4 Máy Bay Yểm Trợ Mặt Đất KHÔNG ĐỐI THỦ

CDTeam - Kiến Thức Quân Sự
113 người theo dõi
Chuyên gia quân sự Andrei Kotz của báo RIA Novosti, Nga đã tổng hợp 4 mẫu máy bay chiến đấu có khả năng hỗ trợ các nhiệm vụ tác chiến mặt đất tốt nhất, xứng danh “sát thủ” yểm trợ mặt đất.
Được bọc giáp kiên cố và mang theo kho vũ khí không đối đất mạnh mẽ, máy bay yểm trợ hỏa lực mặt đất đã tạo ra cuộc cách mạng trong chiến thuật tác chiến yểm trợ lực lượng mặt đất từ thời Thế chiến II đến nay.
--------------------------------------
Cảm ơn các bạn đã theo dõi!
#tinhot247 #máybay #máybayyểmtrợ
Chuyên gia quân sự Andrey Kot của Baryanovosti, Nga đã thông hợp 4 máy bay chiến đấu có khả năng hỗ trợ các nhiệm vụ tác chiến mặt đất tốt nhất xứng danh sát thủ yểm trợ mặt đất.
Được bọc ráp kiên cố và mang theo khóa vũ khí không đối đất mạnh mẽ,
máy bay yểm trợ hòa lực mặt đất đã tạo ra cuộc cách mạng trong chiến luật tác chiến yểm trợ lực lượng mặt đất từ thời thiên chiến thứ 2 đến nay.
Đứng ở vị trí đầu tiên, xe tăng bay Su-25.
Su-25 là loại máy bay chiến đấu cường kích, chống tăng và chi viện không quân trực tiếp do Liên Xô thiết kế, hiện vẫn còn trong trang bị của Nga và một số quốc gia khác.
Giống như loại máy bay A-10 Thunderbolt của Mỹ, ngoài hòa lực cực mạnh để chi viện mặt đất, Su-25 còn được thiết kế để tồn tại trước hòa lực phòng không tầm thấp của đối phương.
Vào cuối năm 1960, cả không quân Mỹ và Liên Xô nhận ra rằng việc chạy đua phát triển các loại máy bay chiến đấu phản lực siêu âm đã để lại một khoảng trống trong chế tạo máy bay cường kích có cánh cố địch,
hay còn gọi là Close Air Support, viết ra là CAS, có nhiệm vụ chi viện không quân trực tiếp cho lực lượng chiến đấu trên mặt đất.
Trong thời chiến thứ 2, Liên Xô rất thành công khi sử dụng loại máy bay cường kích tấn công mặt đất Iusin IL-2 Sturmovik để chi viện cho các lực lượng bộ binh và xe tăng.
Chiến đấu với quân đội Đức Fascist.
Từ thành công này, các tướng linh quân đội Liên Xô muốn tiếp tục phát triển một mẫu máy bay chiến đấu kiểu mới để chi viện cho các lực lượng chiến đấu mặt đất.
Nỗ lực của Liên Xô để phát triển một mẫu cường kích chi viện mặt đất trực tiếp được bắt đầu vào năm 1960.
Nhân vụ này được giao cho tập đoàn chế tạo máy bay Sukhoi.
Năm 1968, Sukhoi công bố mẫu thiết kế đầu tiên.
Năm 1974, mẫu chế thử đầu tiên ra đời và được đặt tên là Su-25, khối NATO định danh là Frogfoot.
Cùng thời gian đó, người Mỹ cũng phát triển các loại máy bay tương tự là A-10, Thunderbolt 2, Thần Sấm 2.
Su-25 được coi là máy bay cường kích thành công nhất trong thời kỳ chiến tranh lệnh.
Su-25 là máy bay cường kích cánh dọc với 2 động cơ.
Đây là chiếc máy bay chi viện mặt đất tầm gần nên buồng lái được bảo vệ bởi một lớp vỏ bằng titan dày 24mm.
Các kỹ sư Liên Xô tính toán với lớp vỏ bảo vệ như vậy, buồng lái có thể chống lại được đạn xuyên thép đến 30mm.
Ngoài lớp titan dà, buồng lái và một số bộ phận thiết hiệu khác còn được bọc thêm một lớp thép không dì để bảo vệ phi công và máy bay.
Máy bay được trang bị một ghế phóng dù K-36L Zvezda dùng trong trường hợp khẩn cấp.
