Nhân loại đã xây dựng hàng nghìn năm văn minh, không ngừng chiến thắng sự mông muội hoang dã (dã man), khiến “kẻ thù truyền kiếp” ấy lùi xa khỏi cuộc sống của chúng ta. Nhưng thứ ngày nay có thể hủy diệt nhân loại văn minh lại chính là sự “tự hủy” do chính con người văn minh đánh mất đạo đức gây ra.
- Tiếp theo kỳ trước
6. Chính sách vô đạo đức
6.1. Chính sách đối với Trung Quốc: lấy thỏa hiệp chính trị đổi lấy lợi ích kinh tế
Trước sự cám dỗ của Trung Cộng, sự tính toán lợi ích của các chính khách phương Tây, sự vận động hành lang của giới thương mại, cộng thêm sự dẫn dắt sai lệch của truyền thông và học giả, đã tạo nên chính sách giả dối và vô trách nhiệm nhất của chính trị hiện đại phương Tây: chính sách đối với Trung Quốc lấy thỏa hiệp chính trị đổi lấy lợi ích kinh tế.
Trung Cộng dùng phương thức vô đạo đức nhường lợi ích kinh tế để mua sự thỏa hiệp quốc tế
Cuộc thảm sát Thiên An Môn khiến Trung Cộng mất tính chính danh cầm quyền, sự giải thể triệt để của phe cộng sản thế giới cuối năm 1991 khiến Trung Cộng mất tính chính danh về ý thức hệ. Tiếp đó, chuyến Nam tuần năm 1992 của Đặng Tiểu Bình với phương châm “không tranh luận” đã cưỡng chế đè nén sự cố chấp của phái bảo thủ Trung Cộng về các vấn đề ý thức hệ như xã hội chủ nghĩa, chống diễn biến hòa bình, v.v., thực chất là mặc nhận sự thất bại của ý thức hệ cộng sản bằng cách im lặng, đồng thời toan khởi động lại cải cách để cứu vãn tính chính danh cầm quyền của Trung Cộng. Bất hạnh thay, kẻ thực tế cầm quyền là Giang Trạch Dân lại mượn cơ hội thi hành chế độ mang tính tham nhũng, tàn hại trung lương, ngược lại khiến Trung Cộng mất thêm cả một chút chính danh về đạo đức còn lại, mà chính danh đạo đức này không phải của Trung Cộng, chỉ là do một số cá nhân vẫn còn chưa mất hết lương tâm trong chế độ cố gắng duy trì. Chính quyền tà ác vừa không có tính chính danh cầm quyền, vừa không có tính chính danh ý thức hệ, càng không có tính chính danh đạo đức này, lại dùng phương thức vô đạo đức kéo người xuống nước, nhường lợi ích kinh tế để mua sự thỏa hiệp của cộng đồng quốc tế.
Về điều này, Trung Cộng chẳng hề che giấu mà công khai gọi là “ngoại giao đơn hàng”. Những tiêu đề như “Sarkozy thăm Trung Quốc, giới công thương Pháp nhận món quà lớn 20 tỷ euro từ Trung Quốc”, “Cameroon thăm Trung Quốc hạ màn, ‘ngoại giao đơn hàng’ kết quả trĩu cành”, “Ngô Bang Quốc mang đến cho Pháp sáu hợp đồng lớn”, “Trung Quốc sang châu Âu mua sắm thể hiện trí tuệ nước lớn, 13 tỷ nhuốm màu ‘ngoại giao đơn hàng’”, hầu như đi kèm với mọi bản tin về việc lãnh đạo Trung Cộng thăm các nước phương Tây hoặc lãnh đạo phương Tây thăm Trung Quốc. Khi đoàn đại biểu Trung Cộng thăm Mỹ đàm phán gia nhập WTO năm 1999, trưởng đoàn thậm chí nói thẳng thừng là đến để làm người Mỹ “hạ hỏa”.
So với sự cám dỗ lợi ích trần trụi của Trung Cộng, thế giới tự do phương Tây vẫn còn có sự kiêng dè bề ngoài. Mấy chục năm qua, để biện minh cho chính sách đối với Trung Quốc của mình, thế giới tự do ở các giai đoạn khác nhau đã có mấy kiểu lập luận khác nhau, đại thể có thể tổng kết thành thuyết “thúc đẩy dân chủ nhân quyền”, thuyết “tiếp xúc giao lưu”, và thuyết “Trung Quốc tiến bộ”.
