Vấn đề gây tranh cãi hiện nay là, hoạt động của con người ảnh hưởng như thế nào đến nhiệt độ và khí hậu? 1 độ C, hay 2 độ C? Phải chăng loài người có thể quyết định nhiệt độ và khí hậu của trái đất trong tương lai?
Nội dung chuyển thể từ video của kênh YouTube Thạch Sơn, chỉ phản ánh quan điểm cá nhân của tác giả.
Tại một số vùng của Hoa Kỳ, người ta đang chứng kiến một cuộc cánh mạng năng lượng xanh.
Nhiều người so sánh cuộc cánh mạng năng lượng xanh này với cuộc đại nhảy vọt ở Trung Quốc đại lục cách đây 60 năm.
Cuộc đại nhảy vọt của Mao Tránh Đông đã khiến hàng chục triệu người chết đói.
Còn cuộc đại nhảy vọt ở Hoa Kỳ liệu có để lại hậu quả nghiêm trọng như vậy hay không?
Có lẽ không một ai có thể lường trước một phần lớn trong gói kích thích kinh tế giá trị 2,3 nghìn tỷ đô la Mỹ của Tổng thống Biden
được tài trợ cho thứ gọi là năng lượng sạch.
Toàn bộ kế hoạch này nhằm mục đích giảm lượng khí thải carbon, giảm ô nhiễm và ngăn chặn sự nóng lên của khí hậu.
Xem xét kỹ kế hoạch năng lượng sạch của Hoa Kỳ sẽ thấy nhiều thứ có liên quan đến các vấn đề của phe cánh tả,
ví như thỏa thuận xanh mới.
Không phải ngẫu nhiên mà thỏa thuận xanh mới lại được đưa ra bởi một nhóm cánh tả ở New York.
Năm 2019, bang New York đã công bố đạo luật lãnh thạo khí hậu và bảo vệ cộng đồng,
mục tiêu khí hậu cấp tiến nhất ở Hoa Kỳ.
Trong đó quy định rằng vào năm 2050, bang này sẽ sử dụng điện không có carbon
và tất cả các công trình cải tạo, tiết kiệm năng lượng đều được khử carbon.
Hiện tại, cơ quan lập pháp của tiểu bang đang thúc giục thông qua
Đạo luật Đầu tư Cộng đồng và Khí hậu CCIA trước kỳ nghỉ hè.
Đạo luật này sẽ thực hiện một diệu kích thích đại nhảy vọt thông qua việc tu thuế carbon và giá nhiên liệu.
Những dư luật khí hậu này chứa đầy các thuật ngữ chiều tượng như khử carbon,
trung hòa carbon, truyền đổi công bằng.
Nhưng liệu điều này có thể ngăn chặn các thảm họa khí hậu khác như bão lốc?
Dù là năng lượng sạch hay việc không phát thải dòng,
hiệu quả của chúng còn tùy thuộc vào hậu quả trong thực tế.
Ông Roger Kayasa, một nhà khí tượng học đã làm việc trong ngành chất lượng không khí hơn 40 năm,
chỉ ra rằng việc chi một số tiền lớn để trợ giá cho năng lượng gió và mặt trời
sẽ đặt ra nhiều hạn chế hơn đối với sự phát triển kinh tế.
Đến năm 2100, tối đa chỉ có thể giảm được nhiệt độ xuống 0,0097 độ C, hầu như không có ích gì.
Điều quan trọng nhất là ngành khoa học khí hậu không thể khẳng định
liệu sự nóng lên toàn cầu có phải do con người gây ra hay không.
Những rủi ro mà các chính sách này mạo hiểm chẳng khác nào mua thiệt hại với giá cao,
gây hại cho người nghèo nhiều hơn và giúp đỡ họ.
Ông Kayasa tự gọi mình là một nhà môi trường thực dụng.
Ngày 23 tháng 4, ông đã công bố kết quả khảo sát lập pháp về luật đầu tư cộng đồng và khí hậu trên blog của mình.
Ông phân tích các quy định của đạo luật CCIA từ góc độ chuyên môn và giải thích về hậu quả mà CCIA sẽ gây ra.
Bạn nào quan tâm có thể tự mình tham khảo phần dưới đây.