Trong lượng rỗng của Su-25 là 10.740kg, trong lượng cất cánh tối đa của nó là 17.600kg.
Máy bay được trang bị 2 động cơ phản lịch torbin Soyuz Gag-Reload R-195 cho tốc độ tối đa của máy bay là 950kmh.
Vẫn tốc leo cao có thể đến 58m trên giây.
Ban kinh chiến đấu của máy bay lần lượt là 375km và 750km khi dùng thùng nhiên liệu phục.
Trật bay cao tối đa là 7000m.
Sau khi liên số sụp đổ, việc sản xuất Su-25 chấm dứt.
Nhà máy ở Georgia, nơi chế tạo loại Su-25 một chỗ ngồi không thể tìm thấy khách hàng cho chiếc máy bay của họ.
Nhưng nhà máy chế tạo phiên bản Su-25 hai chỗ ngồi tại Nga vẫn tiếp tục chế tạo, nhưng với số lượng hạn chế.
Hầu hết các nước thuộc liên số cũ và thuộc khối hiệp vụ Warsaw đều có loại máy bay này trong biên chế.
Nhưng Nga vẫn là quốc gia sở hữu nhiều nhất loại máy bay này với khoảng 200 chiếc trong lực lượng không quân
và một số lượng nhỏ do hải quân Nga khai thác trên tàu sân bay Kuznetsok.
Su-25 có thể sẽ tiếp tục phục vụ lực lượng Nga trong một thời gian dài nữa.
Chiếm vị trí thứ 2 là lợn rừng A-10 Thunderbolt II.
Trước những hiệu quả rõ ràng của máy bay CAS, Mỹ cũng có dòng máy bay của rừng mình.
Đó chính là A-10 Thunderbolt II, biệt danh lợn rừng.
Nguyên mẫu đầu tiên của máy bay CAS A-10 xuất hiện năm 1970 và được chấp nhận vào biên chế không quân Mỹ vào năm 1977.
Ban đầu khi nguyên mẫu trước A-10 được giới thiệu, giới chức Lầu Nam Góc đã tỏ ra hoài nghi về khả năng chiến đấu của nó.
Máy bay CAS A-10 dường như là một điều khác biệt hoàn toàn so với xu hướng phát triển máy bay chiến đấu siêu thanh hiện đại
như F-15, F-16 vào thời điểm đó.
Những cuộc tranh cãi về số phận của máy bay A-10 còn tiếp tục kéo dài suốt nhiều năm trong thập kỷ 1980.
Tuy nhiên, mọi thứ đã thay đổi hoàn toàn nhờ thành tích chiến đấu ấn tượng của A-10 tại cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ nhất năm 1990.
Trong chiến dịch bão tắp sa mạc, 150 chiếc A-10 tham chiến đã phá hủy tới 3.000 phương tiện chiến đấu của quân đội Iraq
và chỉ mất có 7 máy bay trong toàn chiến dịch.
Con số trên dù vẫn còn nhiều nghi ngờ vì nó diễn ra trong bối cảnh quân đội Iraq triệt thoái vội vàng khỏi Kuwait
và rất nhiều đơn vị đã bị phá hủy trên đường cao tốc tử thần nối Kuwait và Iraq vì máy bay ném bóng.
Nhưng rõ ràng A-10 đã tỏ ra là phương tiện cực kỳ phù hợp với những cuộc chiến tranh bất đối xứ,
khi hầu hết các đối thủ đều có tiêm lực yếu hơn quân đội Mỹ.
A-10 sau này có xuất hiện tại Liên bang Nam Tư, Afghanistan, Iraq, Libya và Syria.
Xem về mặt kỹ thuật, bản thân máy bay A-10 có thể được coi là một khẩu súng biết bay,
khi toàn bộ thiết kế của máy bay đều xoay quanh khẩu pháo bắn nhanh 30mm,
có khả năng bắn đạn DU xuyên giáp phương tiện chiến đấu của đối phương.
Một viên đạn 30mm DU nặng tới nửa kg, kết hợp cùng sờ rốc rời nòng lớn,
hoàn toàn có khả năng xuyên thủng và phá hủy các phương tiện chiến đấu hạng nặng
nhờ việc tấn công từ trên nóc, nơi được bọc giáp mỏng nhất.
Ngoài ra, A-10 còn được mang theo bom, rocket và tiên lửa dẫn đường tùy theo nhiệm vụ chiến đấu.