Thuyết “thúc đẩy dân chủ nhân quyền” là lập luận chủ yếu mà các công ty đa quốc gia dùng để vận động gỡ khó nhằm giao dịch với Trung Cộng trong mấy năm đầu sau thảm sát Thiên An Môn, khi Trung Cộng đối mặt với khủng hoảng tính chính danh nghiêm trọng cả trong nước lẫn quốc tế. Bộ lập luận này bao gồm: ủng hộ phái cải cách của Trung Cộng, thúc đẩy thị trường hóa kinh tế Trung Quốc để từ đó thúc đẩy dân chủ hóa chính trị Trung Quốc, giúp kinh tế Trung Quốc phát triển để thúc đẩy Trung Cộng cải thiện nhân quyền, v.v.. Đây là chú giải ban đầu cho chính sách đối với Trung Quốc của phương Tây sau thảm sát Thiên An Môn, sơ tâm lúc bấy giờ quả thực cũng khó chê trách.
Nhưng, nếu mục đích của một chính sách là thể hiện chân thật giá trị nội tâm của người hoạch định nó, thì người hoạch định ấy nhất định sẽ dốc sức để chính sách được thực hiện. Đồng thời, luân lý quyền-trách tương xứng của chính trị dân chủ hiện đại cũng quyết định rằng người hoạch định một chính sách phải chịu trách nhiệm về hậu quả của chính sách đó. Nếu mục đích thật sự của chính sách đối với Trung Quốc của thế giới tự do phương Tây là cải thiện nhân quyền Trung Quốc, thì khi không đạt được mục đích ấy, người hoạch định chẳng những tất phải nghiêm túc kiểm điểm những khiếm khuyết của chính sách và việc thực thi nó, mà nhất định còn tìm cách bù đắp cho những người bị tổn hại bởi sai lầm của chính sách ấy. Tuy nhiên thực tế có như vậy không?
Ai đứng ra gánh sai lầm của chính sách “thúc đẩy Trung Cộng cải thiện nhân quyền”?
Hiện thực tàn nhẫn của mấy chục năm sau đó là nhân quyền Trung Quốc liên tục xấu đi. Những nhóm người thảm khốc bị bức hại vì thế, từ nhân sĩ phong trào sinh viên, phong trào dân chủ, đến nạn nhân các “làng AIDS”, đến hàng chục triệu công nhân bị thất nghiệp nhân tạo do quan chức thôn tính nhà máy xí nghiệp, đến hàng trăm triệu học viên Pháp Luân Công, đến hàng trăm triệu nông dân mất nguồn sống vì bị cưỡng chế trưng thu đất đai, đến hàng chục triệu cư dân thành thị bị cưỡng chế phá dỡ nhà cửa, đến các luật sư bảo vệ nhân quyền ngày càng bị đàn áp cho đến bức hại, v.v., thế mà chưa từng thấy các chính khách phương Tây hoạch định chính sách “thúc đẩy Trung Cộng cải thiện nhân quyền” kiểm điểm sai lầm của chính sách ấy, cũng chưa thấy họ thể hiện bất kỳ cảm thức trách nhiệm nào trong việc giúp đỡ và cứu vớt những nạn nhân này.
Điều này trái với thông lệ trong lịch sử nước Mỹ, như sự quan tâm và bồi thường cho nhân dân Hàn Quốc sau Chiến tranh Triều Tiên, hay sự quan tâm và bồi thường cho nhân dân Việt Nam sau Chiến tranh Việt Nam.
Ai phải chịu lỗi và chịu trách nhiệm cho chính sách thỏa hiệp này? Điều gì đã khiến chế độ dân chủ nhắm mắt làm ngơ, không thể sửa chữa sai lầm trọng đại và chính sách thất bại này? Đây là vấn đề rất đáng suy ngẫm sâu xa.
Mọi tính chính danh mà Trung Cộng đòi hỏi từ thế giới tự do đều được như nguyện
Tương phản rõ rệt với việc nhân quyền Trung Quốc không ngừng xấu đi dưới chính sách đối với Trung Quốc mang danh “thúc đẩy Trung Cộng cải thiện nhân quyền” của thế giới tự do phương Tây, là việc hai mươi năm qua mọi tính chính danh chính trị mà Trung Cộng đòi hỏi từ thế giới tự do phương Tây đều được như nguyện: ví dụ quy chế tối huệ quốc trong thương mại với Mỹ (MFN), việc tách thương mại Mỹ-Trung khỏi nhân quyền Trung Quốc, quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn với Mỹ (PNTR), gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đăng cai Thế vận hội 2008, v.v..
