Gia Long - Nguyễn Ánh trả thù tàn khốc nhà Tây Sơn: Vì sao quật "mồ" vua Quang Trung? | VTC Now

Xưa và Nay
1.3K người theo dõi
#vtcnow #vtc #livestream
#NguyenAnh # NGUYỄNÁNH #Biểnđông
#TâySơn #Khoinghiatayson
#GiaLong #LuậtGiaLong #NhàNguyễn
#Su8 #Sử8 #Su8VietNam #XuavaNay
VTC Now | Gắn với triều Nguyễn là Nguyễn Ánh - Gia Long, người kế tục sự nghiệp các Chúa Nguyễn tiền bối - người lập nên vương triều nhà Nguyễn - vương triều cuối cùng của nền đế chế phong kiến trung ương tập quyền Việt Nam. Tuy nhiên, gắn với công, cuộc đời của ông cũng nhận về nhiều tranh cãi.
Triều Nguyễn tồn tại gần 150 năm kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế với niệm hiệu Gia Long năm 1802
đã tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có.
Trải qua hơn một thế kỷ tồn tại, vinh hoa và tuổi nhục, Triều Đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt.
Gắn với Triều Nguyễn là Nguyễn Ánh Gia Long, người kế tục sự nghiệp các chúa Nguyễn tiền bối,
người lập nên vương triều nhà Nguyễn, vương triều cuối cùng của nền đế chế phong khiến trung ương tập quyền Việt Nam.
Gia Long tên thật là Nguyễn Phúc Ánh, Nguyễn Ánh là con trai thứ ba của Hoàng tử Nguyễn Phúc Luân với bà Nguyễn Thị Hoàng
và là cháu nội của chúa Nguyễn Phúc Khoát, vị chúa của Đảng trong.
Đất nước bị phân làm hai từ hơn 100 năm trước thành hai xứ là Đảng ngoài của vua Lê Chúa Trịnh
và Đảng trong của các chúa Nguyễn, chia cắt bởi lũy thầy ở Quảng Bình.
Một công trình chiến lược xuất sắc của Đào Duy Tử đã góp phần giúp lực lượng non trẻ của Nguyễn Hoàng và con cháu
Trong khi Đảng ngoài vẫn mang vẻ của những triều đại cũ và ảnh hưởng của phương Bắc, thì Đảng trong là một cơn gió mới.
Đất đai màu mỡ, sản vật trù phú cùng chính sách khai khẩn và mở mang mờ cõi của chúa Nguyễn
đã biến vùng đất này thành một quốc gia hương thịnh.
Sự mở mang trong thương nghiệp cũng là một nét mới so với tinh thần bế quan tỏa cảng của Đảng ngoài.
Năm 1765, Võ Vương qua đời. Trương Phúc Loan, chuyên quyền, tống giám cha của Nguyễn Ánh,
người nhẽ ra là vua kế vị, lập Nguyễn Phúc Thuần, 12 tuổi để dễ bề thao túng, lấy hiệu là Duệ Tông.
Đời sống nhân dân cực khổ, nhà Tây Sơn nhân thời cơ này đã giấy binh lấy cờ phò Hoàng Tôn Dương dành lại ngôi từ Duệ Tông.
Về phần Nguyễn Ánh, năm 1777, khi mới 15 tuổi, ông đã phải buôn tầu gian nan
cùng với gia tộc chúa Nguyễn bắt đầu cuộc chiến 25 năm với nhà Tây Sơn để khôi phục ngôi vị.
Cho đến nay có khá nhiều quan điểm trái ngược về Nguyễn Ánh.
Nhiều người cho rằng ông bắt tay với Siêm La, Pháp và nhà Thanh để chống lại Tây Sơn.
Việc cầu viện ngoại bang nhằm khôi phục vương quyền đã khiến Nguyễn Ánh bị chỉ trích rất nhiều.
Nói về cơ hội giúp Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn,
đó là sự mâu thuẫn trong nội bộ ba nghem Tây Sơn khi chia nhau chiếm giữ ba vùng.
Nguyễn Lữ giữ Thành gia định, Nguyễn Nhạc lên ngôi Thái Đức Hoàng đế năm 1778 đóng quân ở Thành Quy Nhơn.
Nguyễn Huệ với tinh thần hứng hực của tuổi trẻ và sau khi dễ dàng chiếm được Thành Phú Xuân từ tay quân trịnh,
bỏ ngoài tai lời của vua Anh mà tiến quân ra Bắc Hà, đánh tan tản dư quân trịnh, khôi phục lại ngôi cho nhà Lê.
Sau lại tính đưa quân ra Bắc Hà một lần nữa dẫn tới sự kiện Lê Chiêu Thống phải cầu viện nhà Thanh và bị Nguyễn Huệ đánh cho tan tác.
Còn Nguyễn Ánh khi đó, ông phải bung ba, trốn trui, nủi ở những vùng đông băng ở Cà Mau.
Sau đó nhờ sự ủng hộ của cựu thần nhà Nguyễn, ông tập hợp quân đội, kéo về chiếm lại gia định.
