“Hợp chúng quốc Hoa Kỳ” từng một thời là hy vọng của nhân loại. Trong lý niệm của các vị cha lập quốc Hoa Kỳ tỏa rạng ánh sáng của văn minh cổ xưa, dù nó có một phần quan tâm đến việc giải quyết vấn đề vật chất, nhưng nỗi khát khao tự do mãi mãi cao hơn mọi khao khát hiện thực. Hàm nghĩa căn bản nhất của thứ tự do này là: mỗi người đều có quyền làm chủ lương tâm và đạo đức của chính mình, không ngừng vượt lên sự cám dỗ và trói buộc của vật chất cùng dục vọng, để nội tâm nối thông với chân lý bao la của thế giới bên ngoài.

Nếu một ngày kia quốc độ vĩ đại này mất hết mọi dinh dưỡng tinh thần nuôi dưỡng niềm hy vọng ấy, nó sẽ biến thành một cái túi da đầu hàng trước vật chất tiền bạc. Một đế quốc trống rỗng như thế chẳng bao lâu sẽ diệt vong. Dù muốn dù không, thế giới đã gửi gắm rất nhiều hy vọng nơi Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Vậy đất nước này đã phản ứng như thế nào trong cuộc chiến toàn diện với Trung Cộng?

4. Giá trị lập quốc của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

4.1. Các vị cha lập quốc

Có người Trung Quốc đến Mỹ, cảm khái vô hạn nói: “Nhóm quốc phụ này của nước Mỹ, những con người như thế, sinh ra được một người đã chẳng dễ; nơi này sao vận may đến thế, lại sinh ra cả một nhóm”.

Những người năm xưa tham dự quyết định nền độc lập của nước Mỹ, ai nấy đều không tầm thường. Bất kể là Washington, Jefferson, hay Franklin và Lincoln, tất cả những vị cha lập quốc này đều có một điểm chung: họ đều là những vĩ nhân được dân chúng ngưỡng vọng trong lòng, là những vĩ nhân từ đầu đến cuối bảo vệ đạo đức.

Mỹ đức của George Washington thể hiện ở chỗ làm sao thông qua thân xác bên ngoài của con người mà thể hiện sức mạnh đạo đức bên trong. Đó là tinh thần hiến thân cống hiến cho phúc chỉ nhân loại mà mỗi chúng ta đều có thể tìm thấy trên chính mình; là quan niệm đạo đức tự hoàn thiện, vừa kỳ vọng vừa thân hành thực hiện.

Thomas Jefferson từ năm 1786 đã thúc đẩy bang Virginia thông qua “Đạo luật Tự do Tôn giáo” do ông khởi thảo, chỉ ra: “Những quan điểm của con người không phải là đối tượng của chính quyền dân sự, cũng không thuộc thẩm quyền quản lý của chính quyền.” Những nguyên tắc được xác lập trong đạo luật này đã góp phần đặt nền tảng tư tưởng và pháp lý cho các quy định về tự do tôn giáo trong Tu chính án thứ nhất thuộc Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill of Rights) của Hiến pháp Hoa Kỳ.

Nguyên nhân nước Mỹ có thể sinh ra cả các vị cha lập quốc

Năm 1776, một nhóm người theo đuổi tự do tín ngưỡng, vượt núi cao đất xa đến Bắc Mỹ hoang vu, rời xa thế giới châu Âu cổ xưa, trong môi trường khoan dung nhất mà thấm sâu sự khải ngộ của Thượng Đế, sáng tạo nên sự theo đuổi tinh thần mới, và từ đó kiến lập quốc độ mới cùng văn minh nhân loại đương đại.

Washington nói: “[Là người Mỹ,] các bạn yêu tự do tha thiết. Tình yêu tự do đã ăn sâu vào trái tim các bạn, đến mức tôi không cần đưa ra thêm bất kỳ lời khuyên nào để củng cố hay khẳng định sự gắn bó ấy.”

Nhìn suốt lịch sử nước Mỹ, hiếm có mấy người nắm trọng quyền như Washington mà dùng quyền lực trong tay thỏa đáng, đúng mực, khiêm cung đến thế. Bởi bản tính thiện lương nhất của những vĩ nhân này nói cho họ biết: quyền lực trong tay đến từ Đấng Sáng Tạo, là để phục vụ đại chúng cho đến toàn nhân loại.

