TRIỀU TIÊN TRẢI QUA NẠN ĐÓI KHỦNG KHIẾP RA SAO

Xưa và Nay
1.3K người theo dõi
#BLVHảiThanh #History #NạnĐói #Famine
#TRIỀUTIÊN
TRIỀU TIÊN TRẢI QUA NẠN ĐÓI KHỦNG KHIẾP RA SAO?
Trước hết thì ở Triều Tiên không ai gọi là nạn đói cả mà gọi giai đoạn này là hành quân gian khổ.
Đây là một cách nói đầy tính ẩn dụ của truyền thông Cộng Hòa Dân Chủ Nhân dân Triều Tiên
và nó gợi nhớ về thời của Chủ tịch Kim Nhật Thành
khi ông còn là một chỉ huy của một nhóm du kích nhỏ và chống lại Phát Xếp Nhật.
Hành quân gian khổ được miêu tả là một giai đoạn mà ông Kim Nhật Thành đã cùng với những đồng chí,
những chiến hữu của mình chống lại hàng ngàn kẻ thù ở cái lạnh lên đến âm 20 độ C,
dũng cảm vượt qua một trận bão tuyết lớn và đói khát nhưng mà lá cờ đỏ vẫn tung bày trên hàng U.
Một thuật ngữ phải nói rằng rất hay và rất khéo của truyền thông Triều Tiên
và thế giới thì thường viết là nạn đói Triều Tiên.
Hãy quay ngược về quá khứ để hiểu bối cảnh lúc bấy giờ.
Vào những năm 1970-1980 thì Triều Tiên là một quốc gia phát triển ở trong khu vực
và phải nói rằng so với Việt Nam thì phát triển hơn nhiều.
Triều Tiên là một quốc gia tương đối thịnh vượng nhờ vào sự hỗ trợ từ Liên Xô
và họ cũng tự hỗ trợ với khẩu hiệu tự lực, tự cường.
Họ tự tin rằng mình chẳng cần ai giúp đỡ vẫn có thể xây dựng được một đất nước mạnh mẽ,
tự sản xuất lương thực và tự cung cấp.
Và có lẽ lúc bấy giờ không một người Triều Tiên nghĩ rằng
đến một ngày nào đó họ sẽ phải trải qua một giai đoạn khó khăn.
Nó nằm ở sự thiếu linh hoạt ở trong chính sách.
Triều Tiên có một chính sách gọi là chính sách tiên quân tức là tất cả đều ưu tiên cho quân sự
và nông nghiệp thì lại không được chú trọng quá nhiều.
Phụ thuộc rất lớn vào sự viện trợ của Liên Xô và các nước Đông Âu,
tức là khối sọ chủ nghĩa nhưng phát triển hơn, Triều Tiên lúc bấy giờ vẫn tồn tại và phát triển tốt.
Nhưng đến năm 1991 thì Liên Xô xụp đổ.
Chỉ trong nháy mắt thì Triều Tiên đã mất đi người bạn khổng lồ của mình.
Không còn ai cung cấp phân bón, nhiên liệu, máy móc và nhất là lương thực với giá rẻ nữa.
Nhập khẩu năng lượng của Triều Tiên lập tức đã giảm khoảng 75%.
Nền kinh tế đã đi vào vòng xoáy xuống phía dưới.
Hà hóa xuất khẩu và nhập khẩu đều giảm.
Các mỏ than bị ngập lụt cần điện để vận hành máy bơm
và tình trạng thiếu than làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu điện, thiếu năng lượng.
Nông nghiệp cũng phụ thuộc về hệ thống tươi tiêu vàng điện.
Phân bón nhân tạo và thúc trì dâu cũng bị ảnh hưởng nặng nề sau sự xụp đổ kinh tế.
Trong một thời gian ngắn thì Trung Quốc đã tạm thời lấp đầy khoảng trống do sự xụp đổ của Liên Xô
và hỗ trợ nguồn cung cấp lương thực cho Triều Tiên, một sự trợ giúp rất đáng kể vào thời điểm bấy giờ.
Trước năm 1993, Trung Quốc đã cung cấp cho Triều Tiên khoảng 77% lượng nhập khẩu nhiên liệu
và khoảng 68% lượng nhập khẩu thực phẩm.
Do đó, Triều Tiên đã thay thế sự phụ thuộc vào Liên Xô bằng sự phụ thuộc vào Trung Quốc.
