Thông Điệp Mạnh Mẽ Từ Việt Nam: Tập Trận Bắn Đạn Thật Trên Biển Đông

Góc Nhìn Lê Minh
705 người theo dõi
Thưa quý vị, cách đây vài ngày, truyền thông Việt Nam đưa tin lực lượng bảo vệ bờ biển Việt Nam đã tổ chức một cuộc tập trận bắn đạn thật hiếm hoài
để kiểm tra khả năng ứng phó với các mối đe dọa an ninh tại một khu vực ngoài khơi bờ biển miền Trung trên Biển Đông.
Các cuộc tập trận nhằm mục đích tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu trong bối cảnh căng thẳng gia tăng ở Biển Đông.
Cuộc tập trận từ ngày 5 đến ngày 11 tháng 9 do Cảnh sát Biển Việt Nam tiến hành tại vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Thuận.
Lực lượng này đã cho biết trong một thông cáo báo chí.
Vùng 3 Cảnh sát Biển có trụ sở tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu là một trong bốn vùng Cảnh sát Biển của Việt Nam
chịu trách nhiệm bảo vệ các yêu sách của Việt Nam ở Biển Đông khi căng thẳng gia tăng trên tuyến đường thủy trong khu vực này.
Lực lượng bảo vệ bờ biển đang ứng phó với nhiều tình huống như các mối đe dọa đối với chủ quyền và an ninh,
các cuộc xâm nhập bất hợp pháp vào vùng biển của Việt Nam bởi các tàu nước ngoài, cướp biển và tìm kiếm cứu nạn cũng như là cứu trợ thiên tai.
Các bức ảnh và video clip do lực lượng này công bố cho thấy quân đội được trang bị pháo, súng phòng không và bệ phóng tên lửa,
bắn vào các mục tiêu trên không cũng như bắn vòi dòng và cảnh báo tàu nước ngoài.
Việt Nam hiếm khi công khai các hoạt động như vậy, mặc dù đã đầu tư mạnh vào việc phát triển lực lượng Cảnh sát Biển trong những năm gần đây.
Nhưng lần này Việt Nam đã công bố nó.
Việc Việt Nam công bố lực lượng Cảnh sát Biển đã tổ chức một cuộc tập trận bắn đạn thật ở Biển Đông
mang nhiều ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh chiến lược và chính trị khu vực.
Cuộc tập trận của Cảnh sát Biển Việt Nam mang những ý nghĩa như sau.
Thứ nhất là khẳng định chủ quyền và năng lực bảo vệ lãnh thổ.
Cuộc tập trận này tại Biển Đông là một thông điệp mạnh mẽ khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại khu vực này.
Trong bối cảnh các tranh chấp chủ quyền biển đảo ngày càng căng thẳng với sự tham gia của nhiều quốc gia,
đặc biệt là Trung Quốc, hoạt động này giúp Việt Nam thể hiện quyết tâm bảo vệ lãnh thổ và lợi ích trên biển của mình.
Thứ hai là tăng cường khả năng răn đe quân sự.
Việc tập trận bắn đạn thật là một động thái thể hiện khả năng và sự sẵn sàng của lực lượng Việt Nam
trong việc đối phó với các mối đe dọa từ bên ngoài.
Điều này không chỉ nâng cao năng lực chiến đấu của lực lượng Cảnh sát Biển,
mà còn gửi thông điệp răn đe tới các bên liên quan khác về sự sẵn sàng bảo vệ lấy quốc gia.
Thứ ba là phản ứng trước các áp lực từ Trung Quốc.
Biển Đông từ lâu đã là khu vực tranh chấp căng thẳng giữa nhiều quốc gia, đặc biệt là giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Trong những năm gần đây, Trung Quốc liên tục gia tăng hoạt động quân sự
và xây dựng cơ sở hạ tầng quân sự tại các đảo nhân tạo trong khu vực.
Cuộc tập trận của Việt Nam có thể được xem như một phản ứng trực tiếp trước các hoạt động này,
nhằm tạo áp lực ngược lại và khẳng định rằng Việt Nam sẽ không chấp nhận những hành động lấn lướt về quân sự của Bắc Kinh.