Mỹ đức tự tu hành thể hiện trên thân các tiên hiền dù ở phương Đông hay phương Tây đều ánh chiếu truyền thống viễn cổ; bất kể tiếng nói ấy ngày nay bị hậu nhân lãng quên mà yếu ớt thế nào, chúng ta vẫn có thể từ sâu thẳm nội tâm nghe ra đó là tinh thần phổ biến nguyên sơ của nhân loại, là tiếng gọi trở về truyền thống vĩnh hằng, do Trời cao chỉ dẫn, của cuộc tìm tòi cảnh giới đạo đức cao thượng.

Washington, Jefferson, Franklin, Lincoln đều có lý niệm riêng của mình. Ở đây, khái niệm quốc gia không chỉ là một thực thể chính trị xã hội, mà còn là nơi hội tụ của linh hồn nhân loại. Vị Thượng Đế mà các ông nói tới không phải Thượng Đế của bất kỳ nhà thờ hay giáo phái tôn giáo nào, mà là Thượng Đế theo hàm nghĩa sâu sắc nhất, Đấng Tạo Hóa chân thực nhất trong vũ trụ cùng trong đời người.

Rõ ràng, các tiên hiền khai quốc của Mỹ không phải vì tư tâm và mục đích lấy mình làm trung tâm mà đổ máu hy sinh; họ cũng không đem cái xung động vật chất ấu trĩ không chút kiềm chế, bất kể thời gian, bất kể thủ đoạn, muốn gì đòi nấy, của chúng ta biến thành mục tiêu nỗ lực. Chúng ta không thể hiểu Hợp chúng quốc thành một thực thể xã hội, chính trị, kinh tế thuần túy bên ngoài, một Hợp chúng quốc như thế không thể bền lâu. Hợp chúng quốc chân chính thời lập quốc không dựa trên yêu ghét cá nhân, cũng không phải thỏa mãn dục vọng cá nhân, mà xuất phát từ tinh thần lương tri nhân loại.

Sử gia Mỹ Page Smith từng hỏi: “Giả như thật có một thứ gọi là ý thức Hợp chúng quốc độc đáo, thì nơi phát nguyên của nó ở đâu?” Ông viết: Sức mạnh căn bản nhất tạo hình tính cách người Mỹ là “sự lĩnh ngộ tối hậu về hàm nghĩa của vũ trụ cùng quan hệ giữa chúng ta và vũ trụ, nói gọn một câu, chính là sự lĩnh ngộ về hàm nghĩa của vũ trụ.”

4.2. Tổng thống George Washington

Tổng thống đầu tiên của Mỹ George Washington, trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống ngày 30 tháng 4 năm 1789, đã trình bày rất nhiều lý niệm lập quốc của ông.

Nương nhờ sức mạnh của Đấng Sáng Tạo

“Đã rằng đó là cảm nghĩ của tôi khi tuân theo tiếng gọi của công chúng mà nhậm chức vụ hiện tại, thì nhân dịp tuyên thệ nhậm chức này, nếu không nhiệt thành cầu xin Thượng Đế toàn năng sẽ là một việc rất không thỏa đáng. Ngài cai quản vũ trụ và chủ trì hội đồng của các quốc gia; sự thần trợ của Ngài có thể bù đắp mọi khiếm khuyết của con người. Nguyện Thượng Đế ban phúc cho một chính phủ do chính nhân dân Mỹ thành lập nhằm bảo vệ quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc của họ, để chính phủ ấy có thể thực hiện thành công những mục đích thiết yếu này, phù hộ các biện pháp hành chính của nền chính trị, dưới sự phụ trách của tôi, đều phát huy tác dụng thành công.

