“Hợp chúng quốc Hoa Kỳ” từng một thời là hy vọng của nhân loại. Trong lý niệm của các vị cha lập quốc Hoa Kỳ tỏa rạng ánh sáng của văn minh cổ xưa, dù nó có một phần quan tâm đến việc giải quyết vấn đề vật chất, nhưng nỗi khát khao tự do mãi mãi cao hơn mọi khao khát hiện thực. Hàm nghĩa căn bản nhất của thứ tự do này là: mỗi người đều có quyền làm chủ lương tâm và đạo đức của chính mình, không ngừng vượt lên sự cám dỗ và trói buộc của vật chất cùng dục vọng, để nội tâm nối thông với chân lý bao la của thế giới bên ngoài.
Nếu một ngày kia quốc độ vĩ đại này mất hết mọi dinh dưỡng tinh thần nuôi dưỡng niềm hy vọng ấy, nó sẽ biến thành một cái túi da đầu hàng trước vật chất tiền bạc. Một đế quốc trống rỗng như thế chẳng bao lâu sẽ diệt vong. Dù muốn dù không, thế giới đã gửi gắm rất nhiều hy vọng nơi Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Vậy đất nước này đã phản ứng như thế nào trong cuộc chiến toàn diện với Trung Cộng?
- Tiếp theo kỳ trước
6. Hậu quả của việc nhượng bộ trên giá trị phổ quát tự do – nhân quyền
6.1. Nguyên tắc của kinh tế tự do hoàn toàn không dung hợp với lao động nô dịch
Dưới sự cám dỗ lợi ích của Trung Cộng, phương Tây nhắm mắt làm ngơ trước những gì Trung Cộng làm, không ngừng nhượng bộ trên giá trị phổ quát về tự do và nhân quyền. Giới sản nghiệp phương Tây tiếp tục đối mặt sự xung kích của những sản phẩm giá thành thấp đến từ môi trường sản xuất tồi tệ của Trung Quốc. Ngoài các trường hợp công ty vốn ngoại mua chuộc quan chức địa phương để chèn ép nhân viên mà chúng ta đã nói ở phần trước, còn có những sản phẩm nô công giá thành bằng không đến từ nhà tù hoặc các trại lao động cải tạo.
Dưới nền thống trị của Trung Cộng, cơ quan công an không cần qua tòa án xét xử định tội là có thể giam giữ lâu dài và cưỡng bức lao động nghi phạm (bao gồm những công dân tuân thủ pháp luật bị bắt phi pháp vì ngôn luận, tín ngưỡng). Tháng 6 năm 2012, các học viên Pháp Luân Công đã công bố tư liệu từ nhân chứng trực tiếp về việc bị nô dịch trong thời gian bị lao giáo phi pháp tại Trại Lao động Cải tạo Nữ số 1 tỉnh Sơn Đông:
Toàn là những việc người bên ngoài không muốn làm: bẩn, loạn, độc
Lao động nô dịch và sản phẩm gia công của trại lao cải quả là muôn hình vạn trạng, ví như nắp chai dùng cho vỏ chai bia, dán nhãn cho xưởng thuốc, gia công túi giấy xách tay, hộp bánh trung thu, động vật mô phỏng như ngựa, rùa, dê, đồ chơi thú nhồi bông, cây thông Noel, chai thủy tinh, dụng cụ tình dục người lớn của Nhật Bản (trại lao cải sợ bị phanh phui nên loại sản phẩm này chỉ gia công trong phạm vi khá nhỏ), v.v.
Những sản phẩm này thường có các đặc trưng sau: làm thủ công, cường độ lao động lớn, là công việc thâm dụng nhân công. Trại lao cải đối đãi người bị giam như máy móc, hoàn toàn không suy xét sức chịu đựng sinh lý và nhu cầu của con người.