Dù có hỏa lực mạnh mẽ, nhưng nhiều chuyên gia quân sự đánh giá hỏa lực của A-10
khá không chính xác khi sử dụng pháo chính.
Đã có trường hợp máy bay A-10 bắn nhầm vào lực lượng mà đáng ra nó phải hỗ trợ,
trong đó có cả dân thừa.
Chính hệ thống ngắm bắn điện tử đơn giản đã không cho phép phi công lái A-10
không phải lúc nào cũng có thể khai hỏa chính xác vào mục tiêu, chuyên gia Akers đánh giá.
Chiếm vị trí thứ 3 là EBM-314 Super Tucano.
Ngoài cường quốc quân sự Mỹ và Nga, Brazil cũng là quốc gia có khả năng
chế tạo máy bay cận chiến yểm trợ với sự xuất hiện của EBM-314 Super Tucano.
Khoảng đầu những năm 2000, EBM-314 được chế tạo để trở thành máy bay huấn luyện.
Yêu cầu cho một máy bay tấn công hàng nhẹ là một phần trong chính phủ Brazil
trong dự án C-VAM.
Loài máy bay hiện nay đang được sử dụng cùng máy bay R-99A và R-99B trong biên chế
và chịu trách nhiệm ngăn chặn các máy bay bất hợp pháp và tuần tra biên giới Brazil.
Dự án ALX được tạo ra bởi khung quân Brazil.
Dự án này nhằm đáp ứng các nhu cầu của khung quân như một máy bay huấn luyện quân sự
để thay thế Embraer EMB-326GB Savante.
Dự án máy bay mới phải thích hợp cùng với vùng rừng núi Amazon,
chịu được nhiệt độ cao, độ ẩm cao, lượng mưa lớn và những nguy hiểm khác.
ALX hay Super Tucano, tên tham khảo của Embraer EMB-312 Tucano,
mặc dù nó là một máy bay hoàn toàn riêng biệt.
Trên lý thuyết là một máy bay động cơ cánh quạt với một tầm hoạt động lớn và khả năng tự hoạt động cao.
Nó có thể hoạt động trong cả ngày lận đêm trong bất kỳ điều kiện khí tức nào
và có thể hạ cánh trên các sân bay ngắn thiếu cơ sở ả tầng.
Các chuyến bay đầu tiên của nguyên mẫu một chỗ Super Tucano được thực hiện vào ngày 2 tháng 6 năm 1999.
Chuyến bay đầu tiên của phiên bản 2 chỗ là vào ngày 22 tháng 10 năm 1999.
Vào ngày 11 tháng 1 năm 2006, Embraer đã có một đơn đặt hàng tiềm năng khi cung cấp 36 chiếc cho Venezuela,
nhưng đơn đặt hàng này đã bị hủy bỏ khi Hoa Kỳ phủ quyết.
Chính phủ Hoa Kỳ nói rằng việc bán bất kỳ vũ khí nào đều phải sử dụng công nghệ của Hoa Kỳ nên họ có quyền phủ quyết.
Trong trường hợp này, Super Tucano đã sử dụng động cơ của hóang Pratt & Whitney Canada.
Hóa Pratt & Whitney Canada thuộc quyền sở hiếu khoáng United Technologies Corporation có trụ sở tại Harford, Connecticut.
Rất nhiều thành phần khác cũng có nguồn gốc từ Hoa Kỳ.
Sau khi được cải tiến với bộ giáp Kevlar, 2 khẩu súng máy 12,7mm và khả năng mang súng 20mm,
cũng như 2 tên lửa và bom, Super Tucano đã trở thành một vũ khí mạnh trên không.
Dĩ nhiên, so sánh với những huyền thoại của Mỹ và Nga thì Super Tucano vẫn dưới một bậc.
Do thiếu trang bị đặc trụng, là chắn Kevlar không thể chống lại được súng phòng không
và khả năng hỏa lực của EMB-314 cũng chưa đủ để tiêu diệt các xe tăng.
Tuy nhiên, máy bay này hoạt động rất hiệu quả trong các nhiệm vụ chống du kích ở các điểm nóng trên thế giới.
Chuyên gia Ecos đánh giá, chiếc phí sử dụng rẻ, đơn giản đã biến EMB-314 phù hợp chống lại các nhóm phiến quân nhỏ lệ.
Nhờ hiệu quả tác chiến cao, quân đội Colombia đã đặt mua máy bay Super Tucano để chống lại các băng đảng buồn ma túy.