Nhưng đến năm 1993, Trung Quốc cũng phải đối mặt với sự thiếu hụt ngũ cốc
và nhu cầu đối với tiền tệ cứng.
Do đó, Trung Quốc cũng đã cắt giảm mạnh viện trợ cho Triều Tiên.
Và Triều Tiên đã bơ vơ.
Thế là nạn đói đã xảy ra.
Và nạn đói cũng là kết quả của đỉnh điểm một loạt những quyết định sai lầm
của chính phủ Triều Tiên được tích lũy trong nhiều thập kỷ.
Những nỗ lực để theo mô hình kinh tế khép kín đã khiến chính quyền từ bỏ khả năng tham gia
vào tình trường quốc tế và nhập khẩu thực phẩm,
mà thay vào đó là chủ trương thắt lưng buộc bụng như chiến dịch
Nỗ lực tăng xuất khẩu và kiếm ngoại hối thông qua đặc khu kinh tế
như là đặc khu Rasson vào năm 1991 cũng đã không thành công
vì nó nằm ở khu vực rất biệt lập của Triều Tiên
và thiếu nền tảng pháp lý rõ ràng nên các nhà đầu tư nước ngoài cũng e sợ.
Tất cả những khó khăn này, những khó khăn về mặt chính sách
đã khiến cho Triều Tiên thiếu hụt lương thực.
Thêm vào đó, cũng có những nguyên nhân khách quan.
Ví dụ, địa hình của Triều Tiên vốn không thuận lợi để phát triển nông nghiệp.
Chỉ có khoảng 20% khu vực địa hình của Triều Tiên là có đất để trồng trọt,
phần lớn là đồi núi và đất đai thường có xương giá trong 6 tháng
cho phép một vụ cành tác mỗi năm mà thôi.
Có thể nói, đất đai Triều Tiên không phải là đất đai màu vỡ.
Do địa hình như vậy nên nông nghiệp chủ yếu chỉ tập trung
ở một vài tỉnh ven biển phía Tây mà thôi.
Những tỉnh này có mùa mạng sinh trưởng dài hơn,
đất đai bằng phẳng, lượng mưa đáng kể và được tưới tiêu tương đối tốt.
Vận đen cũng tiếp tục ập đến với Triều Tiên.
Đang bị thiếu hụt lương thực rồi thì năm 1995, thiên tai lại làm cho mọi chuyện tồi tệ hơn.
Năm ấy Triều Tiên phải hứng chịu đợt lũ lụt nghiêm trọng, nước ngập tràn ruộng đồng,
phá tan những cánh đồng lúa và ngô mà người Triều Tiên đã cày cuốc cả năm.
Nhà cửa, đường xá, cây cối đều bị nhấn chìm vào trong biển nước.
Lũ trưa qua thì hạn hán lại đến vào năm 1997, khiến mọi khó khăn lại càng bủa về Triều Tiên.
Các cánh đồng không còn một giọt nước để mà tưới tiêu, mùa mang thất bát, đất đai khô cằn,
sản lượng lương thực giảm mạnh, người dân nhiều nơi được miêu tả là phải ăn cỏ, ăn rễ cây để sống qua ngày.
Trong bối cảnh đó thì Triều Tiên cũng không có siêu thị, không có chợ, không có thị trường như các nước khác.
Mọi thứ đều phải dựa vào hệ thống phân phối của nhà nước.
Nhưng khổ nỗi, hệ thống này cũng không thể đáp ứng được.
Giống như một cỗ máy cũ kĩ lại không thể hoạt động hết công suất, nó dần bị quá tải và vỡ trận.
Nhà nước lúc bấy giờ phải ưu tiên lương thực cho quân đội và những người dân sống ở thủ đô Bình Nhưỡng,
nơi sinh sống của tầng lớp tinh hoa và những người có quyền lực.
Người dân ở những vùng nông thôn phải tự xoay sở và nạn đói trở nên trầm trọng hơn.
Nạn đói kéo dài đến nỗi, có những ngôi làng đã trở thành những nơi ám ảnh với những người mất vì chết đói.
Theo các báo cáo từ Liên Hợp Quốc và một số tổ chức khác,
số người chết vì đói và sưu di dưỡng tại Triều Tiên có thể giao động từ 600.000 cho đến 3 triệu người.
Đây là một con số giao động rất rộng.