Việc trại lao cải nhận toàn là việc người bên ngoài không muốn làm: bẩn, loạn, độc. Ví như việc nhồi một loại bông xơ cho thú đồ chơi cỡ lớn, loại vật liệu ấy bụi bay mù mịt, người ngồi giữa dù không cử động cũng dính đầy người, phân xưởng quanh năm bao trùm trong một màn sương bụi lông tơ xám mịn, đầu mặt đều phủ kín. Khoảng năm 2009, trại nữ số 1 Tế Nam có một đại đội quanh năm làm cây thông Noel, chai thủy tinh, v.v. (về sau sợ phạm nhân dùng thủy tinh làm bị thương người khác hay chính mình nên không dám nhận nữa), đó là việc còn bẩn hơn cả nhồi đồ chơi. Làm không xong thì đến giờ ăn cơm cũng phải làm, chẳng biết là ăn cơm hay ăn độc.
Cường độ lao động của người bị nô dịch
Trại lao cải luôn tuyên truyền ra ngoài rằng không hề cưỡng bức người lao giáo làm việc, rằng môi trường lao động tốt đẹp thế nào, thuần túy là lời dối trá vô sỉ đê tiện! Người bị giam trong trại lao cải mỗi sáng khoảng sáu giờ bị buộc bắt đầu làm việc, mùa đông có thể lùi nửa tiếng (tôi nhớ không rõ lắm), tóm lại trời chưa sáng đã phải dậy. Buổi trưa và buổi tối mỗi bữa chỉ có nửa tiếng ăn cơm, thời gian còn lại toàn ở phân xưởng làm việc. Việc ít thì thường mười giờ tối nghỉ, việc nhiều thì làm đến sau mười một giờ rưỡi, thậm chí về đến phòng ngủ còn làm tiếp, có khi đến một, hai giờ sáng. Bất kể muộn thế nào, sáng hôm sau vẫn phải dậy trước sáu giờ đi làm như thường.
Trại lao cải có việc cố định quanh năm bốn mùa, chủ yếu là may và nhồi động vật mô phỏng cùng thú nhồi bông; những sản phẩm này thường là để xuất khẩu. Trại lao cải không mất bất kỳ chi phí lao vụ, thuế má nào, nên để nhét đầy túi riêng còn nhận rất nhiều việc theo mùa vụ; những việc này khối lượng lớn, thời hạn gấp, vô hình trung tăng mạnh cường độ lao động của người bị giam. Ví như dịp lễ Tết thì gấp hộp quà rồi dán bằng loại keo đặc biệt, đóng túi phúc đặc chế, gấp chữ Phúc, những thứ dùng cho ngày Tết; những ngày trước Tết ngày nào cũng làm đến nửa đêm về sáng, cả phòng ngủ sặc sụa một thứ mùi keo chẳng biết là keo gì.[42]
Những người cổ xúy toàn cầu hóa ngày nay, với tiêu chí là dòng chảy tự do của sản phẩm và tư bản, đều tuyên bố giữ vững nguyên tắc thị trường tự do. Thế nhưng, nguyên tắc thị trường tự do với lao động nô dịch lại hoàn toàn không dung hợp với nhau. Sự cạnh tranh bất công khi phớt lờ môi trường sản xuất của công nhân chẳng những xung kích thị trường việc làm của các khu vực khác, mà nhìn từ góc độ rộng hơn, sản phẩm của nó thường cũng không đạt tiêu chuẩn an toàn cần thiết, tổn hại sức khỏe người tiêu dùng và từ đó tổn hại thanh danh của nhà chế tạo. Ngoài ra, việc quan thương câu kết vắt ép công nhân cũng có tác dụng kìm hãm sự phát triển của chính thị trường tiêu dùng Trung Quốc, đi ngược mục tiêu lâu dài về phồn vinh kinh tế toàn cầu. Kẻ được lợi từ đó chỉ có thể là số ít quan chức và thương nhân, mà cái giá phải trả là sự tổn hại lâu dài đối với môi trường, nhân quyền, người tiêu dùng cùng uy tín mà thị trường dựa vào để vận hành hữu hiệu.