Thứ tư là củng cố quan hệ quốc tế và vị thế trong khu vực.
Việt Nam không chỉ dựa vào sức mạnh quân sự nội tại,
mà còn cố gắng củng cố mối quan hệ với các đối tác quốc tế như Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ.
Việc công bố cuộc tập trận này có thể nhằm mục đích cho thấy Việt Nam là một đối tác đáng tin cậy,
có khả năng tự vệ và góp phần bảo vệ an ninh hàng hải trong khu vực.
Điều này có thể giúp Việt Nam củng cố thêm quan hệ chiến lược với các quốc gia ủng hộ tự do hàng hải ở Biển Đông.
Và thứ năm là đáp ứng yêu cầu nội bộ về an ninh quốc gia.
Cuộc tập trận cũng có ý nghĩa trong việc đáp ứng yêu cầu nội bộ,
làm diệu sự lo ngại của người dân về các mối đe dọa từ bên ngoài.
Với tình hình quốc tế phức tạp,
việc tăng cường khả năng phòng thủ có thể giúp củng cố niềm tin của công chúng
vào năng lực bảo vệ quốc gia của quân đội và lực lượng bảo vệ bờ biển Việt Nam.
Tóm lại thì cuộc tập trận bắn đạn thật của Việt Nam tại Biển Đông mang tính chiến lược cao,
thể hiện sự quyết tâm bảo vệ chủ quyền,
nâng cao năng lực quân sự và củng cố quan hệ quốc tế của Việt Nam
trong bối cảnh khu vực đầy biến động.
Để việc Việt Nam thực hiện hành động bảo vệ Biển Đông không phải là biểu tượng,
thì Việt Nam cần phải gia tăng sức mạnh của lực lượng phòng vệ.
Trước tiên phải tăng cường tàu tuần tra hiện đại.
Việt Nam cần đầu tư vào các loại tàu tuần tra với khả năng hoạt động dài ngay trên biển,
chịu được điều kiện thời tiết khắc nghiệt và có khả năng thực thi pháp luật trong các vùng biển xa.
Đồng thời cũng cần trang bị hệ thống radar, vệ tinh giám sát hiện đại,
giúp cải thiện khả năng phát hiện và phản ứng nhanh trước các hoạt động xâm phạm và đánh bắt trái phép.
Bên cạnh đó, còn phải phát triển công nghệ UAV giúp tăng cường khả năng trinh sát và tuần tra trên không,
hỗ trợ phát hiện và theo dõi các mục tiêu trên biển một cách hiệu quả hơn.
Sau đó thì Việt Nam cũng cần trú trọng về đào tạo, kỹ năng chỉ huy,
điều khiển tàu chiến và phối hợp hoạt động với các lực lượng hải quân khác.
Tước này bao gồm cả đào tạo quốc tế nhằm cập nhật kiến thức và kỹ năng hiện đại.
Các cuộc tập trận bắn đạn thật như vậy đã diễn ra,
cần được tổ chức thường xuyên hơn để duy trì sự sẵn sàng chiến đấu.
Ngoài ra, cần thực hiện các bài tập phối hợp với hải quân và không quân
nhằm nâng cao khả năng phối hợp đa lực lượng.
Đặc biệt là cần phải tăng cường quan hệ với các quốc gia có năng lực bảo vệ bờ biển mạnh,
hợp tác với các quốc gia như Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á khác
để học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm và nhận hỗ trợ kỹ thuật, thiết bị.
Việt Nam cũng cần phải tham gia các hiệp định quốc tế về an ninh hàng hài.
Điều này sẽ giúp Việt Nam tăng cường hợp tác trong bảo vệ an ninh hàng hài,
kiểm soát buôn lậu và phòng chống tội phạm trên biển.
Quan trọng hơn, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ chủ quyền biển đảo,
đặc biệt là các điều luật về thực thi pháp luật trên biển.
Điều này sẽ giúp lực lượng cảnh sát biển có quyền hạn và công cụ pháp lý mạnh hơn
trong việc bảo vệ vùng biển của mình.
Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cảnh sát biển, hải quân và các lực lượng khác
trong thực thi luật pháp và bảo vệ chủ quyền biển.
Không chỉ có vậy, cần tiếp tục chính sách đối ngoại quốc phòng,
cùng với việc nâng cấp sức mạnh quân sự.
Việt Nam cần giữ vững chính sách đối ngoại cân bằng,
sử dụng ngoại giao để giảm căng thẳng với các nước trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc,
đồng thời việc củng cố quan hệ với các cường quốc như Mỹ, Nhật Bản và EU
cũng sẽ giúp tạo sức ép ngoại giao cần thiết để bảo vệ lưới quốc gia.
Như truyền thông đưa tin, cảnh sát biển Hoa Kỳ được cho là đang có kế hoạch
chuyển giao chiếc tàu tuần tra lớp Hamilton cuối cùng
trong số 3 tàu cho Việt Nam trong tương lai gần.
Như chúng ta đã biết, số lượng tàu tuần tra cần thiết cho cảnh sát biển Việt Nam
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ dài đường bờ biển, mức độ hoạt động,
nhu cầu bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế EEZ rộng khoảng 1 triệu km2
và sự phát triển của các mối đe dọa tiềm tàng trên biển.
Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.200 km với nhiều vùng biển chiến lược
và dầu tài nguyên, vì vậy yêu cầu về tàu tuần tra là khá lớn.
Căng thẳng với Trung Quốc về chủ quyền tại các khu vực như Hoàng Sa và Trường Sa
cũng đã tạo ra nhu cầu về lực lượng tuần tra mạnh để bảo vệ chủ quyền
và quyền lợi kinh tế trong khu vực.
Số lượng tàu không chỉ phụ thuộc vào chiều dài bờ biển,
mà còn vào chất lượng và tính năng của các tàu.
Các tàu cỡ lớn có thể hoạt động xa bờ,
có khả năng thực thi pháp luật trên vùng biển quốc tế,
sẽ đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ chủ quyền.
Một số quốc gia có đường bờ biển tương tự như Việt Nam,
ví dụ như Nhật Bản, Philippines,
thì có khoảng 100-200 tàu tuần tra các loại.
Đối với Việt Nam, con số này có thể giao động từ 80-150 tàu,
bao gồm các tàu cỡ lớn, chung và nhỏ
để tuần tra trên biển dài hạng.
Việt Nam đã nhận được các tàu tuần tra
từ nhiều đối tác quốc tế như Mỹ và Nhật Bản.
Tuy nhiên, việc tăng cường lực lượng này
lên ít nhất khoảng 100-120 tàu tuần tra hiện đại
sẽ là bước đi hợp lý trong bối cảnh
gia tăng cạnh tranh trên biển Đông.
Những tàu có khả năng hoạt động xa bờ,
chịu được điều kiện khắc nghiệt,
cần thiết để bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế
và phản ứng nhanh với các sự cố trên biển,
phù hợp để thực hiện các nhiệm vụ
trong vùng biển gần, kiểm soát hoạt động buôn lậu
và ngăn chặn khai thác tài nguyên trái phép.
Tóm lại, để đảm bảo an ninh và chủ quyền trên biển,
Việt Nam cần đầu tư khoảng độ 100-150 tàu tuần tra
với nhiều kích thước và khả năng khác nhau,
con số cụ thể phụ thuộc vào các chiến lược dài hạn,
nguồn lực tài chính và cả sự hợp tác quốc tế nữa.
Nói như vậy để thấy, nếu chỉ đợi
chuyển giao từ đối tác quốc tế
thì Việt Nam không thể xây dựng được
một lực lượng cảnh sát biển tự chủ và mạnh mẽ.
Quý vị biết đấy, Việt Nam có 3 cơ sở đóng tàu chính.
Một là Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam
VINASIN. Đây là tập đoàn nhà nước
được thành lập từ lâu để phát triển công nghiệp đóng tàu tại Việt Nam.