Một báo cáo của Cục Điều tra Dân số Mỹ thực hiện sau này, mải đến năm 2011 họ mới công bố,
thì ước tính số người chết từ năm 1993 đến năm 2000 do thiếu lương thực là từ 500.000 người cho đến 600.000 người,
trong khi dân số của Triều Tiên lúc bấy giờ là hơn 20 triệu người.
Cũng theo một số thông kê từ các nguồn phương Tây, có tới 62% trẻ em của Triều Tiên bị sưu di dưỡng,
khiến cho chiều cao trung bình của thế hệ này thấp hơn đáng kể so với trẻ em các nước khác.
Thậm chí những người sinh vào thời kỳ đói khát ấy vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề về sức khỏe và phát triển cho đến tận ngày hôm nay.
Cũng cần phải lưu ý rằng, vào thời điểm nạn đói xảy ra ở Triều Tiên vào những năm 1990,
thì Việt Nam chúng ta đã trở thành một nước xuất khẩu gạo.
Đây là một câu chuyện rất đáng chú ý, bởi chỉ khoảng vài thập kỷ trước đó,
Việt Nam cũng từng trải qua một thời kỳ thiếu lương thực nghiêm trọng.
Nhờ đổi mới thì sản lượng gạo của Việt Nam đã tăng đáng kể, từ một nước phải nhập khẩu gạo,
Việt Nam đã tự cung tự cấp đủ lương thực và bắt đầu dư gạo xuất khẩu.
Năm 1989, Việt Nam chính thức trở thành nước xuất khẩu gạo và tiếp tục tăng sản lượng những năm sau đó,
nhanh chóng lọt vào tốp những quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới.
Trở lại với Triều Tiên, sau nạn đói, điều đầu tiên mà người ta có thể nhận thấy là hệ thống phân phối của nhà nước
không còn đáp ứng đủ nhu cầu lương thực và hàng hóa thiết yếu.
Khi đó, những chợ đen đã ra đời, nó trở thành nơi cung cấp không chỉ lương thực mà là quần áo,
nhu yếu phẩm, rồi mặt loạt những mặt hàng khác cho người dân Triều Tiên.
Nó đã trở thành một hình thức tự phát ban đầu và dần dần đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của người dân Triều Tiên.
Ở đây thì không chỉ có hàng nội địa mà hàng hóa của Trung Quốc cũng rất là phổ biến.
Người dân Triều Tiên cũng bắt đầu tìm cách kinh doanh và trao đổi,
tạo ra một nền kinh tế phi chính thức giúp họ sinh tồn.
Và nhà nước Triều Tiên gần như vướt lờ với chuyện này, đúng hơn là họ biết nhưng họ cho phép chuyện này được thực hiện.
Khi mà chợ đen phát triển, một tầng lớp trung lưu mới cũng dần hình thành.
Những người này là các tiểu thương, buôn bán nhỏ lẻ tại các chợn nông sản và chợ đen,
hoặc là những người biết cách kiếm tiền từ việc trao đổi hàng hóa từ Trung Quốc.
Họ sẽ có điều kiện kinh tế tốt hơn và đôi khi sở hữu tài sản riêng, một điều hiếm thế trong xã hội Triều Tiên trước đó.
Sau nạn đói thì chính quyền Triều Tiên cũng nhận thấy rằng,
các nền nông nghiệp của họ không thể phụ thuộc vào những kế hoạch tập trung nữa,
do là nhìn sang những quốc gia đổi mới như Việt Nam chẳng hạn, họ cũng nhận ra những bài học của mình.
Để cải thiện năng suất, Triều Tiên đã thử nghiệm một số biện pháp mới trong nông nghiệp.
Hợp tác xã bắt đầu cho phép người dân giữ lại một phần sản phẩm để tự sử dụng hoặc bán đi.
Đây là một thay đổi rất nhỏ nhưng nó cũng mang tính chất đột phá,
ít nhất là để giúp cho người dân Triều Tiên không bị khủng hoảng lương thực nữa.
Cảm ơn các bạn vì đã quan tâm theo dõi câu chuyện này,
câu chuyện về sự khó khăn của Cộng hòa Dân Chủ Nhân dân Triều Tiên vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước.
Nếu cảm thấy thú vị bạn có thể nhấn nút đăng ký kênh, bật xuống thông báo và chia sẻ.
Còn bây giờ thì xin được nói lời chào, tạm biệt!