6.2. Vì giành lợi ích thương mại mà mặc nhiên dung túng Trung Cộng chà đạp nhân quyền
Adam Smith, người đặt nền tảng lý luận cho thương mại tự do, trong cuốn “Lý thuyết về Tình cảm Đạo đức” đã chỉ ra:
“Nếu ngay cả giữa những kẻ cướp và những kẻ sát nhân cũng tồn tại một hình thức cộng đồng nào đó, thì chí ít, như người ta vẫn thường nhận xét, chúng cũng phải kiềm chế việc cướp bóc và sát hại lẫn nhau. Bởi vậy, lòng nhân ái không phải là nền tảng duy trì sự tồn tại của xã hội, mà chính công lý mới là nền tảng ấy. Xã hội vẫn có thể tồn tại dù thiếu vắng lòng nhân ái, tuy đó chẳng phải là một trạng thái dễ chịu; nhưng một khi bất công trở nên phổ biến, xã hội tất yếu sẽ bị hủy diệt. Công lý chính là cột trụ chủ yếu nâng đỡ toàn bộ tòa kiến trúc xã hội. Nếu cột trụ ấy bị phá bỏ, thì cả tòa kiến trúc vĩ đại và đồ sộ của xã hội loài người – công trình mà việc dựng xây và gìn giữ nó, nếu có thể nói như vậy, dường như là mối quan tâm đặc biệt và thiết tha của Đấng Tạo Hóa Tự nhiên – sẽ tức khắc sụp đổ thành muôn mảnh.”
Từ sự bất công lan khắp Trung Quốc hôm nay, từ việc quan chức chuyển tài sản ra hải ngoại, từ cuộc đấu đá một mất một còn trong nội bộ, cho đến việc người nhà của quan chức tầng cao nhất vì lợi ích kinh tế mà trực tiếp cuốn vào án mạng, thì việc coi một chính quyền như thế là bạn đồng hành của thị trường tự do mà Adam Smith đề xướng là điều không thể tự biện minh nổi.
Phương Tây bị Trung Cộng cám dỗ, cho rằng muốn giành lợi ích thương mại từ thị trường tiêu dùng tiềm tàng của Trung Quốc thì phải áp dụng thái độ mặc nhiên dung túng đối với hành vi vi phạm pháp luật, chà đạp nhân quyền của Trung Cộng; vậy thì cùng với sự phá hoại pháp luật của quan chức Trung Cộng, môi trường thương mại và chế tạo cũng sẽ khó duy trì bền lâu, chỉ có thể dựa vào hối lộ quan chức để bù đắp sự mất mát của pháp quy và thành tín thương mại; chi phí giao dịch và kinh doanh cũng sẽ không ngừng tăng lên. Đúng như Adam Smith trình bày trong “Sự giàu có của các quốc gia”:
“Thương mại và các ngành sản xuất khó có thể phát triển thịnh vượng lâu dài ở bất kỳ quốc gia nào thiếu một nền tư pháp được vận hành ổn định; nơi người dân không cảm thấy tài sản của mình được bảo đảm; nơi việc thực hiện các cam kết trong hợp đồng không được pháp luật bảo vệ; và nơi người ta không thể tin tưởng rằng quyền lực nhà nước sẽ được thực thi một cách thường xuyên, theo đúng chức năng, để buộc những người có khả năng trả nợ phải thực hiện nghĩa vụ của mình.”[44]
6.3. Sự túng quẫn sau tấm màn “kỳ tích” kinh tế của Trung Cộng
Do sự thiển cận phổ biến của quan chức các cấp Trung Cộng cùng lòng tham quyền lực, tiền bạc, dưới sự thúc đẩy của việc gắn GDP với thành tích quan chức và duy trì ổn định xã hội, tai họa mà sự chà đạp pháp trị, phá hoại môi trường của nó mang đến cho nhân dân Trung Quốc cũng đã nổi rõ trong lĩnh vực kinh tế. Hãy để chúng ta xuyên qua tấm màn cái gọi là kỳ tích kinh tế mà Trung Cộng tuyên truyền, nhìn xem thực chất túng quẫn của nó.