Ông giới thiệu rằng tiên đế cơ bản của luật pháp của New York là sự tồn tại của một cuộc khủng hoảng khí hậu.
Nhưng các chính trị gia và cơ quan quản lý thường nhầm lẫn giữa khái nghiệm thời tiết và khí hậu
khi đưa ra giả thuyết nhằm giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu.
Điều này thường xảy ra.
Tiến sĩ William Breach cũng nói rằng đổ đỗi cho con người về thời tiết khắc nghiệt được gây ra bởi sự nóng lên toàn cầu
là quá tự tin và có thể sai lầm.
Ông giải thích rằng câu hỏi đầu tiên là làm thế nào để định nghĩa được tự nhiên.
Bởi một số người lầm tưởng rằng khí hậu trái đất chưa bao giờ thay đổi trước khi con người bắt đầu can thiệp vào trái đất.
Ông Breach giải thích rằng ông đã cố gắng gắn cho các vấn đề thời tiết và khí hậu bị ảnh hưởng do con người gây ra.
Dù bạn ước tính như thế nào thì cũng không thể xác minh điều này một cách độc lập.
Công cụ chính được sử dụng ngày nay để ước tính các nhân tố tác động là mô hình khí hậu.
Nhưng những mô hình đó trước tiên phải chứng minh khả năng dự đoán của chúng.
Nếu không thể hoặc không chính xác thì chúng cũng không đáng tin cậy.
Ông kết luận rằng chỉ vì cơ sở của việc nghiên cứu lại dựa trên những phỏng đoán này.
Do vậy là kết luận hoặc sai hoặc là quá tự tin.
Đoàn ủy nhiệm quản trị khí quyển và đại dương quốc gia NOAA ở Princeton, bang New Jersey kết luận.
Tóm lại, vẫn chưa đủ thuyết phục khi kết luận rằng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển tăng lên
do các hoạt động của con người gây ra có những tác động có thể phát hiện đã ảnh hưởng đến những cơn bão tại lưu vực Đại Tây Dương.
Ví dụ, luật năng lượng xanh của bang New York thường nói về tác động của các cơn bão đối với New York.
New York đã bị ảnh hưởng bởi một số cơn bão trong những năm gần đây
và điều này được sử dụng làm bằng chứng về việc biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, những dữ liệu thực tế lại cho thấy kết quả ngược lại.
Ông Roger Peel, giáo sư đại học Colorado kiêm chuyên gia khí hậu,
đã tổng kết số lượng các cơn bão đã đổ bộ tới đất liền.
Ông nhận thấy rằng chúng đã giảm dần kể từ đầu những năm 1960.
Do đó, ông Roger Cayetza tin rằng thứ gọi là rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu không tồn tại.
Vậy nên việc giảm phát thải khí nhà kính sẽ không có tác dụng.
Ngược lại, giảm khí nhà kính chắc chắn sẽ làm tăng chi phí năng lượng.
Các nhóm yếu thế sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn như giá điện, giá dầu tăng,
chi phí sinh hoạt về cơ bản cũng sẽ tăng cao.
Sẽ không có sự báo đáp nào đối với số tiền mà chính phủ chi cho việc giảm phát thải.
Thành thật mà nói, điều này cũng không mang lại một chút lợi ích nào cho các nhóm yếu thế.
Ông đã ước tính kế hoạch của New York và nhận thấy rằng vào năm 2100,
kiểm kê phát thải của GNCPA có thể làm giảm phạm vi nóng lên của khí hậu
từ khoảng 0,0097 độ C đến 0,0081 độ C, thấp hơn 1% độ C.
Quan điểm của ông Cayetza rất thú vị.
Trên thực tế, nhiệt độ của trái đất chúng ta đang sống không phải là bất biến.
Từ lịch sử có thể thấy đã có 3 kỷ băng hà lớn trong lịch sử,
hàng tỷ năm của trái đất và nhiệt độ thấp hơn nhiều so với các thời kỳ khác.
Thời gian gần đây nhất được gọi là kỷ băng hà thứ tư cũng chính là thời điểm chúng ta đang sống.
Nói cách khác, nhiệt độ của trái đất chúng ta đang sống hiện nay
thấp hơn nhiệt độ của trái đất trong hầu hết các thời kỳ.