Không chỉ vậy, mỗi lần thế giới tự do phương Tây nhường lợi cho Trung Cộng về lợi ích chính trị như kể trên, những người hoạch định chính sách đối với Trung Quốc đều biện hộ bằng câu “đây là cơ hội thúc đẩy Trung Cộng cải thiện nhân quyền”. Và sau mỗi lần “cơ hội” như thế trôi qua, lại có thêm nhiều dân chúng Trung Quốc trở thành nạn nhân của sự bức hại nhân quyền của Trung Cộng. Còn những người hoạch định chính sách đối với Trung Quốc kia thì bất chấp những nạn nhân ấy, chỉ lo đi tìm “cơ hội” tiếp theo. “Thúc đẩy Trung Cộng cải thiện nhân quyền” chẳng những không phải là mục đích thật của chính sách đối với Trung Quốc của thế giới tự do phương Tây, ngược lại còn trở thành cái cớ để nhường lợi ích chính trị cho Trung Cộng.

Biểu tình phản đối Olympic Bắc Kinh 2022 tại Canada, gọi đây là “Olympic Diệt chủng”. (Ảnh: Wirestock Creators, Shutterstock)
Từ nhận lợi ích Trung Cộng nhường cho đến đòi Trung Cộng nhường lợi
Tương ứng với việc Trung Cộng không ngừng nhận được tính chính danh chính trị từ phương Tây là việc phương Tây không ngừng nhận được sự nhượng bộ của Trung Cộng về lợi ích kinh tế, thậm chí từ chỗ nhận lợi ích Trung Cộng nhường cho đến chỗ đòi Trung Cộng nhường lợi. Hai mươi năm qua, sự quan tâm và áp lực của phương Tây về vấn đề nhân quyền của Trung Cộng chưa bao giờ nghiêm túc, kiên trì như trong các vấn đề kinh tế, thương mại. Trọng tâm thật sự của chính sách đối với Trung Quốc của phương Tây là gì, ai là kẻ thụ hưởng thật sự của chính sách này, thuyết “thúc đẩy dân chủ nhân quyền” có chân thành không, có đứng vững không, sự thật hùng hồn hơn mọi lời biện luận.
Thuyết “tiếp xúc giao lưu” xuất hiện cùng lúc với thuyết “thúc đẩy dân chủ nhân quyền”. Lập luận ban đầu là: bao vây cô lập sẽ khiến phái bảo thủ Trung Cộng bế quan tỏa cảng, bất lợi cho phái cải cách của Trung Cộng.
Đến năm 2008, sau khi phương Tây bị khủng hoảng tài chính giáng đòn nặng, lập luận này diễn biến thành “Trung Cộng quá mạnh, không thể đối kháng, chỉ có thể tiếp xúc giao lưu”. Thế nhưng, “tiếp xúc giao lưu” đâu có nghĩa là nhất định phải trao cho tính chính danh chính trị hay tính chính đáng đạo nghĩa. Bất kể Trung Cộng tỏ ra mạnh mẽ thế nào, nó vẫn là kẻ cầu xin phương Tây trao cho tính chính danh chính trị, thế giới tự do sao có thể là “đành phải vậy”? Trung Cộng cũng luôn đòi phương Tây công nhận nền kinh tế thị trường, vì sao phương Tây lại có thể mãi không trao tính chính danh ấy? Nguyên nhân thật chẳng phải là: trao cho Trung Cộng tính chính danh chính trị chỉ liên quan đến đạo nghĩa, còn trao cho Trung Cộng sự công nhận kinh tế thị trường thì liên quan đến lợi ích thực tế hay sao?
Xem xét vô số tranh chấp kinh tế giữa thế giới tự do phương Tây và Trung Cộng hiện nay: bao nhiêu là tranh chấp đạo nghĩa thật sự? Bao nhiêu là tranh chấp lợi ích? Bao nhiêu là lấy “nhân quyền” làm lời lẽ để ép Trung Cộng nhường lợi nhiều hơn, lớn hơn? Như vậy, phương Tây chơi cùng một trò chơi với Trung Cộng, cùng đứng trong vũng bùn nhơ nhớp của cuộc chiến lợi ích và lòng tham.