Tôi tin rằng, khi dâng lên Đấng Sáng Tạo vĩ đại của lợi ích công cộng và lợi ích tư nhân lòng sùng kính này, những lời này cũng đồng thời nói lên tiếng lòng của quý vị và đông đảo công dân. Không dân tộc nào có nghĩa vụ lớn hơn nhân dân Hoa Kỳ trong việc thừa nhận và tôn kính bàn tay vô hình đang dẫn dắt những công việc của con người. Trên tiến trình đi tới quốc gia độc lập, dường như mỗi bước đi của họ đều có dấu hiệu thiên hựu nào đó; Trong cuộc cải cách quan trọng vừa hoàn thành nhằm thiết lập hệ thống chính phủ liên bang thống nhất, chúng ta không thể không bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, cũng không thể không khiêm nhường mong đợi những phúc lành mà các sự kiện trong quá khứ dường như đã báo trước, thì việc hoàn thành cải cách thông qua sự suy nghĩ bình tĩnh và tán đồng tự nguyện của bao nhiêu tập đoàn khác biệt nhau, phương thức này khó lòng so được với phương thức mà đa số chính phủ áp dụng trong quá trình tổ chức. Vào bước ngoặt hiện nay, tôi nảy sinh những ý nghĩ này quả thực là cảm xúc sâu xa không tự kìm nổi.

Tôi tin rằng quý vị cũng sẽ đồng ý với tôi rằng không có những suy tưởng nào thích hợp hơn lòng biết ơn và niềm tin vào sự phù trợ của Ngài, để một chính phủ mới và tự do có thể khởi đầu hoạt động một cách tốt đẹp nhất.”

Tài năng, chính trực và lòng yêu nước của người được bầu

“Bản Hiến pháp vĩ đại, nó khiến quý vị hôm nay vui vầy tụ hội, nó quy định quyền hạn của quý vị, chỉ ra mục tiêu quý vị cần chú ý. Trong trường hợp như thế, cách làm thỏa đáng hơn, cũng phản ánh nhiệt tình trong lòng tôi hơn, không phải là đề xuất biện pháp cụ thể, mà là ca ngợi tài năng, chính trực và lòng ái quốc của những người được bầu, những người sẽ quy hoạch và áp dụng các biện pháp ấy. Từ những phẩm cách cao quý này, tôi thấy được sự bảo đảm đáng tin cậy nhất: Đầu tiên, không một định kiến hay sự thiên vị địa phương nào, không một quan điểm riêng biệt hay sự thù địch đảng phái nào có thể làm sai lệch cái nhìn toàn diện và công bằng cần có trong việc chăm lo cho cộng đồng rộng lớn gồm nhiều địa phương và những lợi ích khác nhau này.”

Lấy đạo đức cá nhân làm nền tảng, mong muốn được lòng dân

“Thứ hai, những chính sách của quốc gia sẽ được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc trong sáng và bất biến của đạo đức cá nhân; và tính ưu việt của một chính phủ tự do sẽ được thể hiện qua những phẩm chất có thể giành được tình cảm yêu mến của người dân và sự kính trọng của toàn thế giới. Tình yêu đất nước tha thiết khiến tôi vô cùng vui mừng khi hướng tới viễn cảnh ấy. Bởi không có chân lý nào được xác lập vững chắc hơn điều này: theo trật tự và quy luật của tự nhiên, giữa đức hạnh và hạnh phúc, giữa bổn phận và lợi ích, giữa những nguyên tắc chân chính của một chính sách trung thực, cao thượng và những thành quả bền vững của sự thịnh vượng, hạnh phúc chung, luôn tồn tại một mối liên hệ không thể tách rời.

Chúng ta cũng phải tin rằng không một quốc gia nào có thể mong nhận được sự phù hộ của Thượng Đế nếu coi thường những quy tắc vĩnh cửu về trật tự và lẽ phải mà chính Ngài đã thiết lập. Bởi việc gìn giữ ngọn lửa thiêng liêng của tự do và vận mệnh của mô hình chính thể cộng hòa được xem là đang phụ thuộc sâu sắc, thậm chí mang tính quyết định cuối cùng, vào cuộc thử nghiệm chính trị được giao phó cho nhân dân Hoa Kỳ.”
…

“Tôi muốn một lần nữa khiêm nhường cầu nguyện với Đấng Tạo Hóa nhân từ. Bởi Ngài đã rộng lòng ban cho nhân dân Mỹ cơ hội thảo luận và cân nhắc trong hoàn cảnh hoàn toàn thanh bình, cùng tinh thần đồng thuận chưa từng có trong việc lựa chọn một hình thức chính phủ nhằm bảo đảm sự bền vững của Liên bang và nâng cao hạnh phúc của nhân dân. Tôi cầu nguyện rằng sự phù hộ thiêng liêng của Ngài cũng sẽ được thể hiện rõ ràng qua tầm nhìn rộng mở, những cuộc thảo luận ôn hòa, thận trọng và những quyết sách sáng suốt, bởi chính những điều ấy là nền tảng thiết yếu cho sự thành công của chính phủ này.”