VINASIN đã đóng nhiều loại tàu,
từ tàu vận tải đến các tàu quân sự,
phục vụ cho cả nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Hai là công ty đóng tàu Z189 và Z173.
Đây là những đơn vị chủ chốt trực thuộc Bộ Cứu phòng,
đã đóng nhiều tàu tuần tra và tàu chiến
cho Hải quân Nhân dân Việt Nam,
cũng như là lực lượng cảnh sát biển.
Những công ty này đã sản xuất được tàu tuần tra cỡ lớn,
tàu đổ bộ và các loại tàu chiến nhỏ hơn.
Ba là đóng tàu và hợp tác quốc tế.
Việt Nam cũng có năng lực hợp tác với các quốc gia khác
để đóng tàu, như là hợp tác với Hà Lan,
Hàn Quốc và Nhật Bản.
Chẳng hạn các tàu tuần tra của Việt Nam
đã được đóng dựa trên công nghệ và thiết kế
từ các đối tác nước ngoài,
nhưng được hoàn thiện tại các xưởng đóng tàu trong nước.
Mặc dù có khả năng tự đóng các tàu tuần tra
và tàu chiến cơ bản,
nhưng việc tự đóng các tàu lớn hơn với công nghệ cao,
như là tàu ngầm hay là tàu chiến cỡ lớn
vẫn là một thách thức lớn.
Do đó, Việt Nam cần phải thúc đẩy học hỏi công nghệ,
nâng cao cơ hội hợp tác với các quốc gia phát triển
về công nghệ đóng tàu,
như là Nga, Nhật Bản và Hàn Quốc,
để tiếp tục nâng cao năng lực tự đóng tàu,
đặc biệt là trong lĩnh vực tàu quân sự
và tàu tuần tra xa bờ.
Có một vấn đề trong tư duy thế này,
dường như các chính trị gia phương Tây đang cố gắng
móc nối Trung Quốc và Nga vào thành một khối,
và họ cho rằng chỉ cần thắng Nga ở Ukraine
thì sẽ kiềm chế được Trung Quốc.
Điều này khiến những quốc gia
có tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông
gặp khó khăn rất nhiều.
Lỗ hồng tư duy chiến lược của các cường quốc
khiến Việt Nam khó khăn ở Biển Đông.
Ngày 18 tháng 9, tờ Nikkei
đăng tải một bài báo có tiêu đề
Hi vọng tốt nhất của châu Âu
để ngăn chặn Trung Quốc là đánh bại Putin
ở Ukraine.
Nhật định cho rằng, hi vọng tốt nhất của châu Âu
để ngăn chặn Trung Quốc là đánh bại Putin
ở Ukraine dựa trên một số yếu tố liên kết
giữa cuộc chiến Ukraine
và chiến lược toàn cầu của các cường quốc
nhưng cũng có nhiều tranh cãi
về cơ sở của nó.
Các cơ sở thường được đưa ra để ủng hộ
quan điểm này như là quan hệ đối tác chiến lược Nga
Trung trong nhiều lĩnh vực từ kinh tế,
năng lượng đến quân sự.
Nhiều người cho rằng nếu Nga bị đánh bại
hoặc suy yếu đáng kể tại Ukraine
điều này sẽ gây tổn thương
tới sự hợp tác chiến lược Nga Trung.
Khi đó, Nga sẽ mất đi vị thế trên trường quốc tế
đồng thời giảm khả năng giúp đỡ Trung Quốc
về năng lượng và quân sự.
Điều này có thể làm suy yếu một trong những liên minh mạnh mẽ nhất
mà Trung Quốc có, tạo điều kiện cho phương Tây
áp lực Trung Quốc hiệu quả hơn.
Tiếp đó, Nga hiện là nhà cung cấp
năng lượng quan trọng cho Trung Quốc
đặc biệt là sau các lệnh trừng phạt từ phương Tây
Nếu Nga bị đánh bại tại Ukraine
khả năng kinh tế của nước này sẽ giảm mạnh
làm giảm mức độ hỗ trợ của Nga cho Trung Quốc
trong các vấn đề như là cung cấp năng lượng
hay là hợp tác quân sự.