6.2. Nhân loại vì lòng tham đang tự hủy văn minh của chính mình
Nếu thế giới tự do phương Tây có thể đưa ra cách giải đọc đúng đắn dựa trên đạo nghĩa…
Tiếp xúc giao lưu hay bao vây kiềm chế đều là thủ đoạn chứ không phải mục đích. Trên đời tuyệt không có chính sách tiếp xúc giao lưu lấy tiếp xúc giao lưu làm mục đích, cũng tuyệt không có chính sách bao vây kiềm chế lấy bao vây kiềm chế làm mục đích. Lấy Chiến tranh Lạnh làm ví dụ: thế giới tự do phương Tây trong mấy chục năm đối đầu với phe cộng sản Liên Xô, trong đó vừa từng dùng bao vây, vừa từng dùng tiếp xúc, nhưng giá trị kiên trì nhân quyền, tự do, pháp trị, phản đối độc tài nô dịch của họ chưa từng dao động, càng chưa từng nhường cho Liên Xô bất kỳ tính chính đáng đạo nghĩa nào. Đặc biệt là Tổng thống Reagan: sự tiếp xúc giao lưu với phe cộng sản Liên Xô được tiến hành thông qua việc kiên trì giá trị và nguyên tắc của thế giới tự do, đã dẫn đến những biến đổi bên trong Liên Xô. Chính sự kiên trì giá trị của thế giới tự do mới giành được thắng lợi đạo đức trước chế độ dã man cộng sản Liên Xô. Đặc biệt cần chỉ ra là, nhờ lý niệm kiên định và rõ ràng, nước Mỹ trong giai đoạn này ngược lại là thời kỳ ít cần dùng đến thủ đoạn ngoại giao kịch liệt hay hành động quân sự nhất kể từ sau Thế chiến thứ hai.
Xét về chính sách đối với Trung Quốc: trước năm 1972, phương Tây đối với Trung Cộng về cơ bản là vừa phớt lờ vừa kiềm chế. Đến khi Nixon thăm Trung Quốc, Trung Cộng sau nhiều kiếp nạn đấu đá nội bộ bao gồm cả Cách mạng Văn hóa, đã vừa không còn sức khiêu chiến với Liên Xô, vừa không còn sức xuất khẩu cách mạng sang các nước lân cận, đành phải làm nhạt màu sắc ý thức hệ, vui lòng làm chuẩn-đồng-minh của thế giới tự do phương Tây trong Chiến tranh Lạnh chống phe cộng sản Liên Xô. Đặc biệt trong tám năm nhiệm kỳ Tổng thống Reagan, quan hệ chuẩn-đồng-minh này chẳng những cung cấp cho Trung Quốc một môi trường hòa bình để nghỉ ngơi dưỡng sức, trở thành tám năm vàng của cải cách Đặng – Hồ – Triệu, đồng thời cũng là thời kỳ các lý niệm nhân quyền, pháp trị, kinh tế thị trường v.v. của phương Tây tiến vào Trung Quốc thuận lợi nhất và được các tầng lớp xã hội tiếp nhận phổ biến; hai bài diễn thuyết của chính Reagan tại Trung Quốc đã ảnh hưởng đến vô số sinh viên trẻ. Nhờ chiếm giữ đỉnh cao đạo đức, chính sách đối với Trung Quốc của phương Tây trong suốt Chiến tranh Lạnh, dù là kiềm chế thuở đầu hay chuẩn kết minh về sau, đều có ảnh hưởng chính diện và tích cực đối với Trung Quốc.