Trong thời kỳ đại băng hà, cũng có thời kỳ tiểu băng hà
và những giai đoạn xen kẽ nhỏ giữa các kỷ băng hà nhỏ.
Nghe có vẻ khá phức tạp, nhưng nói thẳng ra nghĩa là trái đất lúc nóng, lúc lạnh.
Trái đất hiện nay nằm trong giai đoạn xen kẽ nhỏ giữa những kỷ băng hà lớn.
Đây là cách nói phổ biến trong cộng đồng khoa học về trái đất.
Nói theo cách này, cũng tương đương với thời tiết có mặt trời vào mùa đông.
Mặc dù khí hậu rất lạnh nhưng hai ngày đó vẫn khá ấm.
Một nghiên cứu khoa băng ở Bắc Cực của Nga đã kết luận rằng
trong 400.000 năm qua, nhiệt độ trung bình giữa các kỷ băng hà nhỏ của trái đất
trên nhau khoảng 10 độ C, có tổng cộng 5 chư kỳ.
Nhiệt độ của trái đất hiện nay là đỉnh điểm của chư kỳ thứ 5.
Nghiên cứu này cũng so sánh hàm lượng carbon dioxide.
Carbon dioxide quả thực tỷ lệ thuận với nhiệt độ trái đất.
Điều khiến nghiên cứu này trở nên thú vị là mối quan hệ giữa carbon dioxide và nhiệt độ.
Bởi con người đã công nghệ hóa khoảng 300 năm nên carbon dioxide từ đâu ra?
Do đó, lời giải thích duy nhất là carbon dioxide có thể là kết quả của sự tăng nhiệt độ của trái đất
chứ không phải là nguyên nhân.
Có thể nhiệt độ tăng lên là kết quả của sự gia tăng số lượng động vật lên gấp nhiều lần.
Nhân loại đã sử dụng công nghệ năng lượng mới để giảm được khí thải carbon.
Nếu có 100 kế hoạch lớn của tiểu bang New York trên trái đất thì lượng khí thải carbon
giảm được trong 80 năm sẽ chỉ tác động đến nhiệt độ trái đất chưa đến 1 độ C.
Hơn nữa, chúng ta cũng không biết mối quan hệ nhân quả giữa sự gia tăng nhiệt độ và lượng carbon dioxide.
Ngay cả khi nhiệt độ tăng, lẽ nào đây nhất định cứ phải là một điều xấu?
Ông Hứa Tịnh Hoa Kenneth Hsu, Hiệu trưởng Trường Khoa học Trái đất thuộc Viện Công nghệ Liên bang Zurich,
Thụy Sĩ trong những năm 1970 và 1980, là người Đài Loan.
Theo lịch sử phát triển của xã hội loài người trong chú kỳ biến đổi khí hậu toàn cầu trong lịch sử
đã chứng minh rằng thời kỳ xen kẽ nhỏ trên toàn cầu là thời kỳ thích hợp nhất
cho sự phát triển phồn vinh của xã hội nhân loại.
Kỳ bang hà nhỏ khiến sản lượng nông nghiệp giảm, dẫn đến lặng đói và di cư chủng tộc.
Nói cách khác, khí hậu ấm lên sẽ tốt hơn nhiều cho nhân loại.
Ngược lại, nếu khí hậu lạnh đi, sẽ có nhiều thảm họa hơn xảy ra.
Ông tin rằng trong suốt 200 năm, từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17,
trên khắp thế giới thường xuyên xảy ra các trận động đất mạnh.
Các thảm họa thiên nhiên khác cũng tập trung như bệnh dịch hạch,
khiến nhiệt độ hạ thấp nghiêm trọng và gây thiệt hại do bị đóng băng.
Đây được gọi là kỳ bang hà nhỏ.
Những người ủng hộ Thỏa thuận Xanh mới hiện nói rằng
Vâng, đúng vậy.
Bất kỳ sự thay đổi khí hậu nào cũng sẽ tạo ra các vấn đề xã hội của con người.
Việc giảm nhiệt độ cũng gây ra nhiều vấn đề như vậy.
Nhưng tại sao nhiệt độ trái đất lại thay đổi?