Ngoài ra, một thất bại ở Ukraine có thể làm giảm
sức ép mà Nga đang đặt lên châu Âu
từ đó giúp các nước châu Âu tập trung nhiều hơn
vào việc đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Còn nữa, chiến thắng của phương Tây
ở Ukraine có thể giúp củng cố
liên minh NATO và các quốc gia châu Âu
khi đó các nước châu Âu có thể
có sức mạnh và sự tự tin
để tham gia nhiều hơn vào các vấn đề châu Á-Thái Bình Dương
hỗ trợ các đồng minh như Mỹ
trong việc kiềm chế Trung Quốc.
Một nước Nga yếu đuối hơn cũng sẽ ít
có khả năng hỗ trợ Trung Quốc trong các hành động quân sự
hoặc ngoại giao toàn cầu.
Một thất bại của Nga có thể làm ra
tăng sự chia rẽ trong quan hệ Nga-Trung
nếu Nga trở nên phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc
về kinh tế và chính trị sau một thất bại ở Ukraine.
Điều này có thể dẫn đến căng thẳng
trong mối quan hệ vì sự phụ thuộc không cân bằng.
Điều này sẽ làm suy yếu một trụ cột
quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc
đặc biệt là trong việc đối phó
với Mỹ và châu Âu.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Trung Quốc và Nga
không hoàn toàn là đồng minh truyền thống
mà phức tạp hơn nhiều.
Dù cả hai quốc gia đều có sự hợp tác chặt chẽ
trên nhiều lĩnh vực nhưng họ không phải là đồng minh
theo nghĩa chiến lược truyền thống như NATO
hay những liên minh quân sự khác.
Không thể phủ nhận lới chiến lược khác nhau
của Nga và Trung Quốc không hoàn toàn đồng nhất.
Mặc dù họ cùng đối phó với áp lực từ phương Tây
nhưng mỗi quốc gia đều có mục tiêu và ưu tiên riêng.
Nga tập trung vào việc bảo vệ lợi ích của mình
ở châu Âu, đặc biệt là Ukraine.
Trong khi Trung Quốc chủ yếu hướng
về khu vực châu Á-Thái Bình Dương
với trọng tâm là Đài Loan và Biển Đông.
Dù hai nước có hợp tác kinh tế chặt chẽ
Trung Quốc và Nga vẫn tồn tại những cạnh tranh ngầm.
Trung Quốc với nền kinh tế lớn hơn
và sự ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ
có thể dần vượt qua Nga
trong nhiều lĩnh vực như năng lượng và xuất khẩu công nghệ.
Điều này khiến Nga phải thận trọng
trong quan hệ với Trung Quốc nhằm tránh bị Trung Quốc áp đảo.
Trung Quốc duy trì quan hệ ngoại giao kinh tế
với nhiều quốc gia khác
mà không hoàn toàn phụ thuộc vào Nga.
Cùng lúc Nga cũng có mối quan hệ riêng
với một số quốc gia có thể đối lập
hoặc trung lập với lợi ích của Trung Quốc.
Điều này cho thấy cả hai nước không hoàn toàn đồng nhất
trong mục tiêu toàn cầu.
Trung Quốc đã thể hiện sự thận trọng
trong việc hỗ trợ Nga trong cuộc chiến tại Ukraine
tránh việc trực tiếp đối đầu với phương Tây
và gây ra lệnh trừng phạt.
Điều này càng củng cố rằng
họ không có cam kết đồng minh chắc chắn như nhiều người nghĩ.
Một tin tức nữa khá thú vị
tờ Politico đưa tin
kể từ đầu năm 2024
các nước phương Tây đã chi 2 tỷ USD
mua sản phẩm dầu Thổ Nhĩ Kỳ
sản xuất từ dầu Nga.
Điều đáng chú ý là lượng nhiên liệu
mà các nhà máy lọc dầu của Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng dầu của Nga
cung cấp cho phương Tây ngày càng tăng.