Sau thảm sát Thiên An Môn, lệnh cấm vận vũ khí của phương Tây đối với Trung Cộng, cuộc tranh luận của Quốc hội Mỹ về quy chế tối huệ quốc của Trung Cộng, lời phê bình của Clinton khi tranh cử đối với chính sách Trung Quốc của Tổng thống Bush cha, những điều này đều là biểu hiện phương Tây một thời kiên trì đạo nghĩa, và quả thực đã có tác dụng kiềm chế nhất định đối với Trung Cộng trong việc bức hại nhân quyền. Việc Đặng Tiểu Bình Nam tuần, từ bỏ ý thức hệ cộng sản, bản thân nó là kết quả của áp lực tình thế quốc tế. Ngay cả việc Trung Cộng dùng nhường lợi ích kinh tế để đòi phương Tây trao tính chính danh chính trị cũng là do áp lực quốc tế tạo thành. Nếu thế giới tự do phương Tây có thể đưa ra cách giải đọc đúng đắn dựa trên đạo nghĩa đối với những điều này, thì đã có thể hoạch định được chính sách đối với Trung Quốc thúc đẩy, quy phạm công cuộc cải cách được khởi động lại thời Đặng Tiểu Bình tiếp tục đi sâu theo hướng có lợi cho sự phát triển lành mạnh của xã hội Trung Quốc.
Bất hạnh thay, phương Tây đã chọn tham lam lợi ích kinh tế mà Trung Cộng nhường cho, từ bỏ trách nhiệm đạo nghĩa đối với các lý niệm giá trị nhân quyền, tự do, pháp trị.
Những giá trị này tuyệt không phải là trách nhiệm có thể gánh hay không tùy ý
Các giá trị nhân quyền, tự do, pháp trị, tuy chủ yếu xuất hiện dưới dạng lý niệm của thế giới tự do phương Tây, và cuối cùng xác lập tính phổ quát toàn cầu thông qua việc thế giới tự do chiến thắng phe cộng sản Liên Xô, nhưng những lý niệm giá trị này tuyệt không thể xem là chỉ thuộc về phương Tây; thế giới tự do cũng tuyệt không thể xem việc những giá trị này có xuyên suốt chính sách đối ngoại của mình hay không là trách nhiệm gánh hay không tùy ý.
Đó là vì, sự sản sinh và xác lập những giá trị này không chỉ đến từ sự tìm tòi và thực hành chính diện của các nhà tư tưởng, chính trị gia từ Hy Lạp cổ đại cho đến phương Tây cận đại, mà còn đến từ bài học bằng máu của vô số nạn nhân của sự dã man dưới các hình thức khác nhau, ở các nền văn hóa khác nhau, các thời đại khác nhau trên toàn thế giới, bao gồm cái giá của hàng trăm triệu sinh linh trong hai cuộc thế chiến và Chiến tranh Lạnh. Không có cuộc bức hại tôn giáo xảy ra ở châu Âu thì chưa chắc có sự thành lập nước Mỹ; không có kiếp nạn của người Do Thái trong Thế chiến thứ hai thì chưa chắc có “Tuyên ngôn Nhân quyền Thế giới”. Nhìn từ góc độ rộng hơn: không có lịch sử bi thảm của nhân dân châu Phi bị nô dịch thì chưa chắc có sự minh xác hơn nữa của Lincoln về lý niệm “của dân, do dân, vì dân”; không có “Sự kiện Hungary”, “Mùa xuân Praha”, cho đến thảm sát Thiên An Môn, thì nhận thức của văn minh nhân loại về nhân quyền, tự do, pháp trị không thể sâu sắc như ngày nay. Từ những góc độ này mà nói, sự xác lập lý niệm nhân quyền, tự do, pháp trị là quá trình và kết quả của văn minh nhân loại chiến thắng dã man, có được bằng cái giá của vô số sinh mệnh. Chính phủ hiện đại được xây dựng dựa trên những lý niệm này, đối với những lý niệm ấy tất nhiên mang trách nhiệm đạo nghĩa như lời Tổng thống Lincoln: “không để người đã khuất hy sinh vô ích”; đối với những dân tộc hướng về và dựa vào những lý niệm này để phản kháng bạo chính dã man, tất nhiên mang trách nhiệm đạo nghĩa ủng hộ, tối thiểu là trách nhiệm đạo nghĩa không tiếp tay nuôi lớn năng lực bức hại nhân dân của bạo chính dã man.
Thế giới tự do tìm kiếm tính chính danh cho việc trọng lợi khinh nghĩa
Thế giới tự do phương Tây vì lợi ích mà không ngừng trao cho Trung Cộng tính chính danh chính trị, lại trực tiếp nuôi lớn năng lực đàn áp nhân dân của Trung Cộng. Vậy tính chính nghĩa của cách làm này nằm ở đâu?