Ông hứa tịnh hoà tin rằng từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17,
trong thời kỳ vết đen mặt trời cực tiểu, mặt trời hoạt động ở trạng thái có giá trị thấp
rất có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng khí hậu của kỳ bang hà nhỏ.
Bất kỳ nhiệt độ của trái đất có tác động đến xã hội loài người hay không,
thì sự thay đổi nhiệt độ của trái đất chủ yếu là do hoạt động của vết đen mặt trời gây ra.
Các nhà khoa học về trái đất thông thường đều bị thuyết phục về điều này.
Tất nhiên là như vậy.
Mặt trời là nguồn năng lượng lớn nhất trong hệ mặt trời
nên bất kỳ sự thay đổi nào của nó cũng sẽ có tác động rất lớn.
Vấn đề gây tranh cãi hiện nay là
Hoạt động của con người ảnh hưởng như thế nào đến nhiệt độ và khí hậu?
1 độ C hay 2 độ C?
Phải chăng loài người có thể quyết định nhiệt độ và khí hậu của trái đất trong tương lai?
Nếu hỏi các nhà địa chất học hoặc các nhà địa cầu học
hầu hết họ sẽ giữ thay đội phủ định.
Bởi từ góc độ lịch sử của trái đất
hoạt động của con người có thể có gây ảnh hưởng nhất định
nhưng không mang tính quyết định.
Vì vậy, nếu nhân loại đã thay đổi hoàn toàn cách chúng ta sử dụng năng lượng,
thay đổi hệ thống năng lượng, thay đổi hình thức và cách sống,
nhiệt độ của trái đất sẽ giảm xuống 2 độ C sau 100 năm.
Chỉ ít bản thân tôi cũng thấy điều này khá hoang đường.
Xét từ một góc độ khác,
sự tiến bộ của nền văn minh nhân loại
cũng có thể được coi là sự tiến bộ trong việc sử dụng năng lượng.
Bắt đầu con người bắt đầu sử dụng lửa,
sau đó là sự phát triển của các công cụ sau thời kỳ đủ đá mới.
Sau khi sử dụng than đá mới có máy mắc,
sau khi sử dụng dầu mò một kỷ nguyên mới lại mở ra.
Việc theo đuổi và phát triển các nguồn năng lượng mới của nhân loại
sẽ không dừng lại.
Thế hệ năng lượng tiếp theo rất có thể là năng lượng hẳn nhân,
chứ không phải năng lượng mặt trời và năng lượng gió.
Lấy ví dụ như năng lượng mặt trời.
Năng lượng mặt trời không phải nói đến việc chúng ta cùng nhau đi phơi nắng.
Nó yêu cầu các tấm pin mặt trời và pin hiệu suất cao hơn.
Việc sản xuất các tấm pin mặt trời
cần sử dụng đến silicon đơn tinh thể và silicon đa tinh thể.
Tất cả đều là kỹ thuật khai tháp, nung chảy và hóa học.
Chưa nói đến pin, kỳ riêng nguyên tố đất hiếm
hay chất lỏng gốc acid đều là những hành sản xuất gây ồ nhiễm.
Ngày nay, hầu hết các tấm pin và pin được sử dụng
ở Hoa Kỳ và châu Âu được mua từ Trung Quốc đại lục.
Các nước châu Âu và châu Mỹ cảm thấy sạch sẽ và không bị ồ nhiễm.
Nhưng ồ nhiễm lại xảy ra ở Trung Quốc đại lục,
chủ yếu ở phía Tây Nội Mông và Tân Cương.
Sự ồ nhiễm này kỳ thực đã bị giữ lại trên trái đất.
Khí thể carbon cũng vẫn tồn tại trên trái đất.
Liệu sự thay đổi này có giúp thay đổi khí hậu hay không?
Ngoài việc sản xuất ra, con người còn phải xử lý chất thải.
Dù là tấm pin năng lượng mặt trời hay pin thì tuổi thọ của chúng cũng chỉ khoảng 10 năm
Sau đó phải xử lý những tấm pin và pin cũng này như thế nào?
Lấy Trung Quốc đại lục làm ví dụ,
các chuyên gia tin rằng số lượng các loại pin thải khác nhau
sẽ tăng từ 80 đến 100 lần trong 10 năm tới.