Nguyễn Ánh mau chóng cải tổ thành này cho lập một sổ đất, định thuế, biến vùng gia định thành một kinh thành trù phú và cũng là nơi để Nguyễn Ánh luyện quân sĩ.
Năm 1792, vụ Quang Trung mất, nội bộ nhà Tây Sơn ngày càng suy yếu, lột đục.
Lợi dụng cơ hội đó, Nguyễn Ánh bằng tài thao lược của một vị tướng trên lương ngựa đã đánh bại nhà Tây Sơn.
Năm 1802, ông chính thức lên ngôi vua, lấy nhân hiệu Gia Long, mở ra một triều đại quân chủ mới Triều Nguyễn.
Sài Gòn ra định trở thành thủ đô trong thanh địa của Triều Đại Ông.
Luận về công, Nguyễn Ánh được cho là đã làm được điều mà chưa tiền nhân nào làm được,
đó là thống nhất hai mảnh đất của đất nước làm một sau 175 năm phân cách từ năm 1627 tới năm 1802.
Giải đất hình chữ S của nước ta lúc này được hình thành, kéo dài từ Lũng Cú đến Núi Cà Mau,
với diện tích lãnh thổ rộng lớn nhất của đất nước từ trước tới giờ.
Những cuộc nội chiến điên miên này đã được chấm dứt.
Gần đây, Việt Nam luôn nóng bỏng về chủ quyền của Hoàng Sa, Triều Sa.
Ngoài công khai phá của chú Nguyễn, thì Gia Long chính là người đã đạt chủ quyền chính thức ở hai quần đảo này.
Trong Đại Nam Thực Lục có ghi chép lại, vào năm Gia Long thứ 15 năm 1816,
nhà vua lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét bao đạt thủy trình.
Việc ông cho cắm cỡ ở đây cũng được những nhà ghi chép phương Tây xác nhận như James Lewis,
các chúa Nguyễn trước đó đã đưa quân ra đây, tuy nhiên chỉ theo hình thức đất này nghiễm nhiên là của mình, là quan niệm nho giáo.
Tuy nhiên, Gia Long với sự tiếp cận ý thức hệ phương Tây đã có góc nhìn toàn diện và xa hơn với thế cục.
Việc ông cho kéo cỡ ở đây mang tính chất hành xử chủ quyền theo thông lệ quốc tế
và không bị một cuộc tranh chấp nào với phương Tây hay Đại Thành.
Trong thời hiện đại, chính sự khẳng định chủ quyền này là bằng chứng rõ ràng nhất để người Việt Nam có thể dựa vào
mà khẳng định Trương Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam từ 200 năm trước, dưới thời vua Gia Long.
Cái tên Việt Nam cũng có được từ thời vua Gia Long,
tuy nhiên công lao của Nguyễn Ánh không chỉ đơn giản được nhắc đến, do đó là cái tên nước hiện hành.
Năm 1054, vua Lý Thánh Tông đã đổi tên nước thành Đại Việt,
tuy nhiên triều đình Trung Hoa vẫn tiếp tục gọi và phong vương cho hoàng đế nước ta với những tên gọi đầy tính miệt thị
như Giao Chỉ, Cuộn Vương rồi sau này là An Nam Quốc Vương.
Cái tên gọi An Nam đầy thượng đẳng và vẫn luôn được họ gọi để coi khinh nước ta,
cho đến thời Gia Long, vua Gia Long sai sứ sang yêu cầu bỏ tên gọi An Nam
mà muốn được xác nhận dưới tên mới là Nam Việt.
Phía nhà Thanh phải đồng ý, tuy nhiên lấy lý do vùng Nam Việt ngày xưa bao gồm cả vùng lưỡng quảng rộng lớn,
tránh cơ sự để gây hấn của nhà Nguyễn, bèn xuống chiếu đổi tên thành Việt Nam nhằm tránh nhầm lẫn.
Như vậy, từ thời Gia Long, quốc hiệu của nước ta không chỉ đổi trong nước,
mà đối với một nước lớn luôn coi khinh thì giờ đây đã chính thức mang tên Việt Nam.
Đó là một sự thay đổi thể hiện được vị thế quốc gia và tinh thần độc lập rất cao của triều đình nhà Nguyễn.
Tuy nhiên, cùng với công lao, Nguyễn Ánh cũng bị gán cho những tội mà nhiều người cho rằng
công lao của ông không thể xóa đi vết nhau được.
Thường được biết đến gồm trả thù tàn ác nhà Tây Sơn,
cõng rắn cắn gả nhà và là nguyên nhân khiến thực dân Pháp xâm lược Việt Nam sau này.
Tội trạng thứ nhất mà Nguyễn Ánh mang tiếng nặng nề nhất đó là việc cõng 5 bạn quân Xiêm sang cắn gả nhà
và bị quân Tây Sơn dẫn đầu là Quang Trung, Nguyễn Huệ đánh bại Ê Chề ở trận Rạch Gâm, Xoài Mút,
mà giấu ấn lãnh đạo và mưu lừa của Quang Trung đã đi vào lịch sử,
thành một trong hai chiến công lớn nhất của nhà Tây Sơn.
