cực.
Do quỹ đạo hình ellipse huyền bí,
chu kỳ của hiện tượng dịch chuyển cực
của trái đất không ổn định.
Và do đó, thời gian tồn tại
của các nền văn minh cao cấp trên trái đất
cũng có sự khác biệt.
Ví dụ, theo một số nghiên cứu
về địa chất và cổ sinh vật học,
Thomas đã chỉ ra rằng
cực Bắc của nền văn minh trước
nằm ở vùng Sudan hiện nay
và kéo dài khoảng 4.500 năm.
Trước đó, cực Bắc nằm ở khu vực
Vịnh Houston của Canada,
nơi nền văn minh tồn tại khoảng 7.000 năm.
Thomas đã ước tính rằng
lần dịch chuyển cực tiếp theo
tức là sự kết thúc của nền văn minh
hiện tại của chúng ta sẽ xảy ra
trong khoảng từ 7 đến 200 năm tới,
tức là trong khoảng
năm 2000 đến năm 2193.
Mặc dù lý thuyết của Thomas
không được cộng đồng khoa học
chính thống công nhận,
nhưng họ cũng thừa nhận rằng
sự đảo ngược cực trái đất thực sự
đã xảy ra hàng trăm lần,
trung bình khoảng 300.000 năm
sẽ có một lần đảo ngược
dài hơn nhiều so với chú kỳ
mà Thomas đưa ra.
Liệu chúng ta có thể thở vào nhẹ nhõm không?
Đừng vội, bởi vì
theo các nhà khoa học chính thống
chúng ta đã cách lần dịch chuyển cực cuối cùng
800.000 năm,
tức là đã vượt xa chú kỳ trung bình.
Điều này có nghĩa là
dù theo phép tính của Thomas hay
theo lý thuyết của khoa học chính thống,
chúng ta đang ở giai đoạn cuối của sự dịch chuyển cực,
nghiên cứu cho thấy
vào đầu thập niên 1990,
cực Bắc trôi giặt khoảng
16 km mỗi năm,
nhưng tốc độ này vẫn đang gia tăng.
Thực tế, các bản cập nhật
GPS tịnh kỳ cũng đã tính đến
điều này, với tần suất cập nhật
trước đây là mỗi năm một lần
và bây giờ là mỗi 6 tháng một lần.
Hiện nay, cực điểm trôi giặt
mỗi năm là 64 km
và từ trường của trái đất đang
suy yếu nhanh chóng.
Đây có thể là những dấu hiệu của sự đảo ngược
cực sắp xảy ra.
Khi gần đến thời điểm đảo ngược cực,
từ trường của trái đất sẽ trở nên hỗn loạn.
Các công nghệ phụ thuộc
vào từ trường của trái đất như vệ tinh,
GPS, máy bay sẽ gặp sự cố.
Đồng thời, từ trường
của trái đất sẽ suy yếu nghiêm trọng.
Điều này khiến chúng ta dễ bị ảnh hưởng
bởi các hoạt động của mặt trời,
chẳng hạn như gió, bão, mặt trời,
phóng vật chất từ vỏ mặt trời, v.v.
Trong tình huống này,
nếu vệ tinh không được
bảo vệ khỏi bức xạ,
chúng sẽ bị thiêu cháy.
Và hoạt động của mặt trời đủ mạnh
có thể dẫn đến mất điện toàn cầu
trong vài ngày, vài tuần,
thậm chí ở một số nơi
có thể kéo dài vài tháng.
Thực tế, những mô tả về sự đảo ngược cực này
khiến người ta không khỏi nhớ đến
những tiên tri gần đây về tương lai.
Các nhà tiên tri nổi tiếng gần đây
đều dự đoán sẽ có một cuộc mất điện
với quy mô lớn.
Thế giới sẽ rơi vào vòng tối.
Điều gì có thể gây ra
một cuộc mất điện toàn cầu được
có thể là do từ trường của trái đất yếu đi chăng.
Ngoài ra, nhà ngoại cáo
người Anh Parker,
Brandon Bich hoặc khoa sĩ Maga
Nhật Bản, Ryo Tatsuki
cũng đã dự báo sẽ có
những trận động đất lớn kèm theo
những cơn sóng thần kinh hoàng.
Điều này dường như cũng phù hợp với hiện tượng
mà Thomas mô tả khi có sự dịch chuyển cực.
Tuy nhiên, liệu đây
có phải là ngày tận thế không?
Thomas, người từng tuyên bố
đã tiếp xúc với nền văn minh ngoài trái đất
cho biết vào thời điểm đó
sẽ có những sinh mệnh cao cấp.
Những vị thần mà mọi người tin
sẽ đến để đưa những người có nhận thức
và mức độ đạo đức đạt chuẩn rời đi.
Trong khi đó, Brandon Bich lại cho rằng
đứng sang tạo, sáng thế chủ
sẽ ráng trần.
Những người thật sự tin vào thần
sẽ không phải lo sợ hay lo lắng.
Vậy các bạn có suy nghĩ như thế nào
về những lời của Thomas trong cuốn sách này?
Hãy để lại ý kiến của mình
dưới phần bình luận để chúng tôi được biết.
Xin chào và hẹn gặp lại.