Nên xử lý những chất thải gây ồ nhiễm cao này như thế nào?
Liệu giá trị do năng lượng mới tạo ra có đủ giải quyết những vấn đề này
và mang lại nhiều lợi ích hơn cho nhân loại?
Nhiều chuyên gia đã tranh đoạn sôi nổi.
Trên thực tế, đây không phải là vấn đề kinh tế và khoa học.
Đôi khi nó là một vấn đề chính trị thì đúng hơn.
Do điều cốt lõi, đằng sau những điều thay đổi trong việc sử dụng năng lượng
và hệ thống năng lượng là những thay đổi lớn về việc
phân chia của cả lợi ích, quyền lợi và sự thống trị.
Tại Hoa Kỳ, phe cánh tả có thay đội thù địch với
ngành công nghiệp dầu mỏ suốt một thời gian dài.
Bắt đầu từ ông Rockefeller.
Trên thực tế, ở các nước khác cũng vậy,
các công ty dầu khí là biểu tượng của chủ nghĩa tư bản.
Để giảm bớt tầm quan trọng trong ngành dầu mỏ,
trong GDP, cách tốt nhất là cần tìm một công nghệ mới thay thế nó.
Điều này khá hấp dẫn với phe cánh tả.
Như vậy họ sẽ có thể tiêu diệt chủ nghĩa tư bản.
Mọi người thử nghĩ xem, ngành công nghiệp dầu khí
không chỉ có xăng mà còn có hóa chất và các vật liệu sản xuất khác nhau.
Một khi ngành công nghiệp dầu khí với tư cách là
nguồn năng lượng chính bị ảnh hưởng thì toàn bộ cơ chế
mà nền văn minh hiện đại mà con người phụ thuộc vào
đều có thể bị ảnh hưởng rất nhiều.
Hậu quả cuộc đại nhảy vọt của phe cánh tả này
có thể rất đáng sợ.
Năm 1958, Mao Trạch Đông phát động đại nhảy vọt
và yêu cầu hợp tác xã, tổ chức xã hội chủ nghĩa
ở nông thôn mà ông ta thúc đẩy mạnh mẽ tăng sản lượng lương thực.
Kết quả là các chính quyền địa phương
đã báo cáo sai lệch về sản lượng nông nghiệp,
tạo ra hàng chục nghìn cân lương thực trên mỗi mẫu đất.
Rất nhiều người nghi ngờ về tính hợp lý của sản lượng này.
Một nhà khoa học hàng đầu trở về Trung Quốc
sau khi học tập tại Hoa Kỳ đã viết một bài luận
Ông nói rằng nếu có thể sử dụng 30% năng lượng
của ánh sáng mặt trời 667m2,
cộng với đủ nước và phân bón,
thì sản lượng 20 tấn lương thực mỗi mẫu sẽ không thành vấn đề.
Không ai chú ý đến tiền đề của nhà khoa học này
là cần sử dụng 30% ánh sáng mặt trời
và các điều kiện khác bởi mọi người không hiểu.
Mọi người sẽ chỉ chú ý đến một mẫu đất
có thể cho ra sản lượng 20 tấn thấp.
Vậy nên yêu cầu của Mao Triết Đông
không phải là điều bất hợp lý.
Tiết quả là đại nhầy vọt của Đảng Cộng sản Trung Quốc
phát triển nhanh chóng cuối cùng đã khiến 30 triệu người chết vì đói.
Nhà khoa học này không hề sai
bởi kết luận của ông có nhiều điều kiện tiền quyết.
Cái sai nằm ở tính chính trị phía sau
và đúng đắn chính trị đã át đảo hết thảy.
Đây là một bài học lớn người Trung Quốc
đã phải mất đi 30 triệu sinh mạng
để đổi lấy một bài học đắt giá.
Các nhà hoạch định chính sách năng lượng xanh của Hoa Kỳ
cũng đang đặt ra một loạt điều kiện tiền quyết như vậy.
Những lập luận đó của các nhà khoa học có thể không sai
nhưng việc thao túng chính trị phía sau
không nhất thiết phải xem xét đến các vấn đề khoa học.
Đa phần là vấn đề giành được nhiều quyền lực xã hội
và các quyền lực chính trị hơn.