Điều này có nghĩa là
nhấn mạnh rằng phương Tây vẫn phụ thuộc
vào nguồn cung năng lượng từ Nga dù gian tiếp.
Sự thiếu đa dạng hóa trong nguồn cung dầu mỏ
khiến phương Tây khó có thể hoàn toàn
từ bỏ dầu mỏ liên quan đến Nga
mà không gặp rủi ro
về an ninh năng lượng và ổn định kinh tế.
Chậm một chút
phương Tây từ chối năng lượng Nga với giá rẻ
khi được chảy thẳng vào EU
sau đó tiến hành trừng phạt
nhưng mà sau đó lại nhập khẩu năng lượng Nga
với giá cao hơn qua trung gian.
Đây có phải là
tự làm tổn thương túi tiền của mình hay không?
Vì vậy, không thể khẳng định rằng
việc đánh bại Putin ở Ukraine
sẽ có tác động trực tiếp
hoặc quan trọng đến khả năng kiểm trế Trung Quốc.
Đây là 2 vấn đề địa chính trị riêng biệt
với các yếu tố và lợi ích khác nhau.
Tại sao chúng ta lại phải nói tới vấn đề này?
Như chúng ta đã biết
có 6 cường quốc hàng hải trên thế giới
số 1 là Hoa Kỳ, thứ 2 là Trung Quốc
thứ 3 là Nga, sau đó là Anh
Nhật Bản, Ấn Độ.
Nếu thực sự muốn kiểm trế Trung Quốc
thì nên để các nước đang có tranh chấp
với Trung Quốc ở Biển Đông gia tăng hợp tác
với các cường quốc hàng hải.
Nhưng hiện nay thì các quốc gia này lại đang gặp khó khăn
trong việc hợp tác với Nga
thì sẽ phải nhìn mặt Mỹ.
Ngay cả khi họ hợp tác với Anh, Nhật, Ấn Độ
thì khả năng kiểm trế toàn diện Trung Quốc
cũng khó khăn hơn nhiều so với việc
chỉ cần Mỹ và Nga hợp tác thì Trung Quốc đều phải
dè chừng các vòi bảy tục của mình.
Trong lý thuyết, cả Mỹ và Nga
đều có lý do lo ngại về sức mạnh
ngày càng gia tăng của Trung Quốc.
Đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế, quân sự và chính trị
Trung Quốc đang mở rộng ảnh hưởng
không chỉ ở châu Á mà còn ở châu Âu, châu Phi
và các khu vực chiến lược khác.
Nếu Mỹ và Nga hợp tác
họ có thể tạo ra sức ép đa chiều để kiểm trế Trung Quốc
làm giảm tham vọng bành trướng của Bắc Kinh
ở Biển Đông, Đông Á
và thậm chí trong các sáng kiến như là vành đài và con đường BRI.
Sự hợp tác giữa 2 cường quốc quân sự
lớn nhất thế giới có thể tạo ra một sự cân bằng quyền lực
mới trong hệ thống quốc tế
buộc Trung Quốc phải thận trọng hơn
trong việc mở rộng ảnh hưởng.
Đó là lý do bằng Trump nhiều lần tuyên bố về quan điểm Nga của mình.
Ông ấy không chọn đối đầu
mà chỉ là cạnh tranh.
Tuy nhiên chính phủ đương nhiệm Mỹ lại đặt Mỹ-Nga
vào mối quan hệ đối kháng kịch liệt
về vấn đề Ukraine, coi Nga là kẻ thù của Mỹ.
Kết quả đẩy Nga và Trung Quốc về một thuyền.
Sự đối đầu này rất dễ đẩy
Việt Nam và các nước đang có tranh chấp
Ai cũng biết là Việt Nam hiện phụ thuộc nhiều vào Nga
cho các loại vũ khí và trang thiết bị quân sự
đặc biệt là trong lĩnh vực hải quân
như là tàu ngầm, tàu chiến và máy bay.
