VÌ SAO SẢN LƯỢNG ĐIỆN VIỆT NAM TĂNG NHANH NHẤT THẾ GIỚI?|BLV Anh Quân Discovery

ĐỒNG NAI TƯƠI ĐẸP
2K Người theo dõi
543 Lượt xem video·3 thg 7, 2024
VÌ SAO SẢN LƯỢNG ĐIỆN VIỆT NAM TĂNG NHANH NHẤT THẾ GIỚI?
Kể từ khi được loài người tìm ra, điện đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta.
Nó là thứ không thể thiếu trong sản xuất, trong sinh hoạt hàng ngày của con người.
Điện giúp cho chúng ta chiếu sáng, giải trí, liên lạc, học tập, làm việc, vận hành, máy móc.
Trong cuộc sống ngày nay, chúng ta không thể sống thiếu điện,
nhưng không phải lúc nào đất nước chúng ta cũng có đủ điện để dùng.
Giai đoạn sau chiến tranh, điện thì chập trờn và bị cắt liền miệng.
Nhà nào cũng phải thủ sẵn vài chiếc đèn, các loại kèm một thùng đựng dầu hỏa tho tướng ở dưới bếp.
Còn bây giờ, đất nước đã có gần 100 triệu dân, đang công nghiệp hóa, đô thị hóa rất nhanh,
nhưng tình trạng mất điện bây giờ là hiếm.
Không chỉ ở thủ đô Hà Nội, ở thành phố Hồ Chí Minh hay Đà Nẵng, Huế, các trung tâm, thành phố lớn,
từ vùng sâu vùng xa, trên biển núi, biên giới, hải đảo, khắp các nơi đều được sử dụng điện của chúng ta tự sản xuất.
Nhìn bằng mắt thường cũng thấy Việt Nam làm ra điện ngày càng nhanh càng nhiều.
Còn về con số cụ thể thì theo số liệu của Ember, quốc gia đứng đầu thế giới về tăng trường sản lượng điện,
không gì khác, chính là Việt Nam.
Trong giai đoạn từ 1985 đến 2023, sản lượng điện của Việt Nam đã tăng từ 5,07 TWh lên 260,7 TWh trên giờ.
Như vậy, trong chưa đầy 4 thập kỷ, sản lượng điện của Việt Nam đã tăng hơn 51.000 lần,
gọi là con số quá khủng.
Xếp sau Việt Nam là Trung Quốc, Bangladesh, Indonesia…
Lưu ý rằng chúng ta đang nói về tốc độ tăng trường,
thì nếu xét về sản lượng điện tuyệt đối thì đứng đầu thế giới là Trung Quốc.
Trong 38 năm, sản lượng điện của họ đã tăng 9.048 TWh, gấp hơn 5 lần quốc gia, đứng thứ 2 là Ấn Độ.
Vậy bạn có thắc mắc làm cách nào mà sản lượng điện của Việt Nam có thể tăng nhanh như vậy không?
Sau chiến thắng mùa xuân 1975, thống nhất đất nước, hệ thống điện của Việt Nam nghèo nàn, manh muốn.
Do chiến tranh chia cắt Bắc-Nam, hệ thống điện mỗi miền phát triển riêng biệt với tiêu chuẩn kỹ thuật khác nhau.
Lúc này, chỉ 2,5% số hộ gia đình có điện sử dụng, chủ yếu ở thành thị.
Năm 1975, ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Nam, điện chỉ chủ yếu phục vụ thắp sáng và sinh hoạt,
chứ sản xuất thì thôi bỏ quả.
Kể từ sau thống nhất, ngành điện đã tiếp quản phục hồi và đầu tư mở rộng.
Đến năm 1985, đã có khoảng 9% số hộ gia đình có điện, tất nhiên là lúc này tiêu thụ điện ở mức thấp.
Đến hết năm 2010, tổng công suất nguồn điện cả nước đã lên đến 20.900 MW.
Đặc biệt, từ năm 2001 đến năm 2020, chúng ta chứng kiến tốc độ tăng trưởng thần kỳ của nền kinh tế Việt Nam
với tỷ trọng GDP tăng trưởng trung bình lên đến 13% một năm.
Năng lượng chính là nhân tố thiết yếu nhất để đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế bền bì suốt thời gian qua.
Nhu cầu tiêu thụ điện ở Việt Nam cũng bùng đổ nhanh chóng và gần như gia tăng song song với nền kinh tế.