Cảnh báo về những dục vọng mãnh liệt nhất trong tư tưởng nhân loại

Washington trong diễn văn từ biệt chức vụ của mình, nói đến nhiều lý niệm hơn:

“Giờ đây, tôi muốn xem xét vấn đề từ một góc nhìn bao quát hơn và trịnh trọng cảnh báo các bạn về những tác hại của thói bè phái nói chung. Thật không may, thói bè phái ấy vốn gắn liền với bản tính con người, bắt nguồn từ những cảm xúc và đam mê mãnh liệt nhất trong tâm trí chúng ta. Nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau trong mọi chế độ chính quyền, dù ít nhiều bị kiềm chế, kiểm soát hay hạn chế. Nhưng trong những chính thể dựa trên quyền lực nhân dân, tinh thần ấy bộc lộ mạnh mẽ nhất và thực sự là kẻ thù nguy hiểm nhất của những chính thể ấy… Nó còn mở đường cho sự can thiệp và tha hóa từ nước ngoài, khiến những ảnh hưởng ấy dễ dàng xâm nhập vào chính quyền thông qua những đam mê đảng phái. Do đó, chính sách và ý chí của một quốc gia có thể bị đặt dưới sự chi phối của chính sách và ý chí của quốc gia khác.”

Tôn giáo và đạo đức là trụ cột không thể thiếu

“Trong tất cả những phẩm chất và tập quán góp phần tạo nên sự thịnh vượng về chính trị, tôn giáo và đạo đức là những trụ cột không thể thiếu. Người làm chính trị, cũng như người có đức tin thành kính, đều phải tôn trọng và trân quý chúng.

Chúng ta cũng cần thận trọng trước giả định rằng đạo đức có thể được duy trì mà không cần đến tôn giáo. Dù có thể thừa nhận ảnh hưởng của nền giáo dục tinh tế đối với những tâm trí có đặc điểm riêng biệt, cả lý trí lẫn kinh nghiệm đều không cho phép chúng ta kỳ vọng rằng đạo đức của cả dân tộc vẫn có thể được duy trì khi các nguyên tắc tôn giáo bị gạt bỏ.

Về cơ bản, có thể khẳng định rằng đức hạnh hay đạo đức là một động lực thiết yếu của chính quyền dựa trên quyền lực nhân dân. Nguyên tắc này cũng đúng, với mức độ khác nhau, đối với mọi hình thức chính quyền tự do.”

Đề phòng sư tha hóa đến từ ảnh hưởng của nước ngoài

“Một dân tộc tự do phải luôn cảnh giác trước những thủ đoạn thâm hiểm của ảnh hưởng nước ngoài (hỡi đồng bào, tôi tha thiết mong các bạn tin điều này), bởi lịch sử và kinh nghiệm đã chứng minh rằng ảnh hưởng nước ngoài là một trong những mối đe dọa nguy hại nhất đối với chính thể cộng hòa. Nhưng sự cảnh giác ấy, muốn có hiệu quả, phải được duy trì một cách công bằng, không thiên vị. Nếu không, chính sự cảnh giác ấy sẽ trở thành công cụ phục vụ cho ảnh hưởng mà chúng ta muốn tránh, thay vì là phương tiện bảo vệ chúng ta khỏi ảnh hưởng đó.

Việc quá thiên vị một quốc gia và quá căm ghét một quốc gia khác khiến những người chịu tác động của các tình cảm ấy chỉ nhìn thấy hiểm họa từ một phía, trong khi che giấu, thậm chí tiếp tay cho những thủ đoạn gây ảnh hưởng từ phía còn lại. Những người yêu nước chân chính chống lại âm mưu của quốc gia được thiên vị lại dễ bị nghi ngờ và căm ghét; trong khi những kẻ làm công cụ hoặc bị quốc gia ấy lợi dụng lại chiếm được sự tán thưởng và lòng tin của nhân dân, để rồi đem lợi ích của chính nhân dân mình ra đánh đổi.