Mỹ cũng đã đặt mua tới 200 chiếc máy bay dạng này để sử dụng chúng chống lại Taliban ở Afghanistan.
Đứng ở vị trí thứ tư, vị trí cuối cùng là Dassault Dornier Alpha Z.
Alpha Z là máy bay huấn luyện và chỉ đấu hạng nhẹ do các công ty quốc phòng đến từ Pháp và Tây Đức phối hợp chế tạo vào những năm 1970
trước khi được chính thức giới thiệu vào năm 1977.
Vào đầu những năm 1960, các lực lượng không quân Tây Âu bắt đầu xem xét những yêu cầu mới nhằm đáp ứng hoạt động trong vài thập kỷ tới.
Một trong những yêu cầu đó là nhu cầu về một máy bay huấn luyện phản lực thế ở mới để thay thế cho những máy bay đã cú như Lockheed T-33 và Fouga Magister.
Trong cuộc đời này đã xuất hiện hai đối tủ chính là Bearhawk của Anh và Dassault Dornier Alpha Z của Pháp và Tây Đức.
Tại thời điểm bắt đầu, Alpha Z đã chiếm ưu thế, nhưng về giai đoạn sau, Bearhawk đã chứng tỏ mình mới là người thắng thế.
Tuy nhiên, Alpha Z đã được chế tạo với chất lượng tốt và hoạt động trong một số lực lượng không quân của các quốc gia trong vài thập kỷ.
Đầu như năm 1960, Anh và Pháp bắt đầu một sự hợp tác để phát triển một máy bay tấn công hạng nhẹ, huấn luyện phản lực siêu âm.
Kết quả của sự hợp tác này là loạn máy bay Sepekat Jawer.
Nó đã được chứng tỏ là một máy bay ưu tú, nhưng các quốc gia chế tạo chỉ xác định nó là một sự phát triển trong thời gian chuyển tiếp.
Nhu cầu ban đầu chưa được hoàn thành và vì thế người Pháp đã bắt đầu thương lượng về Tây Đức để tạo sự liên kiến mới.
Một mẫu máy bay chung thử nghiệm đã được chế tạo vào năm 1968.
Máy bay huấn luyện này có tốc độ dưới tốc độ âm thanh.
Mẫu máy bay huấn luyện siêu âm có một số vấn đề nên không được hoàn thành.
Một sự phát triển chung và thỏa thuận sản xuất đã được ký kết vào tháng 7 năm 1969.
Thỏa thuận này chỉ dõi hai quốc gia sẽ mua hai trạm máy bay và chúng sẽ được lắp dắp tại từng quốc gia mà chúng sẽ phục vụ.
Brailwest Dachau Donier TA501 đã được chọn làm mẫu để phát triển vào tháng 7 năm 1970.
Với những trình bay đầy đủ được thông qua vào tháng 2 năm hàng không năm 1972.
Hai nguyên mẫu đã được chế tạo bởi Dachau tại Pháp.
Công ty này đã mua Brailwest trong thời gian đó và hai chiếc nữa sẽ được hàng Donier chế tạo tại Đức.
Nguyên mẫu đầu tiên của Pháp thực hiện chuyến bay đầu tiên tại căn cứ không quân Istres vào ngày 26 tháng 10 năm 1973.
Và nguyên mẫu đầu tiên của Đức bay lần đầu tiên tại Oberplatz Pfenhofen vào ngày 9 tháng 1 năm 1974.
Còn lại hai nguyên mẫu đã được thực hiện các chuyến bay trước khi kết thúc vào năm 1974.
Hiện đang trong biên chế của 14 quốc gia.
Alpha Jet được dùng để đối phó các mục tiêu di chuyển và cố định dưới mặt đất,
hiểm trợ không kích, tân công làm suy yếu khả năng tiếp tế của đối phương và thực hiện trinh sát trên không.
Vũ khí Alpha Jet bao gồm cầu pháo Depfa 553 30mm,
hai khẩu súng máy 12,7mm,
bốn quả bom được lắp trên cánh.
Đức đã bán toàn bộ phi đội 93 chiếc Alpha Jet sau khi chiến tranh lại kết thúc.
Nhưng nó hiện vẫn phục vụ tại một số nước thành viên NATO
bao gồm Mỹ, Canada, Pháp, Bồ Đào Nha và Anh,
cũng như các nước ở Châu Phi, Trung Đông và Châu Á.