Để đáp ứng nhu cầu tăng lên theo cấp số nhân đó, ngành điện đã khẩn trương xây dựng hàng loạt nhà máy điện,
giúp tăng nguồn điện ở miền Bắc lây gần 5 lần.
Có thể kể đến những cái tên như nhà máy nhiệt điện Phả Lại được khởi công xây dựng năm 1980 ở Hải Dương.
Thời điểm đó, muốn xây dựng nhà máy nhiệt điện nước ta gặp thiếu thốn trăm bề từ khoa học kỹ thuật đến nguồn vốn.
Đáp lại lời đề nghị của chính phủ của ta, Liên Xô đã tri viện các chuyên gia, đối ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật
đặc biệt là nguồn vốn để nhanh chóng hoàn thành nhà máy giai đoạn 1.
Nằm giữa đồng bằng trâu thổ Sông Hồng, vô cùng tiện lợi cho việc cung ứng điện đến các khu cụ công nghiệp
của các tỉnh thành xung quanh như Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội.
Sau 4 năm xây dựng ngày 28.10.1983, nhà máy nhiệt điện Phở Lại phát dòng điện đầu tiên lên lưới điện quốc gia
đánh dấu mốc so lịch sử, trở thành con chim đầu đàn của chuyên ngành nhiệt điện Việt Nam.
Ngay sau khi hoàn thành giai đoạn 1, chúng ta đã quyết định đầu tư phát triển giai đoạn 2.
Thời điểm khởi công xây dựng Phở Lại 2, ngành điện đã có một quyết định táo bạo đó là sử dụng dây truyền tiên tiến
hiện đại ở các nước tư bản G7 và sử dụng vốn vay yêu đại ODA Nhật Bản.
Không thể không nhắc đến Thủy điện Hòa Bình, xứng tâm công trình kỳ vĩ của thế kỷ 20.
Công trình do Liên Xô thiết kế và cung cấp thiết bị được khởi công vào năm 1979 và khánh thành vào năm 1994.
Trên công trường quy mô lớn nhất Đông Nam Á thời điểm đó, cao điểm có đến 4 vạn công nhân làm việc.
Điểm đặc biệt của Thủy điện Hòa Bình là nhà máy có thiết kế nửa nằm trong núi,
đòi hỏi độ chính xác cao trong kỹ thuật thi công.
Để chống động đất và thấm đất, các chuyên gia Liên Xô đã áp dụng kinh nghiệm xây đập Thủy điện Aswan trên sông Ninh ở Ai Cập.
Trong 30 năm qua, Thủy điện Hòa Bình đã sản xuất khoảng 230 tỷ kWh.
Thời kỳ đầu vận hành, điện sản xuất từ nhà máy chiếm khoảng 40% toàn hệ thống.
Ngày nay, đến tham quan Thủy điện Hòa Bình, bạn sẽ thấy một khối bê tông đặc biệt lưu giữ bức thư tuyệt mật
của các nhà lãnh đạo, công trường, trong đó có trực ký của Tổng chuyên viên Liên Xô, người thế hệ Việt Nam 156.
Lã thư viết bằng tiếng Việt và tiếng Nga sẽ được bởi vào ngày đầu tiên của năm 2100.
Trong khi đó, ở miền Nam, tiêu biểu có nhà máy Thủy điện Trị An,
Thủy điện đầu tiên được xây dựng ở miền trong sau Ngày Thống nhất đất nước.
Một minh chứng nữa của tình bạn giữa Việt Nam và Liên Xô,
nơi bạn đã hỗ trợ chúng ta về xây dựng, tài chính và công nghệ với khoảng 500 chuyên gia, kỹ sư, kỹ thuật viện.
Để xây dựng công trình Thủy điện Trị An phải đào lắp 23 triệu mét khối đất đá,
580.000 mét khối bê tông, 73.000 tấn kết cấu thép,
thiết bị và huy động số lượng công nhân bình quân từ 8.000 đến 10.000 người tại công trường,
cao điểm nhất đạt đến 19.000 người.
Sau 4 năm xây dựng năm 1988, dòng chảy vạn kiếp của sông Đồng Nai qua thác Trị An
đã bị chặn lại với sự ra đời của nhà máy Thủy điện Trị An, bức thang cuối cùng trên sông Đồng Nai.
Sự ra đời đúng lúc của công trình này đã khép lại tình trạng thiếu hụt điện năng châm trọng
của miền Nam khi hằng tuần phải cắt điện từ 3 đến 5 ngày.