Nguyên tắc chỉ đạo quan trọng trong quan hệ của chúng ta với các quốc gia khác là: trong khi mở rộng quan hệ thương mại, chúng ta nên duy trì càng ít ràng buộc chính trị với họ càng tốt. Những cam kết đã được thiết lập phải được thực hiện với thiện chí và sự trung thực tuyệt đối. Nhưng chúng ta nên dừng lại ở đó.”

“Điều đó còn mở đường cho ảnh hưởng và sự tha hóa từ nước ngoài, khiến những ảnh hưởng ấy dễ dàng thâm nhập vào chính quyền thông qua những đam mê bè phái. Do đó, chính sách và ý chí của một quốc gia sẽ bị đặt dưới sự chi phối của chính sách và ý chí của quốc gia khác.”

Không được ảo tưởng về quốc gia khác

“Xét về chính sách, tinh thần nhân đạo và lợi ích quốc gia, chúng ta nên duy trì quan hệ hòa thuận và giao lưu rộng mở với tất cả các quốc gia. Ngay cả chính sách thương mại cũng phải dựa trên nguyên tắc công bằng và không thiên vị: không tìm kiếm cũng không dành cho bất kỳ quốc gia nào những đặc quyền hay ưu đãi riêng biệt; tôn trọng sự phát triển tự nhiên của thương mại, khuyến khích mở rộng và đa dạng hóa giao thương bằng những biện pháp ôn hòa, không cưỡng ép…

Hãy luôn ghi nhớ rằng: thật thiếu sáng suốt khi một quốc gia mong đợi những ân huệ vô tư, không vụ lợi từ một quốc gia khác; bởi để nhận được những ân huệ như vậy, quốc gia ấy phải đánh đổi một phần nền độc lập của mình… Không có sai lầm nào lớn hơn việc trông đợi hoặc đặt tính toán của mình vào những ân huệ thực sự vô tư giữa các quốc gia. Đó là một ảo tưởng mà kinh nghiệm phải giúp chúng ta nhận ra, và lòng tự trọng chính đáng phải khiến chúng ta từ bỏ.”

4.3. Tổng thống Thomas Jefferson

Thomas Jefferson, ngày 4 tháng 3 năm 1801, trong diễn văn nhậm chức Tổng thống Mỹ, với lời kêu gọi “Hỡi đồng bào, chúng ta hãy đồng tâm nhất trí, đoàn kết một lòng”, đã bày tỏ lý niệm lập quốc của ông.

Chúng ta có phẩm cách cao thượng, không thể dung nhẫn sự sa đọa của các quốc gia khác

“Chúng ta có phẩm cách cao thượng, không thể dung nhẫn sự sa đọa của các quốc gia khác; đất nước được ưu ái của chúng ta, bờ cõi đủ dung nạp con cháu muôn đời; chúng ta nhận thức đầy đủ rằng trong việc phát huy tài năng cá nhân, lấy cần lao đổi lấy thu nhập, được đồng bào tôn kính và tin cậy, mọi người đều hưởng quyền bình đẳng, nhưng sự tôn kính và tin cậy ấy không xuất phát từ dòng dõi hay xuất thân, mà từ hành vi của chúng ta và sự phán xét của đồng bào.”

Chúng ta được tôn giáo nhân từ khai sáng

“Chúng ta được tôn giáo nhân từ khai sáng: dù giáo phái khác nhau, hình thức mỗi khác, nhưng chúng đều dạy người chính trực, chân thành, tiết chế, biết ơn và nhân ái; chúng ta thừa nhận và sùng kính Thượng Đế toàn năng, và thiên ý cho thấy Ngài vui lòng khiến con người nơi đây được hạnh phúc, mai sau còn được nhiều hạnh phúc hơn. Chúng ta có những phúc lành này rồi, còn cần gì nữa mới có thể khiến chúng ta trở thành một dân tộc hạnh phúc và hưng thịnh? Hỡi các công dân, chúng ta còn cần một điều: đó là một chính phủ hiền minh mà tiết kiệm, ngăn người ta làm hại lẫn nhau, để họ tự do quản lý thực nghiệp và theo đuổi sự tiến bộ của mình, đồng thời không tước đoạt thành quả lao động của con người. Đây chính là tinh túy của một chính phủ tốt, đây cũng là điều tất yếu để chúng ta đạt tới hạnh phúc viên mãn.”