GDP Trung Quốc liên tục tăng trưởng cao ở mức độ đáng kể là nhờ đầu tư kéo. Nhu cầu vốn nghiêm trọng của mô thức vận hành hiệu suất thấp này, sau khi khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 xảy ra, do ngành xuất khẩu duyên hải bị đánh mạnh mà càng trở nên nổi cộm. Cụ thể, Trưởng Ngân hàng Công thương Trung Quốc vào tháng 4 năm 2010 đã viết trên báo “Kinh tế Thế kỷ 21” chỉ ra rằng: nhìn từ giai đoạn phát triển hiện tại của Đại lục, kinh tế vĩ mô Trung Quốc cần giữ tốc độ tăng khoảng 8%, và ngân hàng cần cung cấp hỗ trợ vốn đầy đủ cho phát triển kinh tế thực thể. Thế nhưng, việc duy trì tỷ lệ tăng GDP khoảng 8% mỗi năm hoàn toàn không xuất phát từ toan tính hiệu quả kinh tế, mà xuất phát từ toan tính chính trị, lo sợ kinh tế chậm lại sẽ gây ra một loạt mâu thuẫn xã hội, nên đành đổ vào mở rộng tín dụng, bất chấp nguồn vốn liếng mà lấy nợ để đổi lấy tăng trưởng kinh tế.
Năm 2010, hãng xếp hạng Fitch khi đánh giá tăng trưởng tín dụng của Trung Quốc đã đi đầu chỉ ra rằng số liệu thống kê chính thức có khiếm khuyết, khiến tăng trưởng tín dụng và mức phơi nhiễm rủi ro tín dụng bị đánh giá thấp phổ biến. Ví như số liệu chính thức không đưa vào hành vi chứng khoán hóa tài sản phi chính thức ngày càng thịnh hành, tức việc đóng gói khoản vay ngân hàng thành sản phẩm đầu tư. Sau đó, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc vào tháng 4 năm 2011, khi công bố số liệu thống kê tài chính quý, đã lần đầu tiên công bố quy mô tài trợ xã hội (TSF) để phản ánh biến đổi thực chất của kết cấu tài trợ xã hội những năm gần đây, bao gồm sự mở rộng quy mô tài trợ của các cơ cấu tài chính phi ngân hàng.
Nhưng Fitch chú ý thấy vẫn còn một số hạng mục chưa được bao gồm trong phạm vi thống kê TSF, do đó số liệu của ngân hàng trung ương chưa thống kê trọn vẹn tổng quy mô tài trợ tín dụng chính thức lẫn ẩn tàng. Nếu tính cả các loại tín dụng như thư tín dụng, khoản vay của công ty tín thác trong nước, khoản vay của các cơ cấu tài chính phi ngân hàng trong nước khác, cùng khoản vay do ngân hàng Hồng Kông cấp, Fitch tính ra rằng sau khủng hoảng tài chính, từ năm 2008 đến 2011, tổng lượng tài trợ tăng bình quân 40% mỗi năm, cao hơn rất nhiều tốc độ tăng GDP khoảng 9% mỗi năm. Số liệu lịch sử của Fitch cho thấy mức tăng tín dụng với biên độ tương tự cũng thường xuất hiện vài năm trước khi ngành ngân hàng của các nước khác gặp khó khăn.
Đơn cử với các dự án đường sắt cao tốc ở Trung Quốc, sau khi tích lũy gần 2 nghìn tỷ khoản vay, đối mặt khó khăn vay nợ, công trường ngừng thi công diện rộng, rủi ro của việc dựa vào nợ thúc đẩy GDP đã nổi lên mặt nước. Số dự án Bộ Đường sắt Trung Quốc khởi công năm 2012 chỉ là 9, so với mục tiêu hoành tráng 70 dự án theo kế hoạch đầu năm 2011 thì đây là một độ hụt hẫng khổng lồ. Theo Bộ Đường sắt Trung Quốc công bố, tháng 1 năm 2012, đầu tư xây dựng cơ bản đường sắt cả nước chỉ đạt 8,7 tỷ tệ, giảm 76% so với cùng kỳ, đầu tư tài sản cố định đạt 12,2 tỷ tệ, giảm 70% so với cùng kỳ, lập mức thấp nhất tính từ năm 2009.