Thế giới tự do đành phải tìm kiếm, chế tạo tính chính danh cho cách làm trọng lợi khinh nghĩa này của mình. Thuyết “Trung Quốc tiến bộ” chính là sản phẩm của nó. Giống như ma quỷ dụ dỗ Faust ký khế ước, sự cám dỗ lợi ích của Trung Cộng và lòng tham của nhân loại đã trói buộc việc Trung Cộng tìm kiếm tính chính danh cầm quyền và đạo đức với việc thế giới tự do tìm kiếm tính chính danh cho sự bán rẻ nguyên tắc vào làm một. Để chứng minh mình không phải đang giao dịch với ma quỷ, cách tốt nhất là tô vẽ cho Trung Cộng: hoặc bới lông tìm vết để lôi ra những biểu hiện “tiến bộ” nhân quyền của Trung Cộng mà ca ngợi, hoặc nhấn mạnh những kế hoạch chuẩn bị tiến bộ của Trung Cộng để cho Trung Cộng thời gian và sự kiên nhẫn, hoặc bày tỏ sự thấu hiểu nhu cầu duy trì ổn định của Trung Cộng để mặc nhận sự đàn áp nhân dân của nó, hoặc phiến diện làm nổi bật “thành tích” phát triển kinh tế của Trung Cộng.
Việc Trung Cộng có thể tuyên bố hiện nay là thời kỳ nhân quyền tốt nhất của Trung Quốc mà không bị đả kích trên thế giới, tuyệt không phải ngẫu nhiên. Hơn thế nữa, giới thương mại, truyền thông phương Tây phối hợp với Trung Cộng tung ra “mô hình Trung Quốc”, nhất thời thành trào lưu, còn lấy đó làm căn cứ để hạ thấp và phê phán giá trị phương Tây, thậm chí cho rằng “mô hình Trung Quốc” sẽ “thống trị thế giới”. Có thể tưởng tượng “mô hình Quốc xã” hay “mô hình Liên Xô” được tuyên truyền như thế trong thế giới tự do, thậm chí sắp “thống trị thế giới” không? Thế giới tự do từng trả giá bằng vô số sinh mệnh và cái giá khổng lồ để chiến thắng Quốc xã và Liên Xô, thế mà sau khi lý niệm của mình giành được thắng lợi huy hoàng nhất, lại vì chút tư niệm và lòng tham mà tự hạ thấp những lý niệm ấy, đem đổi chác thành lợi ích. Đây chẳng phải là nhân loại vì lòng tham của chính mình mà đang tự hủy văn minh nhân loại sao?
Nếu nói thuyết “thúc đẩy dân chủ nhân quyền” và thuyết “tiếp xúc giao lưu” còn thuộc trò chơi chữ nghĩa và giả dối, thì thuyết “Trung Quốc tiến bộ” là sự tự lừa mình và lừa người bất chấp sự thật. Muốn chế tạo ra “Trung Quốc tiến bộ” từ tình trạng nhân quyền Trung Quốc không ngừng xấu đi, thì tất phải bất chấp sự bức hại nhân quyền nghiêm trọng nhất.
Giang Trạch Dân năm 1999 phát động cuộc đàn áp đẫm máu nhắm vào một trăm triệu học viên Pháp Luân Công, đến nay đã kéo dài hàng chục năm. Trong cuộc bức hại chính trị và bức hại tín ngưỡng toàn quốc như thụt lùi về thời Cách mạng Văn hóa này, Trung Cộng huy động toàn bộ bộ máy nhà nước, thậm chí ngụy tạo vụ án giả tự thiêu Thiên An Môn để kích động toàn xã hội thù hận và tham gia bức hại học viên Pháp Luân Công; hàng triệu học viên Pháp Luân Công bị bắt giữ phi pháp, thảm khốc chịu tra tấn cực hình, đầu độc bằng thuốc. Do sự phong tỏa thông tin nghiêm ngặt của Trung Cộng, đến nay không thể biết bao nhiêu người bị bức hại đến chết, nhưng chỉ theo thông tin đã biết thì đã có mấy nghìn người bị tra tấn bằng những cực hình tàn nhẫn nhất đến chết.
Chính sách đối với Trung Quốc chỉ tính lợi ích không nói lý niệm mang đến tổn hại cực lớn
……
Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn2.net/van-hoa/su-that-ve-giang-trach-dan-13-2-long-tham-cua-nhan-loai-su-sup-do-cua-van-minh.html


Bình luận