Nguyên tắc cơ bản của chính phủ là gì?

“Hỡi các công dân, tôi sắp thực hiện chức trách; những chức trách này bao gồm tất cả những gì các bạn trân quý; vì vậy, các bạn nên hiểu điều tôi coi là nguyên tắc cơ bản của chính phủ là gì, những nguyên tắc nào sẽ làm căn cứ cho việc điều hành chính quyền. Tôi sẽ cố trình bày vắn tắt, chỉ nói nguyên tắc chung, không nói các hạn định của chúng: thực hành công lý bình đẳng và chân chính đối với mọi người, bất kể địa vị hay tín ngưỡng tôn giáo hoặc quan điểm chính trị; chung sống hòa bình, qua lại thương mại, hữu hảo chân thành với mọi quốc gia, mà không bị ràng buộc bởi những liên minh phức tạp với bất kỳ quốc gia nào…

Trí tuệ của các bậc tiên triết và máu tươi của các anh hùng đều từng cống hiến cho việc thực hiện những nguyên tắc này; những nguyên tắc này nên là tín điều chính trị của chúng ta, sách giáo khoa giáo dục công dân, đá thử vàng kiểm nghiệm công việc của những người chúng ta tín nhiệm. Nếu chúng ta vì sai lầm hay kinh hoảng nhất thời mà rời bỏ những nguyên tắc này, thì hãy mau quay đầu, trở lại con đường lớn duy nhất dẫn tới hòa bình, tự do và an toàn.”

Quan niệm xã hội của Jefferson lấy sự tu dưỡng đạo đức nội tâm của mỗi cá thể làm tiền đề

Với Jefferson, mục đích của chính phủ tự chủ không phải thỏa mãn tư dục, mà là sự thể hiện của ý chí tự do của chúng ta. Giữa hai điều này có khác biệt một trời một vực; sự hiểu lầm về hàm nghĩa của “tự do” hiện đang đe dọa những giá trị nền tảng của Hợp chúng quốc, và là một trong nhiều lý niệm bị xuyên tạc nghiêm trọng.

Jefferson từng viết:

“Chúng ta tin rằng con người là sinh vật có lý trí, được tự nhiên ban cho những quyền lợi và một cảm quan chính nghĩa bẩm sinh; con người có thể được ngăn ngừa khỏi điều sai trái và được bảo vệ trong lẽ phải, bằng những quyền lực có giới hạn, được giao phó cho những người do chính mình lựa chọn, và buộc những người ấy phải làm tròn chức trách theo ý chí của mình.”

Jefferson khẳng định sự tồn tại của cảm quan chính nghĩa và năng lực hướng thiện trong tâm hồn nhân loại. Do mỗi quyền lợi đều gắn liền với khả năng thực thi ý chí của con người, nên chỉ trên tiền đề thừa nhận lý trí và cảm quan chính nghĩa của con người mới có thể tin tưởng trao cho mỗi người những quyền tự do rộng lớn đến thế. Những vấn đề vốn tưởng chỉ liên quan đến chính trị bên ngoài, những vấn đề tưởng chừng không cần tìm câu trả lời nơi sâu thẳm tâm hồn, nay đã không tránh khỏi dẫn chúng ta đi vào tận cội nguồn của đạo đức và nhân tính để truy căn tầm nguyên.

Sự thiếu vắng cảm quan đạo đức là sự suy giảm phẩm giá nghiêm trọng nhất

“Sự thiếu vắng hoặc khiếm khuyết cảm quan đạo đức ở một số người, cũng như sự thiếu vắng hoặc khiếm khuyết thị giác, thính giác ở những người khác, không chứng tỏ rằng đó là đặc trưng chung của cả loài người… Tôi chân thành tin tưởng… vào sự tồn tại phổ biến của bản năng đạo đức. Tôi cho rằng đó là viên trân bảo rực rỡ nhất trong nhân tính; sự thiếu vắng bản năng ấy còn làm suy giảm phẩm giá con người hơn cả những khiếm khuyết thể chất ghê gớm nhất.”

……..

Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn2.net/van-hoa/su-that-ve-giang-trach-dan-12-2-vinh-quang-va-lam-lo-cua-hop-chung-quoc-hoa-ky.html