Tương ứng với yêu cầu cứng về tăng GDP là sự kháng cự tập thể do việc cưỡng chế trưng thu nhà đất của cư dân và sự phá hoại môi trường sinh tồn thành thị, nông thôn gây ra, cùng với chi phí duy trì ổn định không ngừng tăng và thủ đoạn đàn áp không ngừng leo thang theo đó. Do sự câm lặng của các chính phủ phương Tây, quan chức Trung Cộng các cấp, nhất là quan chức hệ thống chính trị pháp luật và tuyên truyền, việc chà đạp pháp trị và phong sát ngôn luận đối nội đã thành thói quen. Thủ đoạn đàn áp của họ thậm chí đã mở rộng đến cả người phương Tây tại Trung Quốc.
6.4. Bức chân dung “thời kỳ tốt nhất” của nhân quyền Trung Cộng dưới sự dung túng của phương Tây
Ngày 27 tháng 2 năm 2011, các phóng viên nước ngoài trú Bắc Kinh theo thông tin trên mạng đến Vương Phủ Tỉnh, Bắc Kinh đưa tin về cuộc tụ họp “Hoa nhài” khởi phát từ mạng, chịu gợi ý từ làn sóng dân chủ Trung Đông – Bắc Phi. Theo truyền thông nước ngoài đưa tin: ngoài cửa hàng McDonald’s Vương Phủ Tỉnh, người qua lại tấp nập; hiện trường bố trí đông đảo cảnh sát, thường phục, xe cảnh sát và chó nghiệp vụ.
Theo Hiệp hội Phóng viên Nước ngoài trú Hoa thống kê: hôm ấy, phóng viên của 16 cơ quan tin tức bị quấy nhiễu nghiêm trọng khi tác nghiệp tại khu vực Vương Phủ Tỉnh. Một phóng viên của hãng Bloomberg bị đánh đập dữ dội, hai người khác bị thương. Phóng viên của 9 cơ quan tin tức bị tạm giữ, thời gian tạm giữ từ 30 phút đến 4 tiếng không đều. Ảnh chụp, tư liệu ghi hình và ghi âm của họ phần lớn bị cảnh sát xóa.[48]
Ngày 28 tháng 2, Đại sứ Mỹ ở Trung Quốc gặp một số phóng viên Mỹ và phóng viên nước ngoài khác bị cảnh sát Trung Quốc tạm giữ hoặc quấy nhiễu, sau đó ra tuyên bố trên trang mạng đại sứ quán bày tỏ: “Kiểu quấy nhiễu và đe dọa này là không thể chấp nhận, và khiến người ta bất an sâu sắc.”[49] Cùng ngày, Phái đoàn Liên minh châu Âu ở Trung Quốc cũng ra tuyên bố bày tỏ quan ngại. Tuyên bố yêu cầu nhà đương cục Trung Quốc tôn trọng quyền tự do đưa tin của người làm báo nước ngoài, và bảo đảm an toàn thân thể của họ trong thời gian tác nghiệp.
Tại buổi họp báo thường lệ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 3 tháng 3, khi phóng viên nước ngoài hỏi việc họ bị cảnh sát đối xử bạo lực ngày 27 tháng 2 rốt cuộc vi phạm điều luật nào của Trung Quốc, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Khương Du đáp: “Đừng lấy pháp luật làm lá chắn.” Khương Du còn tuyên bố: “Thực chất vấn đề là có kẻ chỉ mong thiên hạ đại loạn, muốn gây chuyện ở Trung Quốc. Với kẻ ôm động cơ như thế, tôi nghĩ pháp luật nào cũng không bảo vệ nổi hắn.”