Nếu căng thẳng giữa Mỹ và Nga gia tăng
việc Việt Nam tiếp tục nhập khẩu vũ khí
và công nghệ từ Nga có thể gặp khó khăn
nhất là khi Mỹ có thể tăng cường các lệnh trừng phạt kinh tế
đối với Nga, ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu
vũ khí của nước này.
Ngược lại thì Hoa Kỳ cũng đang trở thành một đối tác tiềm năng
trong việc cung cấp vũ khí và thiết bị quân sự cho Việt Nam.
Mối quan hệ căng thẳng giữa Mỹ và Nga
có thể thúc đẩy Việt Nam tìm kiếm thêm
đối tác quân sự từ phương Tây
bao gồm cả Mỹ để tránh phụ thuộc quá nhiều
vào một nguồn cung duy nhất.
Căng thẳng giữa Mỹ và Nga cũng có thể ảnh hưởng
đến sự ổn định ở Biển Đông,
một khu vực mà Việt Nam có lợi ích trực tiếp.
Nếu tình hình quốc tế trở nên căng thẳng hơn
các nước lớn có thể gia tăng hiện diện quân sự
tại các khu vực chiến lược như Biển Đông
khiến tình hình phức tạp hơn
đối với các quốc gia nhỏ như Việt Nam
trong việc bảo vệ chủ quyền và duy trì an ninh hàng hải.
Việt Nam sẽ phải điều chỉnh chính sách ngoại giao
cẩn trọng hơn giữa các cường quốc
khi Mỹ và Nga đối đầu.
Việt Nam cần duy trì một lập trường cân bằng giữa hai bên
để đảm bảo lợi ích an ninh và kinh tế
đồng thời tránh bị lôi kéo và có cuộc xung đột toàn cầu.
Việc này có thể ảnh hưởng đến cách Việt Nam
phát triển hải quân và mở rộng hợp tác quốc phòng.
Căng thẳng giữa Mỹ và Nga
có thể tạo động lực để Việt Nam đa dạng hóa
quan hệ quốc phòng với nhiều nước hơn.
Ngoài Nga và Mỹ, Việt Nam có thể tìm kiếm hợp tác
với các quốc gia như Ấn Độ, Nhật Bản,
Hàn Quốc hoặc các nước châu Âu
để nâng cấp năng lực hàng hải của mình.
Điều này giúp Việt Nam không bị phụ thuộc
vào một nguồn cung duy nhất
và có thể tiếp cận được nhiều công nghệ tiên tiến hơn.
Nhìn chung thì Việt Nam
cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng trong bức cảnh
căng thẳng giữa Mỹ và Nga leo thang,
không chỉ để phát triển sức mạnh hàng hải
mà còn để bảo vệ chủ quyền và ổn định khu vực,
đa dạng hóa đối tác quốc phòng,
duy trì quan hệ ngoại giao khéo léo
và đầu tư vào công nghệ tự phát triển
có thể là những yếu tố quan trọng giúp Việt Nam
gia tăng sức mạnh hàng hải trong tương lai.
Trên thực tế, việc hóa giải được thế kẹt
trong mối quan hệ Mỹ-Nga
không nằm ở yếu tố bên ngoài,
mà nó nằm ngay ở chính tư duy chiến lược
của chính phủ lãnh đạo Mỹ.
Có một yếu tố mà chúng ta không nên bỏ qua,
Trung Quốc luôn là kẻ săn mồi trong hỗn loạn,
cho nên cả Mỹ và Nga suy yếu
thì đó là cơ hội cho họ.
Chỉ cần Trung Quốc bành trướng được ở khu vực
thì mọi vị thế của Hoa Kỳ
ngay lập tức bị thay thế.
Bởi vậy mới nói, Bắc Kinh mới là đối tượng
mà Mỹ không thể rời mắt.
Nước Mỹ cần định vị lại chương trình nghị sự
và chính sách đối ngoại của mình,
và điều đó sẽ được thực hiện nếu người thắng cử
là ông Donald Trump.
Tới đây thì chương trình ngày hôm nay của chúng tôi
cũng xin phép tạm dừng.
Xin mời quý vị để lại bình luận
và quan điểm cá nhân của mình ở bên dưới.
Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại!