Một sự kiện đáng trách của Gia Long là sau khi người dẫn đầu đại quân của Xiêm là Châu Vân Tiếp,
tùy tướng của Nguyễn Ánh chết trận khiến lính Xiêm làm loạn mà cướp bóc, bắt giết dân lành, làm lòng dân oán hận.
Đây là sai lầm không thể chối cãi và Nguyễn Ánh ngay lập tức nhận ra điều này.
Sau khi vua Xiêm là đề nghị đưa quân giúp lần thứ hai thì ông từ chối, bỏ trốn về gia định, tự mình xây dựng binh lính.
Tội trạng thứ hai là khi người ta cho rằng việc người Pháp đô hộ Việt Nam là do mối quan hệ giữa vua Gia Long và người Pháp.
Tuy nhiên vua Gia Long không thực hiện bất kỳ điều nào trong Hiệp ước Versailles với người Pháp.
Mối quan hệ duy nhất ông có với người Pháp là với giám mục Pinot, Derby Heights, Ba Đá Lộc, quân sư thân cận nhất của Gia Long
và là người đem về gia định một đám lính đánh thuê cùng sáu tàu chiến cũ kỹ đem từ Ấn Độ về,
hoàn toàn không có một mối quan hệ nào với triều đình Louis.
Đáng tiếc sau khi nắm toàn bộ quyền binh trong tay, ông lại thực hiện những cuộc báo thù man rợ ít có trong lịch sử đối với hoàng đế,
lò thù vén quyền binh và bổng lộc cho cá nhân và dòng tộc.
Ông không biết phát huy những quy luật phát triển mới của thời đại lại đưa đất nước trở lại con đường mòn cố hiểu lạc hậu của lịch sử.
Cũng chính vì vậy cả dân tộc không thoát khỏi mũi súng xâm lược của đế quốc Pháp sau khi ông tạ thế nửa thế kỷ.
Người Pháp giai đoạn sau này đi xâm lược với mục đích khai pha thế giới và tranh giành sự ảnh hưởng là một biến chuyển mang tính thời đại
mà những quốc gia nhỏ bé nếu không kịp biến chuyển một cách tinh tế và hợp thời thì rồi cũng trở thành con dối trong tay đại quốc.
Pháp đổ hộ vào năm 1858, tức là 38 năm sau ngày vua Gia Long mất.
Sau khi lên ngôi, ông tưởng thưởng cực hậu cho những người phương Tây ngày xưa từng than chiến.
Tuy nhiên khi triều đình Louis XVII cử người sang yêu cầu thực thi hiệp ước,
Nguyễn Ánh đã từ chối và mời về vì lý do không thực hiện bất cứ điều kiện nào.
Tội thứ ba của Nguyễn Ánh bị người đời chỉ trích là sự trả thù tan khốc đối với nhà Tây Sơn.
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép, Quang Toản và những người con khác của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là Quang Duy, Quang Thiệu và Quang Bản
bị 5 voi xé xác, đầu bị bỏ vào vò và giam trong ngục.
Quang Tử, Quang Điện, Nguyễn Văn Trị rồi các con của Nguyễn Nhạc gồm Thanh, Hán, Dũng bị giết ngay sau khi bị bắt.
Chưa kể 31 người có quan hệ huyết thống với Nguyễn Huệ đều bị xử làng chỉ.
Lăng mộ nhà Tây Sơn như các lăng của vua Thái Đức và vua Quang Trung bị cuột lên, hải cốt bị giã nát quang đi.
Đầu ba vua Tây Sơn Thái Đức, Quang Trung và Cảnh Thịnh và bài vị vợ chồng Nguyễn Huệ thì bị giam trong ngục tối.
Nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái bị voi dày, chồng bà là Trần Quang Diệu do trước đó đã có lần tỏ ra khoan thứ cho con Nguyễn
nên xin được Nguyễn Ánh tha cho mẹ già 80 tuổi trước khi bị xử chết.
Các quan văn khác của Tây Sơn như Ngô Thì Nhậm và Phan Uy X ra hàng thì cho đánh đòn và được tha về.
Riêng Ngô Thì Nhậm thì bị đặng chân thường trước có thủ riêng nên cho người đánh chết.
Đúng hay sai từ những việc làm của Nguyễn Ánh thì người đương thời và cả hậu thế nhiều đời này đều đã biết và có nhìn nhận khác nhau.
Song điều mà cả người xưa cũng như ngày nay đều không thể chấp nhận, không thể không phê phán Nguyễn Ánh với những hành động rước voi về giày bà Tổ.
Chỉ vì quyền lợi của cá nhân, gia đình và dòng tộc mà Nguyễn Ánh đã cố tình quên đi cuộc sống lầm than của chăm họ và nỗi nhục mất nước về sau.
Dù vậy, Nguyễn Ánh Gia Long cũng được thừa nhận là một vị vua có tầm nhìn, với những chính sách ngoại giao khôn khéo và mềm xẻo,
lại có ý thức lớn về chủ quyền và độc lập dân tộc. Cái công thống nhất của ông lớn là như vậy.