Cách nói “đừng lấy pháp luật làm lá chắn” của Khương Du tự mâu thuẫn với tuyên bố “y pháp trị quốc” (trị nước theo pháp luật) của chính quyền Trung Quốc, khiến người ta hoài nghi thành ý thực hành “pháp trị” của nó.[50]
Vài ngày sau, tại buổi họp báo kỳ họp thứ 4 Nhân Đại toàn quốc khóa 11 ngày 7 tháng 3, lại có phóng viên nước ngoài yêu cầu hồi đáp về việc phóng viên bị đánh, v.v.. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Cộng bấy giờ Dương Khiết Trì, hoàn toàn bất chấp uy tín của chính phủ một nước lớn, khi trả lời đã một mực chối phăng, tuyên bố “không tồn tại vấn đề cảnh sát đánh phóng viên nước ngoài”, ngược lại còn răn dạy phóng viên nước ngoài trú Hoa “không mong bất kỳ ai không có việc lại kiếm việc, không có chuyện lại sinh chuyện”.[51]
6.5. Obama may mắn được nếm sự đàn áp ngôn luận của Trung Cộng
Mang ý vị mỉa mai là: đến cả Tổng thống Mỹ Obama cũng may mắn được nếm sự phong tỏa dư luận và đàn áp ngôn luận của Trung Cộng. Khi sắp xếp buổi gặp gỡ đối thoại giữa Obama với sinh viên thanh niên Thượng Hải trong chuyến thăm Trung Quốc tháng 11 năm 2009, Trung Cộng áp dụng nhiều biện pháp phòng ngừa: Nhà Trắng yêu cầu số người đối thoại là 1.500, Trung Cộng khăng khăng hạn chế trong vòng 500 người; Nhà Trắng yêu cầu Đài Truyền hình Trung ương phát sóng toàn quốc, Trung Cộng không chịu; Nhà Trắng không muốn có người dẫn chương trình, Trung Cộng khăng khăng phải có một người. Nhà Trắng cuối cùng nhượng bộ: chỉ đối thoại với các thanh niên được chỉ định, chỉ phát qua kênh truyền hình địa phương của Thượng Hải; truyền phát trên mạng cũng chỉ có chữ mà không có hình.[52]
Một tháng sau, tại Hội nghị thượng đỉnh khí hậu Copenhagen, bản thân Obama càng trực tiếp trải nghiệm lối “một mình một tiếng” của quan chức Trung Cộng. Ai cũng biết, để theo đuổi GDP, đông đảo quan chức không tiếc hủy hoại núi sông, làm ô nhiễm sông ngòi, coi bảo vệ môi trường là sự trói buộc không cần thiết, thậm chí có quan chức Trung Quốc cho rằng đề tài khí hậu, môi trường là chiến lược của phương Tây bao vây Trung Quốc. Đoàn đại biểu Trung Cộng vừa không muốn năm sau khởi động thương thảo điều ước có sức ràng buộc pháp lý, vừa sợ bị chỉ trích phá hoại việc các bên đạt hiệp nghị, bởi Trung Cộng đã là đối tượng phê bình của một số quốc đảo nghèo nhất thế giới đang lo biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng đe dọa sự sinh tồn của họ. Tại một cuộc thảo luận do Trung Quốc cùng vài nền kinh tế mới nổi khác chủ trì, một trưởng đoàn đàm phán Trung Cộng cấp phó bộ trưởng chỉ tay vào mặt Obama, mặt đỏ tía tai mà phản bác phương án khí hậu của ông; đến nỗi Ôn Gia Bảo ngồi tại chỗ phải mời vị quan chức Trung Cộng này ngồi xuống nói, rồi bảo phiên dịch đừng dịch lời của vị quan chức cấp phó bộ trưởng ấy. Khi vị quan chức này lại lên giọng lần nữa, Ôn Gia Bảo dứt khoát không thèm để ý đến ông ta nữa.[53]
6.6. Qua bàn tay đóng gói của Phố Wall, doanh nghiệp trung ương Trung Cộng nhận đầu tư quốc tế
…….
Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn2.net/van-hoa/su-that-ve-giang-trach-dan-12-3-vinh-quang-va-lam-lo-cua-hop-chung-quoc-hoa-ky.html



Bình luận