Thủy điện Trị An đã đảm bảo nguồn năng lượng cho phát triển kinh tế xã hội
của 16 tỉnh thành ở phía Nam, đảm bảo nguồn nước cho công nghiệp và sinh hoạt
của hơn 5 triệu dân, nguồn nước tưới cho hơn 20.000 hết tăng ruộng, đất, khu vực hạ liều.
Đến cuối thập niên 1980, với sự tham gia phát điện của một số nhà máy,
điện công suất lớn như nhiệt điện phả lại và thủy điện hòa bình,
miền Bắc bắt đầu xuất hiện tình trạng thừa điện.
Tổng chiều dài lượng điện dư thừa miền Bắc và miền Nam,
dự án đường dây siêu cao áp 500 kV Bắc Nam Mạch 1 đã được triển khai đầu tư xây dựng,
với tổng chiều dài là 1.487 km và 4 trạm biến áp 500 kW.
Thời điểm đó, công trình này đối mặt với rất nhiều nghi ngờ về khoa học, công nghệ,
khả năng thi công cũng như lượng vốn đầu tư của công trình.
Do đó, việc cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt phát lệnh khởi công đường dây 500 kV Bắc Nam
vào năm 1992 thực sự là một quyết sách táo bạo, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Thực tế văn hành đã chứng minh được rằng, chưa đầy 3 năm đầu tiên,
vốn bỏ ra để xây dựng đường dây 500 kV đã được thu hồi.
Đây là một trong những công trình điện lực lớn và có thời gian thu hồi vốn nhanh nhất.
Không chỉ truyền tài điện từ Bắc vào Nam, kể từ khi một số nhà máy điện lớn
ở miền Nam đi vào hoạt động, nguồn điện tại chỗ đã được đáp ứng.
Giai đoạn từ năm 1995-2005, đường dây 500 kV Bắc Nam lại thêm một lần nữa
chứng minh tính hiệu quả của nó khi thực hiện nhiệm vụ truyền tài được một lượng điện năng lớn
ra hỗ trợ cho miền Bắc, đặc biệt vào các thời điểm khô kiệt, hạn hán.
Quan trọng hơn, đường dây 500 kV Bắc Nam đã hoàn thành sứ mệnh thống nhất hệ thống điện
ba miền Bắc Trung Nam, trở thành biểu tượng cho một quốc gia thống nhất,
một nền kinh tế thống nhất.
Không chỉ cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế đất nước,
Việt Nam còn được biết đến là quốc gia đi đầu trong việc phát triển lưới điện nông thôn,
qua đó giúp cho hơn 17 triệu hộ dân nông thôn, vùng sông, vùng xa, vùng hải đảo
được tiếp cận điện năng.
Ngân hàng Thế giới đã đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện thành công
và đạt hiệu quả cao với đầu tư điện nông thôn.
Thực tế, tỷ lệ người dân được sử dụng điện tại Việt Nam đã cao hơn một số quốc gia
trong khu vực có điều kiện kinh tế bằng hoặc khá hơn như Indonesia, Philippines, Malaysia.
Đến nay, nước ta đã có một hệ thống điện vững chắc, 426 nhà máy điện
của các nhà đầu tư khác nhau, không kể các nhà máy thủy điện nhỏ.
Nhờ đó, Việt Nam đứng trong nhóm 29 nước có điện lực phát triển nhất của thế giới
và đứng đầu trong ASEAN.
Nhưng cùng với thành công đã đạt được, ngành điện ngày nay đối mặt nhiều thách thức
khi kinh tế, cuộc sống ngày càng phát triển, nhu cầu điện ngày càng tăng,
trong khi nạn hạn hán biến đổi khí hậu đang đe dọa an ninh năng lượng của nước ta.
Điều này, hè năm ngoái chúng ta đã chứng kiến rất rõ, nắng nóng, thủy điện cạn,
thàn cung ứng vật vở, miền Bắc đã lâm vào tình trạng thiếu điện,
phải cắt điện ở một số nơi.
Ngành điện đã phát triển thân kỳ trong 40 năm qua,
đó là thành tích to lớn cần phải công nhận.
Nhưng đồng thời, ngành điện cũng không thể ngủ quên trên chiến thắng,
mà cần phải liên tục đổi mới phát triển để đáp ứng ngày càng tốt hơn
nhu cầu điện sinh hoạt và sản xuất trong một thế giới ngày càng gần điện hơn.
